Tên thành viên:   Mật khẩu:   Đăng nhập tự động  Ẩn danh 



Tìm kiếm với từ khoá:


Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 22 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 22-10-2010, 05:07 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 

NHỮNG CẢM NHẬN VỀ CA DAO - TỤC NGỮ - HKT sưu tầm


[font=Arial] [align=center]Về Một Lời Ru Chia Ba[/align]
Người bình dân Việt Nam, trong lời ǎn tiếng nói dân gian và những khúc hát ru của mình, đã truyền miệng ngàn đời hàng hàng châu ngọc, nhưng không ít lời phân định là ca dao hay tục ngữ hoặc những "lời ru chia ba" - hài hoà cả ba thể loại trên.


Hai cặp lục bát dưới đây đã thấm vào lòng chúng tôi từ thuở còn nằm nôi, chính là một trong những lời ru - ca dao - tục ngữ cài đan, lồng ghép, tạo nên sự đa thanh, đa nghĩa, biểu cảm lạ lùng.


[align=center]"Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo
Muốn sang thì bắc Cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy"[/align]

Hai câu trên rõ ra lời ru con - lời ca dao yêu thương, ngậm ngùi, kể lể. Mẹ bồng con đi dọc bờ sông vắng. Muốn sang sông nhưng: "Đò Dọc quan cấm, đò ngang không chèo". Mẹ than cùng con, mẹ than đời mẹ. Giọng giãi bày, nghẹn ngào, ấm ức.


Hai câu dưới, hiển nhiên là tục ngữ nối theo, kết tinh bao trải nghiệm đắng cay suốt cuộc đời nổi nênh của mẹ. Có người hiểu câu 3: muốn sang trọng thì bắc cầu đẹp (lộng lẫy). Một số ý kiến khác: muốn sang (qua) sông thì phải bắc (làm) cầu để qua. Đặt trong vǎn mạch cả 4 câu. Chúng tôi nghiêng về cách kiểu thứ 2. Từ "sang" (động từ ) ở câu này đồng nghĩa cùng loại với từ "sang" trong câu đầu. Bởi mơ ước suốt đời của rmẹ là đứa con được sang bờ bên kia, vượt thoát dòng sông mênh mông đói nghèo, dốt nát.


So với nhiều câu tục ngữ nói về thầy (không thầy đố mày làm nên, một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy, cơm cha, áo mẹ công thầy..v..v..) hai câu này mượt mà duyên dáng hơn. Trong hình thức lục bát, nối tiếp tự nhiên từ hai câu ca dao giàu âm thanh (bồng bồng), hình ảnh (mẹ bế con đò dọc, đò ngang, cầu kiều...), tuy là lời ru lúc ẵm con mà chở nặng lời mẹ dạy con từ sớm, từ xa, người ta có thể truyền trao kinh nghiệm sống, ứng xử, nhưng để có học thức, có vǎn hoá, (hay chữ) nhất định không thể thiếu được vai trò của ông thầy.


Đó là lời bà mẹ Việt Nam nghèo, đảm đang, đặt cả niềm tin vào vị thế người dạy con mình, dẫu đời bao ngang trái, vẫn kiên dũng bắc cầu cho con qua sông, vượt lên nghèo đói lạc hậu.


Vậy, chỉ còn cách "bắc cầu mà nối", vì "dốt phải đi tìm thầy"! Không nên hiểu "sang" ở đây là "giàu sang" thì bắc "cầu kiều" (đẹp). Đây cũng chẳng phải là chiếc cầu nổi (phù kiều) hoặc trùng lặp ("cầu" - "kiều" chữ Hán). "Cầu Kiều" là chiếc cầu cao ("kiều", tiếng cổ còn có nghĩa là "cao") để cho đò dọc, đò ngang đều qua lại được. Cần phải cao, chắc để con bước lên đường học tập vững vàng.


Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học, "Không thầy đố mày làm nên", thậm chí "dốt nát đến đâu, học lâu cũng biết". Ở đây từ "thầy" chỉ có nghĩa người dạy học (thầy đồ, thầy giáo) - tấm gương mẫu mực. sáng ngời về đạo đức, học thức. Muốn thành người, muốn chữ tốt vǎn hay ắt phải tìm đến với thầy. ở xứ sông nước này, bắc cầu cũng cần như cần như cần ǎn, học, làm lụng (chính nhà giáo - nhà thơ hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã bắc hai chiếc cầu Nghênh Phong và Trường Xuân khi lui về ở ẩn). Thế kỷ này con cháu bắc cầu qua sông Hồng, sông Mã, sông Gianh, sông Hương rồi sẽ qua sông Tiền, sông Hậu. Muốn sang sông phải biết bắc cầu. Muốn học hành thành đạt, phải yêu quí sự uyên bác và lòng yêu trẻ của thầy. Cái lý tự nhiên giản đơn là vậy.


Cả hai câu đều kết cấu theo kiểu quan hệ điều kiện - giải thiết: Muốn A thì B. Nhưng kết luận sau thiên về giá trị tinh thần (yêu thầy). Từ "lấy" trong "lấy thầy" không bao giờ hàm ý "lấy làm chồng", mà chỉ biểu thị hướng của hành động nhằm mang lại kết quả thiết thực. Tất nhiên không phải là lấy được, lấy lệ. Giáo sư Nguyễn Thạch Giang cho biết có bản ghi là phải yêu lòng thầy. Chúng tôi nghĩ là có lý, đỡ gây hiểu lầm, nghĩa là yêu quý tấm lòng cao cả của thầy bằng cả tấm lòng. Xin chớ hiểu là lấy lòng, cho vừa lòng thầy, nịnh thầy.


Từ ý câu tục ngữ, chúng tôi nghĩ về "Tam giác sư phạm" Thầy - trò (con trẻ) - kiến thức (chữ); rộng hơn là mô hình liên kết giáo dục: gia đình - nhà trường, xã hội. người bình dân xưa đã hiểu sâu vai trò truyền bá đạo lý, trí thức, lễ và vǎn của các nhà giáo, đồng thời cũng biết thắt chặt mối liên hệ giữa các thành phần giáo dục.


Bốn câu mẹ ru con hay tự nói với mình? Mẹ nói với ta: người thấy rất xứng đáng được kính yêu vì là người chỉ đường, dẫn lối, giáo dục, giáo dưỡng mình hiểu biết, lao động, biết sống đẹp theo lẽ phải của cộng đồng, biết tự khẳng định. Còn mãi lời ru, lời biết ơn tất cả những ai hết lòng vì sự nghiệp đào tạo, giáo dục! Còn có giáo dục thì còn có thông minh, vǎn hoá, phát triển! Còn mãi trong ta, dẫu học đã thành, danh lập, vẫn nhớ về lời ru - giao thoa, hài hoà tục ngữ, ca dao.


[align=right]Trần Hồng Quang - Vǎn Đường[/align]
[/font]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Có 3 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Cao Nghiêm (22-10-2010, 05:12 pm), Nguyễn Đức Tùy (24-10-2010, 03:24 pm), Phong Trần (27-10-2010, 09:57 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 22-10-2010, 05:50 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Comic Sans MS][align=center] BÀI HÁT ĐẦU TIÊN CHO MỘT CON NGƯỜI
[/align]
[/font]

[font=Arial]
Hát ru

[/font]

Trich từ nguoivienxu

[align=justify]Hát ru là bài hát đầu tiên cho một con người mới cất tiếng khóc chào đời. Bài hát đó được cất lên từ nỗi sung sướng hay cơ cực, hân hoan hay buồn tủi... do chính người mẹ - người đã trực tiếp mang nặng đẻ đau sinh ra một hình hài. Điệu vỗ về ru ngủ ấy dường như không chỉ hòa tan trong sữa mẹ để nuôi con lớn lên từng ngày, mà khi còn trong bào thai, mẹ đã truyền từ cuống rốn điệu hát ru khi muốn tâm tình, khi âm thầm dỗ dành nựng nịu, khi mẹ còn hứa hẹn: "Nào, hãy ra đây với mẹ"; như bài hát ru của người mẹ Stiêng sau đây:[/align]

