|
|
HỌC TẬP và TÂM HỒN
*
HỌC TẬP và TÂM HỒN
Rèn luyện từ gốc tâm hồn phải nhờ học tập
Học tập là một phương tiện không thể thiếu, không thể nuôi dưỡng tâm hồn nếu không học. Nhưng ‘phương tiện’ mà nhiều khi lại đích thị là cái đích. Học tập được xếp vào vị trí đích của tu luyện vì học tập chính là bản thân chân thiện mĩ, là niềm vui ngộ giác, là đối tượng của say mê thanh cao và bất tận, là bản thân niềm say mê khám phá những bí ẩn cuộc sống, là sự hưởng thụ và gìn giữ vô vàn báu vật của cuộc đời. Nói gọn, học tập là chất lượng cuộc sống, còn là sự giải thoát phơi phới của tâm hồn. Vậy học tập cũng được xếp vào vị trí “mục tiêu” nói riêng và “lẽ sống” nói chung (đã bàn ở trên).
Nếu không hiểu cái đẹp và tác dụng ích lợi to lớn của học hành, không luôn coi học có tầm quan trọng hàng đầu, thì khó có được tri thức. Tri thức, trí tuệ càng sâu sẽ càng góp phần quan trọng nuôi dưỡng-nâng cao tâm hồn, tạo tinh thần phóng khoáng, tạo điều kiện thực hiện lẽ giao lưuphổ quát.
Học tập thì mới thực thi thuyết dung thông (giao lưu kết nối) được. Mà bản thân quá trình học tập thực chất cũng là quá trình dung thông? Đúng vậy. Ít nhất là giao lưu dung thông hai chiều thuận nghịch: tiếp nhận vào và gửi phát ra.
Tiếp nhận dòng giao lưu không chỉ ở trường lớp mà cả mỗi khi tò mò tự tìm tòi học hỏi. Tiếp nhận ấy có thể theo chiều dọc hay chiều ngang: nhậndòng giao lưu dọc (lịch đại) tức tiếp nhận từ quá khứ; và nhận dòng giao lưu ngang (đồng đại) tức tiếp nhận từ khắp mọi nơi (nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, thế giới phẳng hiện nay).
Còn phát ra dòng giao lưu nữa, nhiều khi chỉ là tiếp tục chuyển đi dòng giao lưu mới tiếp nhận trước đó. Một phần các kiến thức, tư duy, phẩm hạnh tiếp thu được (học hỏi được) là để truyền lại hoặc để dựa vào đó mà sáng tạo tiếp (tức có đóng góp mới các số liệu và ý kiến của riêng mình) tức phát ra dòng giao lưu, cũng như sự phản hồi trở ra tới mọi người (giao lưu ngang- đồng đại), có thể tới cả các thế hệ tiếp sau nữa (giao lưu dọc- lịch đại), nếu có thể.
Như vậy là giao lưu không chịu chỉ một chiều mà giao lưu có thuận nghịch, khép kín vòng giao lưu, có như thế mới trọn nhẽ, phải đạo, đúng luật.
Không những học, mà dạy cũng là giao lưu. Hơn nữa, nếu ở đây, trong sự dạy và học này, ngoài nội dung những điều học, giữa hai phía – người dạy và người học – còn có cả sự giao lưu về những mặt khác ví dụ giao lưu nhanh nhạy và đầy đủ về mức độ hiểu và về ấn tượng tiếp thu thì không những kết quả dạy và học mà cả trình độ sư phạm của thầy và trình độ học hỏi của trò cũng ngày càng hoàn hảo hơn lên mãi.
NGƯỜI NÀO CẦN HỌC VÀ CÓ THỂ HỌC?
Bất luận lứa tuổi nào, dù là thanh niên, dù đã cao tuổi, làm nghề gì, ở xứ nào cũng cần học. Và ai cũng thích hợp sự học, cũng có thể học, cũngđều có trong tầm tay mình khả năng để tự học, tự phát triển. Miễn là không quá lười, không ngại ngùng, không cầu toàn. Quá thông thái rồi, quá cao tuổi rồi thì không cần học hoặc ‘còn học làm gì’ nữa chăng? Không phải như vậy! Bất cứ ai, kể cả các bậc hiền minh sâu rộng đến đâu cũng không có thể hiểu biết tất cả, vẫn thích làm bạn với sự học. Đại thi hào Gớt từng khuyên “ngay cả thiên tài cực kì vĩ đại cũngkhông thể tiến xa nếu chỉ muốn lấy mọi thứ từ nội tâm của riêng mình”.