Hình ảnh

Nhà thơ Lê Giang

[align=center]Mẹ dỗ con, con ơi đừng khóc
Mẹ ru con, con ơi ngủ đi
Mẹ địu con trên tấm lưng gầy
Bươm bướm bay, bay vào giấc ngủ
Đậu lên mũi, mùi chuối chín cây
Con bươm bướm lại cất cánh bay
Đậu lên mũi, mùi thơm mía ngọt...[/align]
[align=justify]Trên tấm lưng gầy, mẹ địu con lên nương rẫy, mẹ vừa vãi hạt giống gieo trồng xuống đất, vừa gieo vào lòng tuổi thơ ý nghĩa sống của một con người. Rằng không phải con chim nào bay lên trời cũng đều là chim ưng, mà quạ, diều, chim cắt, chim cú cũng bay lên trời cao! Và khi mẹ vừa đưa võng vừa may vá, mẹ lại gửi theo đường kim mối chỉ trong chiếc tã lót cho con - một trong những khuôn phép ở đời:[/align]

[align=center]Ầu ơi... chim khôn chưa bắt đã bay.
Người khôn chưa nói giang tay đỡ lời.
ầu ơi... Trời còn khi nắng khi mưa.
Người ta cũng có sớm trưa thất thường.[/align]

[align=justify]Những người từng hát một đời bên bếp lửa, với đồng ruộng sau lưng, với dòng sông quê trước mặt, cho rằng trên đời này chỉ có ba bài hát: bài hát ru thứ nhất là bài hát ru bên nôi, bài hát ru thứ hai là bài hát khi mẹ mất con, còn bài thứ ba - đó là tất cả các bài hát còn lại. Có lẽ đúng như thế thật.[/align]

[align=justify]Chẳng mấy ai nghĩ rằng mình nên người là nhờ tiếng hát ru của mẹ. Và, cũng chẳng mấy ai nhớ câu ru nào mẹ đã ru mình. Nhưng, không ai sao lãng giọng hát của mẹ mình, hay tiếng cười hạnh phúc đưa dấu sắc lên cao, hoặc trầm buồn nhẫn nhục để lặn xuống một dấu huyền, dấu nặng như muốn chôn chặt tận đáy lòng.[/align]

[align=center]Ầu ơi... thương nhau bụi cỏ cũng ngồi
Đám tranh cũng lội, rừng chồi cũng bãng.[/align]
[align=justify]Tiếng ru bên nhà láng giềng, tiếng ru trong mái ấm thuở ấu thơ dìu dắt từng bước, từng bước đi lẫm đẫm cho tới lúc con người bé bỏng kia biết chạy nhảy vui đùa, vẫn đuổi theo mang máng nhớ một tình quê nơi chôn nhau cắt rốn:[/align]

[align=center]Chim than trái chín ăn xa,
Buồn tình nhớ gốc cây đa muốn về.[/align]

[align=justify]Người ta còn nói rằng, vô phước cho một người nào đó không hề được nghe câu ru của mẹ để dần dần được lớn lên, dần dần được trưởng thành. Tôi đã từng gặp bà Trần Thị Ba, 73 tuổi ở xã Trung Nhất, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang khi bà ngồi trên sạp tre, ru cháu ngoại trên chiếc võng đay. Trên võng cháu lim dim - dưới sạp tre con chó mực nằm cũng lim dim. Nghe bà cất tiếng, con heo nái đang ủi đất cũng chạy vào chui xuống sạp tre... ngủ ngon lành. Bà cười, bảo má dỗ một lúc "ba đứa" ngủ! Những người đi sưu tầm ca dao gặp má trưa hôm ấy nghe gió đồng hiu hiu quyện với câu ru khàn khàn đặc sánh:[/align]
[align=center]Quạ kêu dưới đám ruộng dài,
Anh mê theo gái nói hoài anh không nghe[/align]

[align=justify]Thì dường như cũng muốn lăn ra, châu đầu lại với nhau trên chiếc sạp tre - cái sân khấu trọn đời của bà để đánh giấc li bì trong cõi tu tâm, để bỗng chốc hóa thành trẻ thơ vô tội. Bà chỉ tay ra con đường bao quanh cái thế giới nhỏ nhoi buồn tủi của bà, mà lòng bà tự hào - trai tráng trong xóm này nên thân nên người đều là những trẻ thơ ngày xưa má giữ, má đút cơm, má dỗ ngủ, bằng cái nghề "đi ở giữ em" của má.[/align]


[align=justify]Năm 1989, Quận 10 (TP Hồ Chí Minh) tổ chức liên hoan hát ru. Người được giải nhất là một người đàn bà nghèo, cũng giống như bà Trần Thị Ba, sống bằng nghề "thương con nít" nghĩa là đi giữ em: sạch sẽ, trán cao, phúc hậu, chất phác - những đức tính của nghệ sĩ hát ru! Chỉ phải tội: Đất xấu làm hại kiếp hoa. Số nghèo làm hại con nhà thông minh. Đó là lần đầu tiên bà cầm micro, nhưng chẳng có chút gì ngượng nghịu, người bà lắc lư theo nhịp võng, dây micro đã hóa thành một đầu võng. Bà như ru cho nhân tình thế thái - bà ru, bà ru... đó nghèo đây cũng phận nghèo, đôi ta như bọt với bèo thương nhau. Bà ru như cơn gió tốc mái tranh nghèo, như con sóng xô chiếc xuồng của bà lật úp, bà như đang nhóm lửa, bà săn sóc ngọn lửa ấm, bà nựng nịu những trẻ thơ, bà dỗ dành, bà cười thật đôn hậu với những kẻ mới chào đời còn đang bị chói ánh sáng của trần gian. Bà diễn tả xuất thần dù bài ca của bà có thể bà đã hát bằng cả cuộc đời bà đã sống.[/align]
[align=justify]Khi công bố kết quả bà đoạt giải nhất, hàng trăm nam nữ thanh niên được bà ru trong "chiếc nôi" bên cạnh nhà hát Hòa Bình hiện đại đứng cả lên vỗ tay hoài. Họ vừa khám phá một điệu đời của tình mẹ chăng? Người nhận giải nhì là cô sinh viên sư phạm, đẹp, thùy mị, tóc dài, mí mắt óng ánh nhũ bạc. Thật cảm động biết bao và cũng chẳng khó lý giải chút nào.[/align]

[align=justify]Những người sưu tầm dân ca đã tìm thấy từng cụm hát ru, mà các bà mẹ đã xâu lại như xâu chuỗi ngọc, chuỗi ngọc cho lòng hiếu thảo với cha mẹ, chuỗi ngọc cho lòng biết ơn cội nguồn, cho nhân nghĩa ở đời; chuỗi ngọc để người yêu tặng người yêu...[/align]
[align=justify]Trên đất nước chúng ta, tiếng chị ru em, cha mẹ ru con, ông bà ru cháu... vẫn thảnh thót trong phum sóc, bản làng, vẫn mùi mẫn trong xóm vườn sầm uất hay ở một làng chài ven sông. Có thể trẻ thơ những nơi ấy thiếu thốn mọi bề, nhưng tiếng hát ru - phần thưởng quý báu của ông bà cha mẹ dành cho - các cháu ta không thiếu. Chúng ta cũng ước mong sao, hễ là trẻ thơ thì dù ở nông thôn hay thành thị, đều được hưởng tiếng hát ru của mẹ vất vả làm lụng; chiều xuống, trong mỗi gia đình đều âm vang tiếng hát ru con. Giờ phút sắp hết của một ngày là giờ đứa trẻ được gần mẹ, nô đùa với mẹ, cũng là giờ người mẹ được hạnh phúc gần con, được hát, được nựng con, được truyền tín hiệu đặc biệt từ lòng nhân ái, từ đức tính cao cả của người mẹ, và của tất cả những người ruột thịt trong gia đình.[/align]
[align=right]LÊ GIANG[/align]


Sưu tầm


Đầu trang
  
Có 1 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Phong Trần (27-10-2010, 09:57 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 22-10-2010, 06:24 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Arial][align=center]Điệu Hò ru con sống mãi với tuổi thơ [/align]


VÕ QUÊ



Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu tinh thần ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái, vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, đạo lý làm người, về tình yêu quê hương xứ sở.

Như mọi miền đất nước trên thế giới, dân tộc nào cũng có loại hình văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài, ca dao, hò vè...) mà trong đó điệu hát hay còn gọi là hò ru con (ru em) là hình thức diễn xướng ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có. Hò ru con có nét giống nhau là thường dùng thể thơ lục bát (6-8) với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều tiếng không có nghĩa xác định. Chỗ khác nhau là về trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm... Hò ru con có một giá trị nhất định trong kho tàng văn chương bình dân của đất nước Việt Nam mà lực lượng thể hiện là người phụ nữ Việt Nam qua nhiều năm tháng.

[align=center]Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng tao dùi tao nhớ tao thương[/align]

Chỉ với hình ảnh bốn tao nôi nhưng đã chứa đựng biết bao điều đã nói về cuộc sống, về sự hình thành nhân cách của tuổi thơ, của một đời người mà mẹ, mà chị đã gửi gắm trọn vẹn tấm lòng qua câu hò, điệu hát:

[align=center]Cất lên một tiếng la đà
Cho chim nhớ tổ cho ta nhớ mình...[/align]

Hò ru con là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương mình được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm. chan chứa niềm yêu.

Nghe mẹ hát, bé có hiểu gì đâu những nội dung sâu sắc của cái hồn ca dao về nhân tình thế thái, vì có lúc mẹ mượn bốn tao nôi để nói với cuộc đời, nói với người thương về một nỗi đắng cay bất hạnh hay nói về nguồn hạnh phúc tràn trề trong cõi người ta.

[align=center]Có phải trưa nay chị nhớ người thương
Nên mượn cớ ru em để lòng mình thương nhớ
Có phải ngàn năm thương thương nhớ nhớ
Khiến tiếng đàn bầu nghe xé ruột vò gan...

(Nhớ Huế “Tô Kiều Ngân”)[/align]

Cũng có khi hồn đất nước đượm màu trong lời ru mẹ, nuôi dưỡng tình tự quê nhà, ý thức chống ngoại xâm trong mỗi lời ca dạy cho ta bài học về tổ quốc:

[align=center]Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng[/align]

Lời ru êm ả, tiếng mẹ, tiếng chị dịu dàng nâng giấc ngủ tuổi thơ bay vào mộng cảnh. Có giấc ngủ tốt, sức khoẻ tăng đều, có hơi thở điều hoà, tâm hồn tuổi thơ thanh thản. Và bé vẫn chưa hiểu gì trong nội dung bài hát. Chỉ có âm hưởng là lắng đọng, là chất liệu tuyệt vời giúp bé bình yên. Và chị, và mẹ vẫn cất lên nỗi đau một thời về thân phận người phụ nữ:

[align=center]Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng

Tháng Giêng, tháng Hai anh còn mê tam cúc, yêu lượng
Tháng Ba, tháng Tư anh còn mê mã tượng pháo xe
Em can anh anh chẳng hề nghe
Đầu em đội bó củi nè thảm chưa[/align]

Nỗi đau thầm nén vào lời ru và tao nôi vẫn đưa đều trong trưa, trong khuya lặng lẽ:

[align=center]Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.[/align]

Đó là về một nỗi đau của chị, của mẹ trong cuộc tình sầu. Nhưng không chỉ có thế, tình mẹ, tình chị còn dành cho con, cho em nữa chứ. Cái nghĩa thiêng liêng mẫu tử; niềm khát vọng về một ngày mai con trưởng thành luôn đầy ắp trong lời ru thiết tha:

[align=center]Mẹ thương con ruột thắt gan bầm
Ví như bông sen díp lại khốn cầm dễ buông
Con ơi đừng khóc mẹ sầu
Cây khô vì hạn mẹ rầu vì con[/align]

Mẹ hát, chị ru và có một ngày lớn khôn con hiểu:

[align=center]Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương[/align]

Hò ru con là giai điệu sống bền cùng thời gian, cuộc sống. Nội dung những câu hò hàm súc, phong phú đề cập nhiều điều của quá khứ, hiện tại, những khát vọng, mơ ước tới tương laị..Là tình tự quê nhà dấu yêu giúp ta có niềm kiêu hãnh về dân tộc, về đất đai, xứ sở.

[align=center]Thương chi bằng nỗi thương con
Nhớ chi bằng nhớ nước non quê nhà


Ru em cho théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón Mậu Tài bán kim[/align]

Từ đất đai mẹ dạy con những điều nhân nghĩa, biết lao động, biết sản xuất nhằm xây dựng nước non nhà:

[align=center]Ai ơi uống rượu thì say
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo[/align]

Nội dung hò ru con là bản trường ca bất tận cùa kho tàng văn chương Việt. Có khichị, mẹ hát về nhân nghĩa cuộc đời, có khi hát về đạo lý làm con, về sự thuỷ chung chồng vợ...Điệu hò thấm sâu vào tâm thức tuổi thơ, nội dung câu hò lộ dần ra theo độ tuổi. Càng lớn càng hiểu thêm điều mà mẹ, chị từng gửi gắm cho ta. Khôn ngoan theo thời gian, trưởng thành cùng câu hát. Ta biết ơn vô cùng giọng hò ru ta từ thuở nằm nôi:

[align=center]Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ[/align]

Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu tinh thần ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái, vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, đạo lý làm người, về tình yêu quê hương xứ sở. Hình ảnh vầng trăng, ngọn cỏ, cánh diều, bóng dáng luỹ tre làng, dòng sông thơ ấụ..tất cả những sự vật cụ thể ấy đã trở thành ý niệm sống thiết thân từ ấu thời cho đến lúc trưởng thành. Trí tuệ, tâm hồn tuổi thơ cứ thẩm thấu, thấm nhuần những giá trị tình cảm đậm đà, những món ăn tinh thần thuần khiết thiêng liêng cao cả ấy.

Mong sao dù bất cứ không gian, thời gian, hoàn cảnh, địa hình... nào, người phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ Huế nói riêng cũng khôn khéo dạy con bằng những giai điệu hát ru của quê hương dân giã. Và bằng vốn liếng truyền thống văn hoá của mình mẹ và chị sẽ cho tuổi thơ được tắm mình trong ngọn nguồn ca dao đằm thắm, cho mai ngày lớn khôn sẽ trở thành những người gương mẫu, đạo đức, đóng góp cho đời nhiều công ích với nhân cách Việt Nam.[/font]


Sưu tầm


Đầu trang
  
Có 1 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Phong Trần (27-10-2010, 09:57 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 22-10-2010, 07:54 pm 
nga
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 17-07-2010, 09:38 am
Lần ghé thăm trước: 14-10-2011, 10:33 pm
Tuổi: 49
Bài viết: 3157
Đến từ: TPHCM
Giới tính: Nữ
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 13695 lần
Được cảm ơn:
5725 lần trong 1895 bài viết
 
Những bài viết này chị sưu tầm rất hay và rất có giá trị
Hoan nghênh thi sĩ họ Hàn
Thân mến Nga


Đầu trang
  
Có 1 thành viên đã cảm ơn nga cho bài viết này:
Hàn Khiết Tâm (23-10-2010, 12:10 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 23-10-2010, 12:46 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Courier New][align=center]Hình Ảnh Cây BẦN Trong Ca Dao[/align][/font]

[font=Arial]Ca dao Nam bộ là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong ca dao người Việt nói riêng và Văn học dân gian nói chung. Ca dao thấm nhuần trong tâm hồn con người bằng cái tình quê dung dị, hiền hòa. Với ngôn ngữ dân gian của xứ sở “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”, người dân Nam bộ đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng sông nước Cửu Long.[/font]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[font=Arial]Nổi bật ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long là sự có mặt của hình ảnh cây bần, một loại cây rất gần gũi với bà con Nam bộ. Cây bần là loại cây đặc thù ở vùng đất bồi lắng phù sa này. Cây bần còn gọi là cây thủy liễu, thường mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám lá dừa nước. Là loại cây sống trong môi trường bùn nước, bần có rễ phụ mọc nhô lên khỏi mặt bùn. Cây bần có chức năng giữ đất rất tốt, gỗ chủ yếu dùng làm chất đốt. Hoa bần màu trắng pha chút hồng phấn, rất đẹp, cho trái. Trái bần có vị chua của phần thịt, chát của phần hạt rất thú vị. Đây cũng là món ăn “độc quyền” của bà con Nam bộ:[/font]


[align=center][font=Arial]Muốn ăn mắm sặc bần chua
Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm
[/font][/align]


[font=Arial] Bà con Nam bộ đã dành cho cây bần một tâm tình ưu ái. Trong các câu ca dao, họ mượn hình ảnh cây bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ- “bần” mà người Nam bộ đã đặt câu đố về nó:
[/font]


[align=center][font=Arial]Giống chi toàn là giống đực
Thiếu tứ bề cam cực chung thân ?
[/font][/align]