HỌC BAO LÂU? CHỌN HỌC GÌ?
Học là một quá trình không ngưng suốt dọc cuộc đời. Điều thật sự đáng sợ là ngưng học. Tri thức cần học phải phù hợp nhu cầu thực tiễn nghiệp vụ cấp thiết, đáp ứng vấn đề thời sự bức xúc. Chọn tri thức nào khả dĩ sớm biến thành năng lực và kịp vận dụng đúng chỗ để ứng phó với biết bao cục diện phức tạp. Học cả thực hành và lí luận (kim chỉ nam cho thực hành). Quan hệ giữa lí luận và thực hành, rồi giữa nói và làm cũng có thể tìm thấy trong ‘Cổ Ngữ’ xưa: “Muốn nói phải nghĩ đến làm “Muốn làm phải nhớ đến nói”
Chọn học ngay từ thực tế từng con người xung quanh, trong đó có những bạn bè ưu tú: rút ra những điều có thể học được. Càng nên học những kinh nghiệm rút ra từ những hoàn cảnh nào mà mình và họ đã phạm phải sai lầm, đó cũng là nguồn học quý mà ta thường quên.
Coi trọng cả học nói năng, luyện ngôn từ . Có thể nghĩ ngôn từ chỉ là bề ngoài, không là gốc-căn bản của con người? Trong nội dung ‘luyện gốc tâm hồn để làm người’ đang bàn có bao gồm sự tu luyện ngôn từ không? Khởi đầu, không nhất thiết phải có phần này: để đạt gốc tâm hồn nhân hậu, nếu ban đầu nói năng còn vụng về cũng không sao vì ‘tì vết đâu che mất ánh ngọc’, và bản chất nội tâm vẫn giàu sức thuyết phục hơn lời nói bên ngoài. Hơn nữa nên ít lời: ‘lắm lời nhiều chuyện’ thường kéo sang loại ‘tâm sự vô ích’ thậm chí chỉ gây thêm khó xử cho cả hai phía. Hoặc kéo sang loại ‘tâm sự lộ bí mật người vắng mặt’ chỉ càng dẫn tới không ít điều đáng tiếc.
Nhưng, về lâu dài lại rất cần luyện ngôn từ. Có hai cái lí. Một là, nếu không có lời nói thì công dụng của tâm không biểu đạt ra bên ngoài được, tâm hồn không mở rộng tác động được. Hai là, chính vì cái tâm nội tại là cái tâm tôn trọng tha nhân, và có trách nhiệm đối với mọi người nên không bao giờ có thể tự cho phép sơ suất thốt ra lời nói tuỳ tiện, thiếu suy nghĩ, xúc phạm... Cho nên đâu có thể coi nhẹ nói năng được, phải trau dồi ngôn từ , học ăn nói (và cách giao tiếp nói chung). Không nên nghĩ sao vội nói ngay, phải ‘quay lưỡi 7 vòng’ đã, suy nghĩ ki trước sau, nhiều mặt: “Gà ba lần vỗ cánh mới gáy, “người ba lần ngẫm nghĩ mới nói” Nhưng cái gốc vấn đề vẫn chỉ là một: vẫn từ tâm hồn trung thực, chứ không uốn mình theo động cơ thực dụng (bên ngoài). Những khi đàm luận, ta rất thận trọng tâm lí của người đối thoại. Đó chỉ là vì tâm của ta trọng thị con người, chứ tuyệt nhiên không vì đối phó. Do đó không chấp nhận nguỵ tạo, đạo đức giả hoặc chỉ theo xảo thuật tâm lí v.v…. Gặp đối tác mưu mô, cũng phải ‘lựa lời’, nhưng vì bản lĩnh, chứ không vì giả tạo cốt ‘nói dựa’ một cách hèn kém. Nếu đối tác là lương thiện và chân tình, thì không cho phép khách sáo, giả dối, phải rất chân tình. Qua mấy ví dụ trên, để thấy, bất luận Học gì cũng đều phải từ GỐC tâm hồn cả.
CHỌN HỌC GÌ NỮA? Chọn học tập DƯỠNG TÍNH (tu dưỡng tính nết). Điều này cao hơn và khó hơn một bậc so với học kiến thức. Học mà là luyện thành tập quán thuần thục. Ví dụ luyện tính tận tụy với bổn phận.Hãy làm tròn bổn phận trong mọi hoàn cảnh, tận tâm tận lực chăm chỉ hoàn thành công việc. Có thể coi đây là một trong những nội dung cần được học trước tiên vì là bửu bối bất biến dùng để ứng vạn biến trong sự nghiệp mỗi người chúng ta .