[font=Arial]Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã mượn trái bần để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:[/font]


[font=Arial][align=center] Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dồi biết tắp vào đâu?
[/align][/font]


[font=Arial] Hình ảnh “sóng dập gió dồi” thật hay vì cây bần cho trái chín vào mùa nước nổi. Vì vậy nước tràn ngập lung bàu làm cho trái bần trôi dạt theo dòng nước mà không biết sẽ về đâu.
Là thế đấy, cây bần mang số kiếp thật hẩm hiu, bị phũ phàng:
[/font]


[font=Arial][align=center]Cây bần kia hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
[/align][/font]


[font=Arial]Nhiều lúc cây bần trở nên mạt hạn, tầm thường trong thể hiện của người bình dân:[/font]


[font=Arial][align=center]Cảm thương ô dước, bời lời
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần
[/align][/font]


[font=Arial]Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:[/font]


[font=Arial][align=center]Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ đước, bần thiếu chi
[/align][/font]


[font=Arial]Tuy nhiên, người Nam bộ không chỉ nhìn cây bần dưới con mắt bi quan như thế. Bằng cái nhìn hào sảng và lối sống phóng khoáng, lạc quan, cây bần còn là điểm tựa cho tình yêu đôi lứa:[/font]


[font=Arial][align=center]Làm thơ anh dán đọt bần
Dán cho hai họ Nguyễn Trần gặp nhau
[/align][/font]


[font=Arial]Hy vọng để rồi khi tình duyên bị ngăn trở, bần lại là nơi cha mẹ phạt vạ con cái:[/font]


[font=Arial][align=center]Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại nhánh bần
Rũi đứt dây mà rớt xuống,
Anh cũng lần mò kiếm em.
[/align][/font]


[font=Arial]Cái tình của người dân Nam bộ là thế, yêu “xả láng”, đánh chết cũng thương. Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:[/font]


[font=Arial][align=center]Chiều chiều xuống bến ba lần
Trông em không thấy thấy bần xơ rơ
[/align][/font]


[font=Arial]Hay[/font]


[font=Arial][align=center]Lẻ đôi em chịu lẻ đôi
Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ
[/align][/font]


[font=Arial]Nhưng nhiều lúc những cô Hai, anh Sáu lại nghi ngại, đặt vấn đề về chuyện cưới xin:[/font]


[font=Arial][align=center]Neo ghe vô dựa gốc bần
Em thương anh nói vậy
Chớ biết mình đặng gần hay không
[/align][/font]


[font=Arial]Hay khi đã không thành duyên nợ thì:[/font]


[font=Arial][align=center]Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em
[/align][/font]


[font=Arial]Không chỉ vu vơ trách móc thế thôi, với cách nói như tát nước, người Nam bộ cũng mắng nhiếc:[/font]


[font=Arial][align=center]Mồ cha thằng đốn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
[/align][/font]


[font=Arial]Nhưng đôi lúc cũng cảm thông:[/font]


[font=Arial][align=center]Bần gie đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên
[/align][/font]


[font=Arial] Dựa vào trường liên tưởng sự vật, người dân Nam bộ đã thổi vào cây bần một luồng sinh khí có sức sống đến kỳ lạ, nó hiển hiện dạt dào trong lòng người đọc tạo nên giá trị biểu đạt phong phú. Từ đó nó tạo nên cảm hứng thẩm mỹ cho người thưởng thức.
Ngày nay, cây bần vẫn còn chiếm vị trí khá lớn bên dòng sông nước Nam bộ. Nó có một ý nghĩa lớn trong tâm hồn của người dân nơi đây. Trải bao thăng trầm của thiên nhiên, nhu cầu kinh tế, và cả tác động của con người, cây bần vẫn sừng sững trong tâm thức của người dân, gợi nhớ về một thời khai hoang vùng đất “vượn hú chim kêu” của ông cha - giúp chúng ta hiểu thêm về nền văn minh miệt vườn, nền văn hóa sông nước trù phú và ngọt ngào như lời ru từ lòng mẹ, để chúng ta sẽ thấy mình có trách nhiệm hơn với quê hương.
[/font]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[font=Arial][align=right]Đặng Duy Khôi[/align][/font]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 23-10-2010, 01:26 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Arial][align=center]"Câu - cá" trong ca dao Nam bộ[/align][/font]

[font=Arial]Trong bài viết nầy, chúng tôi khảo sát hình ảnh “cá, câu-cá” chủ yếu trên phương diện phương tiện nghệ thuật của ca dao. Với tư cách phương tiện nghệ thuật, trong quá trình biểu trưng hóa (quá trình chuyển nghĩa để những hình ảnh trở thành những ẩn dụ, những biểu trưng nghệ thuật) hình ảnh cá, câu-cá với những nét nghĩa biểu trưng của nó, đã để lại dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp vùng sông nước.

Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao. Cá ở Nam bộ không chỉ được ăn tươi mà còn được làm mắm, làm khô để tích trữ ăn dần. Hiện thực nầy cũng để lại dấu ấu trong ca dao Nam bộ, cụ thể là trong lời ru của người mẹ:

[align=center]Con ơi ở lại với bà,
Má đi làm mắm tháng ba má về,
Má về có mắm con ăn,
Có khô con nướng, có em con bồng.
[/align]

Xem hình ảnh cá như một phương tiện nghệ thuật, tác giả dân gian Nam bộ đã tiến tới miêu tả đặc điểm của cá nói chung, từng loại cá nói riêng để nói về con người:

[align=center]Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng,
Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi.[/align]


Quá trình biểu trưng hóa để hình ảnh con cá biểu trưng cho nhân vật trữ tình trong ca dao là một quá trình liên tưởng, so sánh. Đặc điểm chung nhất của các loài cá là sống trong nước. Nước trong một không gian cụ thể là biển, sông, kinh, đìa, ao. Cá trong nước ( hoặc trong chậu, lờ, lưới ) dễ dàng được hình dung như con người trong cuộc đời với những hoàn cảnh cụ thể khác nhau:

[align=center]Bể sâu con cá vẫy vùng,
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng cao bay.
Đôi ta như con cá ở đìa,
Ngày ăn tán lạc, tối về đủ đôi.
[/align]

Với cặp biểu trưng câu - cá thì cá luôn luôn đại diện cho cô gái, còn câu đại diện chàng trai - hoặc là thái độ tình cảm của chàng trai. Câu cá là một hình thức lao động sản xuất của cư dân sông nước. Việc câu cá không dành riêng cho bất cứ ai, ai cũng có thể câu được bởi công việc nầy tương đối dễ dàng. Tuy vậy, trong ca dao Nam bộ chỉ có chàng trai mới câu và câu là chàng trai:

[align=center]Anh ngồi bực lở anh câu,
Khen ai khéo mách, cá sầu không ăn.
[/align]
[align=center]Câu vàng lưỡi bạc nhợ tơ,
Câu thời câu vậy cá chờ có nơi.
[/align]

[align=center]Liều mình lội xuống ao sâu,
Đặng đo miệng cá uốn câu cho vừa.
Anh ơi, gá duyên đừng kén đừng lừa,
Cụm mây kia đen đặc, ngọn gió lùa còn tan.
[/align]
Việc câu trong ca dao Nam bộ là sự thuyết phục, là bày tỏ tình yêu của chàng trai. Trong thực tế đời sống của cư dân Nam bộ, công việc câu cá cũng là một hoạt động lao động kiếm sống. Người ta hay dùng hai từ “ câu cơm “ để chỉ một hoạt động nào đó nhằm mục đích kiếm tiền, cụ thể hơn là kiếm tiền cho cuộc sống thường nhật của gia đình và bản thân. Có lẽ ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất mới nầy, việc bắt cá, câu cá là việc phổ biến, thường xuyên đồng thời là việc buộc phải làm. Cá trong sông, rạch rất nhiều nhưng phải câu, bắt mới có. Do vậy “ cá ăn câu “ trong ca dao mang ý nghĩa là một kết quả tốt cho chàng trai.
Hình ảnh câu- cá khá phổ biến trong ca dao các miền. Sau đây là một trường hợp được ca dao Bắc bộ sử dụng:

[align=center]Anh ngồi vực lở anh câu,
Khen ai xui giục con cá sầu không ăn,
Con cá không ăn câu anh con cá dại,
Con cá ăn câu anh thì có ngãi có nhân.
[/align]