Rồi luyện tính đoàn kết hoà đồng. Nó bao gồm luyện tâm tính tránh gây gổ với xung quanh, tự trong lòng san bằng mọi xích mích; luyện trình độ giải quyết bất hoà nếu xảy ra; luyện cách giữ hoà khí với mọi người, nhưng chớ suồng sã; luyện cách làm cho đối phương hiểu rằng họ được lắng nghe, họ không hề bị coi thường mỗi khi có sự bảo lưu ý kiến v.v..
Luyện nếp suy tưởng, tự vấn, rút kinh nghiệm. Chọn nửa giờ mỗi ngày thành nếp như lời khuyên của A. Carrel, Lỗ Tấn. Có thể chọn ban đêm kiểu ‘nuôi dạ khí’ của Mạnh Tử, hoặc chọn sáng sớm - lúc này chẳng ai làm phiền, đầu óc còn sảng khoái.
Tính coi trọng sức mạnh tinh thần - thể chất (tâm-thể) thông qua quyết tâm giữ gìn và nâng cao sức khoẻ tâm-thể bằng kỉ luật rèn luyện, nếp sống không buông thả.
Và một ví dụ nữa về loại dưỡng tính hết sức quan trọng: Luyện tính quý trọng thời gian. Việc học tập này có đặc điểm là tự nó lại trực tiếp ích lợi cho việc ‘học tập không ngừng’. Bởi vì con người ta chỉ thu được kết quả học tập tốt khi biết sử dụng năng lực trí não trong từng khung thời gian nhất định mà mình có. Có thể nói mức kết quả học tập tỷ lệ thuận với mức quý trọng ngày giờ của mình. Mỗi giờ rỗi mà không xen kẽ, kết hợp học tập vào, không góp phần cụ thể cho kết quả học tập dù chỉ hiểu thêm một điều rất nhỏ thôi, thì đã uổng phí một giờ. ‘Học tập’ được cách biết tận dụng thời gian tốt nhất thì đạt kết quả nhiều nhất trong ‘học tập’. Cũngđạt kết quả nhiều nhất về sống phong phú hơn tức dài hơn, ‘sống trọn vẹn hiện tại’ hơn, biết tận hưởng ngày hôm nay, ngay giờ đang sống, luôn ý thức được là đang nỗ lực học hỏi, luôn tìm tòi tra cứu ngay những điều mà thực tiễn lúc đó cho thấy là cần phải biết mà chưa biết, không gác lại hôm sau.
Giành được thời gian nhờ chắt chiu và sử dụng có phương pháp nên sẽ an tâm tự học tập nghiên cứu không giới hạn, và cả học các nội dung luyện tính khác nữa. Không mảy may uổng phí thời gian, nên lúc nào cũnghọc thêm được một cái gì đó kể cả những giây phút mà hoàn cảnh cuộc đời buộc ta phải tạm dừng lại giẫm chân tại chỗ.
Chúng ta hãy quyết tâm nghiêm túc rèn luyện cho thành thói quen quý trọng thời gian, làm cho nó thành hẳn nếp sống bền vững của mình. Đến khi đó, ta dần hiểu thế nào là sống có tâm hồn, sẽ xót xa trước những cảnh đời không biết dùng thời gian làm gì cả, tới mức tìm cách “giết thời gian”(!), ta sẽ thấy xa lạ các lối sống ‘chỉ để ý ba chuyện tào lao’, ‘trong đầu óc chẳng có mảy may tư tưởng-mục tiêu nào đang đeo đuổi cả’, lối sống ‘hết hội hè, tiếp tân, lại sinh nhật, tiệc tùng liên miên’, ‘chỉ dạ hôị, xem phim, hát xướng, vũ trường, chơi bời, …’, đó là chưa nói nghiện ngập nữa. Có thể nói đây là một tiêu chí đơn giản dễ ứng dụng thực hành khi cần đánh giá nhanh một con người, ví dụ khi bạn trẻ tìm chọn người yêu, chọn bạn trăm năm chẳng hạn: hễ xét thấy ai đó không quý, ngược lại xả láng thời gian, thì có thể xa lánh ngay không thương tiếc.
Học tập tích cực, sâu sắc các mặt như nêu trên - đúng là khổ luyện, nhưng học tập cũng đẹp, vui, lí thú lắm chứ, góp phần chăm sóc, nuôi dưỡng tâm hồn ngày một cao đẹp, vui đời lên mãi. Kỳ tiếp: VUI ĐỜI
|
|