Hình ảnh câu- cá được tác giả sử dụng theo lối tư duy thuận chiều: cô gái yêu chàng trai thì mọi việc đều tốt đẹp, còn như không yêu là mất mát, dại khờ. Ca dao Nam bộ một mặt tiếp nối kiểu suy nghĩ ấy:

[align=center]Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Bởi câu anh cầm, câu ngãi câu nhân.
[/align]
Nhưng mặt khác, tác giả ca dao Nam bộ lại suy nghĩ theo kiểu “phản đề”: không phải lúc nào yêu anh cũng đều tốt đẹp cả:

[align=center]Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.
Cá không ăn câu chê rằng con cá dại,
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn.[/align]


Đó là kiểu tư duy phóng khoáng, luôn dành cho đối tượng nhiều khả năng lựa chọn, thậm chí là sự lựa chọn ngược lại với ý định ban đầu.
Vấn đề chỉ có chàng trai câu mà cô gái không câu trong ca dao Nam bộ, có thể lý giải rằng đây là phản ánh một tập quán xã hội: chàng trai phải bày tỏ tình yêu trước, phải chủ động trong quan hệ lứa đôi. Cô gái trong ca dao Nam bộ - với hình ảnh con cá - có thể chủ động chờ đợi, một hình thức tạo điều kiện thuận tiện cho đối tượng:

[align=center]Con cá vẩn vơ núp tại bóng cầu,
Chờ anh khác thể sao hầu chờ trăng.
[/align]

***
Hình ảnh “ cá hóa rồng “ ( cá hóa long ) gắn với một khía cạnh khác của văn hóa. Đó là sự sùng bái đối với loài cá chép ( cá lý ngư). Cá chép có thể hóa rồng bay lên mây, là loại cá thiêng cho các vị thần tiên cỡi về trời mang theo những thông điệp của trần gian. Đặc biệt, trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ cá sấu cũng có thể trở thành rồng. Quá trình cá sấu đắc đạo là quá trình từ khi hình thành cho đến khi sụp lở của một cù lao. Hiện tượng cù lao sụp lở gọi là cù dậy.Khi cá sấu bắt đầu tu là khi nó nằm im dưới đáy sông. Phù sa của dòng sông theo thời gian ngưng tụ lại trên mình cá sấu, trở thành cù lao. Đến lúc cá sấu đắc đạo thành rồng, cựa mình, vụt bay lên không trung thì cù lao sụp lở. Có thể nói niềm tin cá hóa rồng là niềm tin về hiện tượng thăng hoa diễn ra trong vũ trụ và trong cả cuộc đời trần tục. Từ trong sâu thẳm, đó còn là ước vọng về sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, về khả năng cải tạo cái ác, cái xấu. Trong ca dao Nam bộ, “cá hóa rồng” mở ra hướng phát triển tiến tới sự hoàn thiện hơn. Do vậy mà trong một số trường hợp, cá biểu trưng cho một nhân cách thanh cao dạng tiềm ẩn hoặc là hướng tới một kết qủa tốt đẹp:

[align=center]Trên trời có cây hóa kiểng,
Dưới biển có cá hóa long,
Con cá lòng tong ẩn móng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Đến đây trời khiến động lòng thương em (1).[/align]


[align=center]Bậu chê anh quân tử lỡ thì,
Anh tỷ như con cá ở cạn chờ khi hóa rồng
Ngày nào nên ngãi vợ chồng,
Đôi lứa ta như thể cá hóa rồng lên mây (2).[/align]


[align=center]Mù u nhỏ rễ ăn lan,
Sợ mình nói gạt qua đàng đấy thôi.
Phụng hoàng chấp cánh bay xuôi,
Liệu bề thương đặng, mình ơi, tôi chờ.
Nước lên khỏi bực tràn bờ,
Thương mình thương vậy, biết chờ đặng không?
Đặng không tôi cũng gắng công,
Đợi cho con cá hóa rồng sẽ hay.
Gặp mình may quá là may,
Trông cho trời tối bắt tay đặng về (3).[/align]



Ở (1), hình ảnh “ cá hóa long “ chưa mang ý nghĩa biểu trưng rõ ràng, nó chỉ phản ánh cách suy nghĩ gắn với tín ngưỡng về một loài cá thiêng. Ở (2) nghĩa biểu trưng của “cá hóa rồng” được thiết lập bằng hình thức so sánh. Cơ sở hình thành nghĩa biểu trưng trong hai bài ca dao nầy chính là tín ngưỡng vừa nói. Ở (3), hình ảnh “cá hóa rồng” là một ẩn dụ tượng trưng. Nghĩa bóng của nó đã được tác giả dân gian sử dụng như là ý nghĩa duy nhất của hình ảnh nầy.
Như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ phản ánh một nét của nền văn hóa vật chất, đó là công việc đánh bắt thủy sản, trường hợp cụ thể ở đây là nghề câu cá. Mối tương quan giữa câu và cá ở một số trường hợp, trong một chừng mực nào đó thể hiện cách suy nghĩ phóng khoáng của người Việt Nam bộ. Quan niệm về một loài cá thiêng có thể hóa thành rồng, phản ánh tín ngưỡng sùng bái loài vật, một tín ngưỡng của người Việt thời cổ còn lưu giữ.
Do tác động của thủy triều, trên các dòng sông Nam bộ thường xuyên có những cù lao, cồn cát hình thành và sụp lở. Hiện thực này được nhìn nhận theo chiều hướng tốt đẹp: đó là quá trình hoàn thiện của tạo vật. Đáng nói hơn, đó là tư tưởng hướng thiện của người Nam bộ. Chính tư tưởng này mà con người tìm thấy trong cái đổ vỡ (cù lao sụp) một điều gì đó tốt đẹp hơn (rồng bay lên).
Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh thuyền (ghe, tàu, đò, xuồng) xuất hiện với tần số dày đặc trong ca dao Nam bộ. Sự xuất hiện của chúng bắt nguồn từ thực tế ứng xử của người Việt Nam bộ với môi trường sông nước. Nói khác đi, đó là chứng tích của một nền văn minh sông nước trong ca dao, bởi vì con thuyền, chiếc ghe, chiếc xuồng... từ bao đời nay đã gắn chặt với đời sống miền sông nước, chúng đi vào tiềm thức con người và xuất hiện trở lại trong ca dao. Tương tự như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ cũng là biểu hiện của nền văn minh kinh rạch.

-------------
Tư liệu tham khảo:
1. Jean Chevalier, Alain Gheebrant ( 1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Nhiều người dịch), Nxb Đà Nẵng, TP. HCM.
2. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị(1984), Ca dao dân ca Nam Bộ,Nxb TP. HCM.
3. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật...(1995), Kho tàng ca dao người Việt (KTCDNV), Nxb Văn hóa, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường đại học KHXH và NV TP. HCM.
5.Lê Trí Viễn (chủ biên) (1986), Thơ văn Đồng Tháp tập I, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.

[align=right]Ts. TRẦN VĂN NAM[/align][/font]


Sưu tầm


Đầu trang
  
Có 3 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Thy Lan (23-10-2010, 05:07 pm), nga (23-10-2010, 06:42 pm), Phong Trần (27-10-2010, 09:57 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 24-10-2010, 01:32 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Comic Sans MS]Lời hát ru ngọt ngào đang dần xa vắng?[/font][/align]

[font=Arial]
Từ bao đời nay, những lời hát ru ngọt ngào của bà, của mẹ đã trở nên gần gũi, thân thương đối với mọi người. Đấy là những kỷ niệm sâu đậm của tuổi thơ trở thành ấn tượng bền chặt không thể phai mờ trong suốt cuộc đời.

Âm hưởng vang lên trong những khúc hát ru thường nhẹ nhàng, ngọt ngào, mà sâu nặng tình cảm, gửi gắm trong đó nhiều ý tứ. Nội dung các bài hát ru chủ yếu có xuất xứ từ ca dao, dân ca, hò, vè dân gian, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi vùng, miền lại có một lối hát ru riêng, nhưng có một nét chung là dễ thấm, dễ lọt vào lòng người. Do vậy, những bài hát ru thường rất đa dạng và mang đậm bản sắc của từng địa phương.

Hát ru không đơn thuần là để giúp cho bé dễ ngủ, ngủ sâu. Nội dung chứa đựng trong những khúc hát ru biểu hiện những tình cảm có giá trị nhân văn: tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu thương giữa con người với con người. Khi nghe hát ru, trẻ cảm nhận được tình cảm thương yêu, trìu mến, nâng niu của bà, của mẹ.

Không những thế, khi tuổi thơ được tắm đẫm trong những lời hát ru ngọt ngào, đứa trẻ sẽ được lớn lên trong sự hồn nhiên, nhân cách của đứa trẻ được hình thành một cách tự nhiên trong sự gắn bó, yêu thương không chỉ giữa người với người mà còn với cả thiên nhiên, sông núi, ruộng đồng (những hình ảnh: con đò, bến nước, gốc đa, ánh trăng, lũy tre, cánh cò bay lượn… thường xuất hiện trong các bài hát ru).

Và như thế, những khúc hát ru có vai trò như một hành trang tâm hồn giúp trẻ lớn lên trong sự chở che, bao bọc bởi những tình cảm rất tự nhiên và sâu nặng về quê hương.

Lời ru ngọt ngào thực sự là những “dưỡng chất” bằng tinh thần giúp trẻ phát triển trí tuệ và tâm hồn. Mặc dù vậy, đáng buồn là trong nhịp sống hiện đại ngày nay, những khúc hát ru đang dần trở nên xa vắng?!

Nhiều cô dâu trước khi đặt chân về nhà chồng hầu như chưa có ý niệm gì về những khúc hát ru. Hệ quả là, ngày càng có nhiều bà mẹ trẻ không quan tâm đến việc hát ru con ngủ và không thể thuộc nổi một bài hát ru nào.

Một số khác thì mải bươn chải vì cuộc sống mưu sinh hàng ngày mà không thể dành ra được một khoảng thời gian ít ỏi cho việc hát ru bé ngủ.

Không ít người đã tìm cách “lấp chỗ trống” bằng cách tìm mua các loại băng, đĩa nhạc hát ru có sẵn, về chỉ việc bật lên cho bé nghe. Đây là giải pháp “chữa cháy” bất đắc dĩ bởi âm thanh được phát ra từ băng đĩa nhạc dù hay ho đến mức nào vẫn không thể thay thế được những lời ru được hát “sống” trực tiếp từ những người thân yêu của trẻ.

Tuy có thể nhiều bé chưa hiểu hết được ý nghĩa của lời hát nhưng qua nhịp của bài hát ru, giọng điệu của người hát kết hợp với những động tác vỗ về, âu yếm, bé vẫn có khả năng cảm nhận được những tình cảm ẩn chứa trong đó.

Dù ở thời đại nào, lời ru vẫn rất quan trọng đối với thế giới tâm hồn trẻ thơ. Nhất là trong nhịp sống hiện đại, hối hả ngày nay, những khúc hát ru càng trở nên hết sức cần thiết. Những lời ru ngọt ngào với giai điệu mượt mà, nhẹ nhàng, êm ái sẽ đưa bé vào giấc ngủ bình yên.

Đặc biệt, những lời ru chan chứa tình cảm yêu thương, trìu mến có tác dụng nuôi dưỡng tâm hồn bé, làm cho sợi dây tình cảm gắn bó giữa các thành viên trong gia đình được thắt chặt hơn. Các bà mẹ trẻ cần ý thức được vai trò quan trọng của những khúc hát ru, để những lời ru ngọt ngào sẽ trở thành những kỷ niệm êm đềm, không thể nào quên trong suốt quãng đời thời thơ ấu của mỗi người.

[align=right]Bùi Minh Tuấn

(Giáo viên trường THPT Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An)[/align]
[/font]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Có 2 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Nguyễn Đức Tùy (24-10-2010, 03:27 pm), Thy Lan (24-10-2010, 04:38 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 27-10-2010, 05:52 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Comic Sans MS][align=center]Xe Ngựa Một Thời Xa Xưa[/align][/font]

[font=Arial]Mỗi lần trở lại Lộ Tẻ là tôi bồi hồi nhớ lại thời xưa khi sống ở nơi này. Lúc ấy, con đường từ Quốc lộ 91 ăn vào xóm Cầu Ván còn cán đá, tung bụi mù trong những ngày nắng ráo và lầy lội trong mùa mưa dầm. Con đường buồn tẻ chạy xuyên qua một vài mái nhà lưa thưa ẩn trong những vườn cây ăn trái. Nơi đó, tôi đã từng đắm mình nghe tiếng chim hót líu lo, ăn những trái chín đầu mùa cùng với bạn bè ấu thơ. Khi lớn lên, tôi hay ngồi trầm lặng trong cái quán cà phê nho nhỏ đối diện ngôi trường tiểu học vài ba phòng, mộng mơ những tình cảm tốt đẹp dành cho cô chủ xinh tươi duyên dáng nói cười. Xóm nhỏ ấy đẹp tịch lặng trong những đêm trăng lấp lánh những tàn cây. Nhưng không có gì quyến rũ tôi bằng những khuya giật mình thức giấc nghe tiếng lọc cọc đều đều trên con đường đá.[/font]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[font=Arial]Đó là tiếng xe ngựa chở những người bán hàng bông ra chợ Cần Thơ vào lúc ba bốn giờ sáng. Trong bóng tối lờ mờ của những đêm trăng muộn, bóng con ngựa già lầm lũi tiến lên phía trước, với chiếc đèn bão đung đưa, gợi trong tôi nỗi buồn hiu hắt. Nhưng ấn tượng nhất trong tôi về chiếc xe ngựa này là trong những ngày cận Tết Nguyên đán. Trong bóng sương mù bao phủ khắp không gian, nghe tiếng nhạc ngựa dồn dập từ xa, tôi thường giật mình thức giấc, ra đứng ven đường để hít thở mùi thơm dễ chịu của các loại rau màu. Những húng lủi, cần dày lá, rau quế, cần tàu,... thơm lạ kỳ khiến khứu giác tôi như được giãn nở từng sợi thần kinh. Những khuya mưa lắc rắc, thức sớm chuẩn bị học bài, tôi hay đứng hiên nhà vươn vai cho khỏe, thường nhìn thấy cảnh tượng huyền ảo. Trong bóng tối bao trùm, trong tiếng mưa thâm trầm mái lá, tôi thấy từ phía Cầu Ván những ánh đuốc lá dừa lập lòe lay động, dần tiến về phía tôi cùng với tiếng chân ngựa âm vang từng bước. Tôi như chìm vào giấc mơ của một thời nào xa ngái.

Là cư dân nơi này nên tôi có đôi lần ra chợ Cần Thơ bằng xe ngựa. Ngồi bó gối trong thùng xe hẹp dài, chen chúc cùng bao người lam lũ, chiếc xe âm thầm đưa mọi người tiến về thị xã Cần Thơ trong âm thanh buồn buồn, đơn điệu của vó ngựa. Thị xã Cần Thơ chan hòa ánh điện, cũng là lúc xe dừng nơi bến Ngô Quyền - Lê Thánh Tôn. Những gióng gánh hàng hóa mắc hai bên thành xe được tháo xuống, những người nông dân quàng gánh lên vai, thoăn thoắt bước về chợ cho kịp chuyến hàng. Đứng bên đường, con ngựa già thỉnh thoảng dậm chân hí một tiếng như nhắc nhở chuyến về. Còn người xà ích già thì bình thản ngồi nhâm nhi ly cà phê, phả từng đám khói thuốc lá dày đặc cho đến khi bà con lối xóm đến đủ đầy mới làm cuộc hành trình về xóm Cầu Ván.

Đầu năm 1970, trên chiếc xe ngựa duy nhất của Cần Thơ này, tôi rời xóm Cầu Ván, lên đường đi xa. 5 năm sau trở về Cần Thơ, tôi bùi ngùi không thấy bóng dáng chiếc xe thân yêu ấy ở ngã tư Ngô Quyền - Lê Thánh Tôn nữa! Công việc bộn bề, gần đây tôi mới có đôi lần về xóm Cầu Ván. Con đường Lộ Tẻ nắng bụi mưa sình đã trở thành con đường nhựa trơn láng với tên gọi Trần Quang Diệu, thuộc quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Những mảnh ruộng, miếng vườn hiu hắt buồn xưa giờ đã đầy kín những ngôi nhà đẹp đẽ, khang trang. Xóm Cầu Ván đông vui nhưng không sao xóa được ánh đuốc lá dừa lập lòe huơ trong đêm tối, tiếng chân ngựa lọc cọc gõ vào tịch lặng của khuya mưa và mùi thơm đất đai phảng phất qua các loại rau màu thân thiết của tôi xưa.
[/font]

[align=right][font=Arial]Phù Sa Lộc[/font][/align]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 01-11-2010, 05:06 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Courier New]Yếm đào, nét duyên ngầm của phụ nữ Hà Nội xưa[/font][/align]

[align=center](CL)- Người xưa có câu:
"Không thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An".[/align]
Vẻ đẹp mộc mạc của người phụ nữ Hà Nội xưa trong trang phục yếm đào đã góp phần làm nên cái cốt cách trang nhã, tinh tế và thanh lịch...


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify][font=Arial]Giữa đất kẻ chợ xênh xang "yếm thắm, lụa hồng" xa xưa ấy, từ muôn ngả, những con người ngoại thành quanh năm cần mẫn với công việc "trồng dâu nuôi tằm" đem những sản phẩm tuyệt hảo của tơ tằm tập trung về đây quyến rũ, mời chào những người phụ nữ, con gái Thăng Long, đặc biệt là trước mỗi mùa lễ hội. Họ rủ nhau tấp nập ra chợ chọn lựa tơ tằm, ướm thử mọi thứ lụa là gấm vóc để may yếm đào, váy áo tứ thân, áo cánh, thắt lưng, khăn vấn và cả đồ trang sức vàng bạc...

Những cô gái kỹ tính thường tự đi chợ mua tơ tằm về may yếm. Công việc này đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ. Ngay trong lòng khu phố cổ Hà Nội hiện nay, tại số nhà 38 Hàng Ðào vẫn còn tấm biển khắc chữ Hán "Ðồng Lạc quyến yếm thị". Ðây chính là ngôi đình của chợ bán yếm lụa ngày xưa, mang tên Ðồng Lạc. Ðiều này chứng tỏ Thăng Long - Kẻ Chợ đã từng có cả một cái chợ dành cho phường bán yếm xưa và cả phường nghề dệt nhuộm truyền thống chỉ riêng phục vụ cho nhu cầu ăn mặc, làm đẹp của người phụ nữ.

Yếm đào dành cho tầng lớp thị dân Thăng Long đẹp đến mức, đầu thế kỷ 20, khi hai họa sĩ "Tây học" Lê Phổ và Cát Tường phát minh áo dài tân thời, thì vẻ đẹp tân kỳ, pha trộn hài hòa Ðông - Tây của nó vẫn cứ phảng phất, lưu giữ lại một phần vẻ đẹp của chiếc yếm thắm thuở nào.

Hình ảnh thiếu nữ Hà Nội xưa đã uyển chuyển đi vào thi ca, hội họa, mà đặc trưng nhất là những bức tranh "Tố nữ" của các nghệ nhân tranh dân gian Hàng Trống với hình ảnh các thiếu nữ mang vẻ đẹp thanh thoát, kín đáo phô ra đường nét rất đài các, tinh tế nơi phồn hoa đô thị. Có ý kiến từng nhận định rằng, ngay trong những bộ quần áo cần lao giản dị, người Tràng An vẫn đượm vẻ phong lưu, bởi lẽ vẻ đẹp thanh lịch của người con gái đất kinh kỳ được tỏa ra từ phong thái điềm tĩnh, đoan trang, nhàn hạ. Thế nên, hình ảnh chiếc yếm đào vừa trực tiếp, vừa gián tiếp thể hiện thành công đề tài tình yêu trong ca dao Việt Nam. Dải yếm đã "đặc tả" tương đối đầy đủ, trọn vẹn, sâu sắc những cung bậc phức tạp của tình yêu - nguồn cảm hứng muôn đời của thi ca nhân loại: Trời mưa trời gió kìn kìn/ Ðắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông.

Nhìn lại quá trình lịch sử, chiếc yếm đào trong trang phục của người Thăng Long xưa cũng đã có nhiều sự thay đổi. Ngay từ thời Lý, chiếc yếm đã được định hình. Ðến khoảng năm 1696, đàn bà lao động thì mặc yếm cổ xây (là miếng vải vuông đặt chéo trên ngực người mặc, ở góc trên có khoét hình tròn làm cổ yếm) còn phụ nữ quý tộc thì trước yếm có thêm một vài đường dây tết lại với nhau thành hình lưới quả trám. Mỗi thời kỳ chiếc yếm đều có sự biến đổi khác nhau phù hợp với quan niệm thẩm mỹ thời đó. Nhìn chung, thời kỳ "tiền Thăng Long", chiếc yếm đào còn nằm trong tổng quát trang phục của người dân Văn Lang - Âu Lạc. Phụ nữ mặc yếm tròn sát cổ, có trang trí bằng những họa tiết hình hạt gạo. Mầu sắc của những chiếc yếm thời kỳ này còn giản đơn, chủ yếu được nhuộm bằng những loại mầu có nguồn gốc tự nhiên, bên ngoài mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực bó sát vào người.

Ðến thời kỳ độc lập tự chủ (kỷ nguyên Ðại Việt), do điều kiện ổn định cả về chính trị, xã hội và đặc biệt là về kinh tế, Thăng Long đã trở thành kinh đô và là một trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước. Việc bang giao với bên ngoài làm cho thị trường vải vóc ngày càng phong phú. Xã hội cũng đã có sự phân biệt đẳng cấp, trên có vua, quan, dưới có sĩ - nông - công - thương. Yếm đào của người phụ nữ Hà Nội thời kỳ này cũng theo đó mà phân ra "đẳng cấp" qua sự khác biệt của chất liệu, mầu sắc, họa tiết... Phường Hàng Ðào chuyên làm nghề nhuộm điều. Mầu vàng vẫn bị cấm, chỉ dành riêng cho nhà vua và áo khoác các tượng Thần, Phật. Con gái quan lại mới được mặc yếm đỏ gọi là mầu đại hồng. Những ca kỹ thường mặc yếm mầu hoa đào và hễ ai khoác lên người thứ mầu sắc này lập tức bị coi là lẳng lơ, không đứng đắn.

Sau này, những phụ nữ Hà thành còn tinh ý đến mức, khi mặc kiểu áo năm khuy, tay rộng bên ngoài thì các cô chỉ cài bốn chiếc, để hở khuy cổ, khoe cái yếm cổ xây, ôm lấy cái cổ cao ba ngấn nõn nà mà vẫn giữ gìn được nét đoan trang, kín đáo khuôn phép. Cuộc cách mạng áo yếm xảy ra vào thế kỷ 20 khi các kiểu áo Tây phương xâm nhập vào Việt Nam với sự ra đời của rất nhiều kiểu yếm mới lạ. Mầu sắc áo yếm nói lên khá nhiều về người chủ của nó: Phụ nữ ngoại thành mặc yếm mầu nâu bằng vải thô, con gái nhà gia giáo thì mặc yếm lụa màu trang nhã, hội hè mặc yếm đào, yếm hoa hiên, người lớn tuổi mặc yếm mầu thẫm. Ngoài trang phục ra thì trong cách ăn mặc của người Hà Nội còn có nhiều thứ phụ trang đi kèm như giày dép, trang sức bằng vàng, bạc như vòng tay, nhẫn, dây chuyền, khuyên tai... để làm tăng vẻ đẹp ngoại hình. Kiểu yếm mầu sặc sỡ, cổ khoét sâu thì ít người dùng, chỉ những cô nàng "mắt liếc, mày nheo" kiểu như... thị Mầu mới dám chưng diện.

Lấy cảm hứng từ "giai nhân" đất Hà thành xưa, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp từng gieo những vần thơ trong trẻo: "Em đeo dải yếm đào/ Quần lĩnh áo the mới/ Tay cầm nón quai thao". Hay thi sĩ Hoàng Cầm đã đắm say mà viết nên khúc "Hội yếm bay": Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội/ Nuột nà cởi bỏ áo hoa khôi... Sau một thời gian dài bị lãng quên, ngày nay, một số cô gái khi đã "ngán" những "mốt" Tây phương thì lại có xu hướng quay về với... yếm. Nhưng lại là mặc yếm thay cho áo và kết hợp với chiếc quần jean hoặc váy một cách "trơn tru". Dẫu không cổ hủ thì cũng khó lòng mà chấp nhận được, bởi yếm là "phụ trang", phần trước được thiết kế kín đáo còn phần lưng và đôi cánh tay hoàn toàn là "khoảng trống". Nét duyên thầm do chiếc yếm đào mang lại là ở nét mềm mại kín đáo, tế nhị chứ không phải cứ phô trương một cách "vô tội vạ".

Dẫu có sự xuất hiện trở lại thì hình tượng về dải yếm đào xưa và nay vẫn có một khoảng cách lớn. Ðôi khi, trong một lễ hội dân gian nào đó, bất chợt bắt gặp hình ảnh những cô áo yếm eo thon với áo tứ thân, nón quai thao ngọt ngào trong câu hát cổ... mà thấy lòng bâng khuâng, luyến tiếc: Kiếp sau đừng hóa ra người/ Hóa đôi dải yếm buộc lời tình nhân...

Yếm đào và vẻ đẹp thanh cao của người con gái đất kinh kỳ đã yên bề trong ký ức cùng những mái ngói rêu phong, những góc phố cổ thâm trầm, những lời "dạ thưa" dìu dặt nơi kẻ chợ, còn lại bao nhớ nhung vẫn mải miết đi tìm.
[/font][/align]

[align=right]Lữ Thị Mai[/align]


Đầu trang
  
Có 2 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Thy Lan (03-11-2010, 09:22 pm), Thy Lan (03-11-2010, 09:22 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 01-11-2010, 05:31 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Arial Black]Cảm Xúc Về Sông Nước Qua Ca Dao Nam Bộ[/font][/align]

[align=justify]Nam bộ là một vùng sông nước có hệ thống sông ngòi chằng chịt, cho nên từ lâu hình ảnh chiếc ghe, con đò, dòng sông, chiếc cầu... là hình ảnh hết sức quen thuộc với người dân nơi đây. Ngay từ thuở lọt lòng, họ đã được tắm mình giữa trời nước bao la rồi khi lớn lên họ phải đi qua những chiếc cầu tre nối nhịp đôi bờ, những khi buông câu, thả lưới, những lúc chở hàng bông ra chợ... họ cũng gắn chặt cuộc đời mình với dòng nước bao la.

Vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong những câu ca dao, hò, vè dù thể hiện chủ đề nào, tâm trạng nào thì ít nhiều hình ảnh dòng sông, chiếc ghe, con đò cũng hiển hiện trong đó. Người Nam bộ thường có thói quen dùng lối nói ví von, mượn các hình ảnh quen thuộc của đời thường gần gũi để thông qua đó nêu lên chủ đề mình định nói. Và các hình ảnh quen thuộc đó, được lặp đi lặp lại trong cách nói của họ cho đến khi thành tiềm thức, để khi có dịp thì tự động bật ra. Như: khi có khách ở xa đến thăm mình thì người Nam bộ nói: từ xa lặn lội tới đây. Mặc dù có thể người đó đi bằng xe đò hay xe Hon-đa. Hay từ "quá giang" vốn dùng cho việc đi nhờ ghe cộ lại dùng cho việc đi nhờ xe hay đi cùng đường. Tất cả đó phải chăng là dấu ấn của vùng sông nước đã ăn sâu vào huyết quản của họ.

Đi liền với hình ảnh sông nước là các hình ảnh: chiếc ghe, con đò, con cá, con cua, cần câu, đăng, đó, nò... Đây là hình ảnh mà ta thường gặp trong ca dao dân ca Nam bộ. Ngay cả việc trông ngóng người yêu, người Nam bộ cũng mượn hình ảnh chiếc ghe để nói lên nỗi lòng của mình, nói lên sự trông ngóng, khấp khởi chờ mong người yêu đến thăm mình:
[/align]


[align=center]Ghe ai đỏ mũi xanh lườn,
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em.
[/align]

[align=justify][font=Arial]Ở đây người con gái nhận dạng chiếc ghe của người yêu mình. Chiếc ghe của người yêu cô có đặc điểm: "đỏ mũi, xanh lườn" nên khi thấy chiếc ghe có đặc điểm này thì cô gái mừng thầm, đinh ninh là ghe của người yêu xuống thăm mình. Nhưng cô gái ở đây vẫn cẩn trọng, không hấp tấp vội vã. Vì cả vùng sông nước này có biết bao chiếc ghe có cùng đặc điểm đó, không khéo sẽ bị hớ. Nên cô gái mới đặt lời ướm hỏi. Từ "phải" là một từ để hỏi nhưng ở đây là dạng hỏi tu từ. Không cần người đáp. Hỏi để rào trước đón sau mà thôi. Có phải thì hãy đến nơi hẹn, hãy thẳng nơi mà đến. Còn không phải thì chỉ việc đi ngang qua. Câu ca dao này còn có một dị bản khác:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Ghe ai nhỏ mũi trảng lườn,
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em.
[/font][/align]

[align=justify][font=Arial]Chiếc ghe cũng là hình ảnh của cuộc sống thương hồ, trên đó có chức năng như một ngôi nhà di động. Phía sau là cuộc sống sinh hoạt của cả gia đình. Phía trước là dùng để chất hàng hóa bán. Cứ thế, chiếc ghe vào từng con kinh, con rạch, hết nơi này đến nơi khác. Hết hàng thì quay ra chợ bổ hàng rồi đi bán tiếp. Con người cũng sống trôi nổi cùng chiếc ghe. Nhưng đôi khi chiếc ghe chở hàng chỉ có người chồng đảm nhận. Vợ con ở nhà, người chồng đi buôn bán xa, vài ba ngày mới về một lần. Cho nên trông chồng cũng là hình ảnh chiếc ghe và nhớ chiếc ghe cũng là nhớ chồng:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Ghe lui khỏi vịnh, em thọ bịnh liền,
Không tin anh hỏi xóm giềng mà coi.
[/font][/align]

[align=justify][font=Arial]Vì cuộc sống mưu sinh mà vợ chồng phải xa cách, vắng nhau bao ngày là bao nỗi lòng nhung nhớ. Về nhà chưa được bao lâu, lửa nồng chưa ấm anh đã vội ra đi. Nhưng vì cuộc sống không thể khác được nên ghe người chồng vừa đi thì người vợ cũng vừa "thọ bịnh". Quả là một tấm tình son sắt, thủy chung.

Hay giữa một đêm trăng thanh gió mát, một chiếc xuồng câu đang lờ lững giữa dòng, bắt gặp chiếc xuồng của cô gái chở hàng bông ra chợ đang chèo tới ở phía sau anh ta liền buông mấy lời chọc ghẹo:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,
Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm.
[/font][/align]

[align=justify][font=Arial]Cách chọc ghẹo của chàng trai ở đây rất có lý, đồng thời thể hiện được sự quan tâm lo lắng của mình. Giữa trời nước bao la mà chỉ có một mình cô gái chèo ghe chở hàng ra chợ. Anh lo lắng cho cô gái bảo cô chèo mau lên, anh đợi, nếu không giông đến thổi tắt đèn mà cô thì có môt mình biết phải làm sao. Cô gái cũng cảm thấy ấm lòng khi giữa đêm khuya thanh vắng mà lại có người quan tâm đến mình, nên cô cũng hò đáp lại:

[color=#000080][font=Arial][align=center]Nhứt nhựt tiểu thân chứ nhà của anh đâu mà em không biết,
Chứ gặp anh giữa đường, cái quyết chí mà thương anh.[/align]
[/font]

Có khi họ nên duyên cũng từ đó. Chiếc ghe, chiếc xuồng, dòng sông cũng là những hình ảnh được người dân Nam bộ gởi gắm vào đó những nỗi niềm tâm sự, những cảm nhận của cuộc đời, than thân trách phận, nói lên cuộc sống nghèo khó của mình:[/color][/font][/align]


[align=center][font=Arial]Không xuồng nên phải lội sông,
Đói lòng nên phải ăn ròng bè môn.
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Như đã nói, Nam bộ có hê thống sông ngòi chằng chịt cho nên phương tiện đi lại của cư dân nơi đây trước kia chủ yếu là ghe, xuồng. Ghe, xuồng là chân đi là phương tiện vận chuyển chủ yếu, nên dù nghèo thiếu đến đâu người ta cũng cố dành dụm sắm cho mình một chiếc xuồng để làm phương tiện đi lại. Tác giả của câu ca dao này có lẽ do quá nghèo túng, nghèo đến nỗi không có chiếc xuồng để đi, mọi việc di chuyển chỉ bằng cách lội sông. Mà không có xuồng cũng có nghĩa là thiếu phương tiện đánh bắt, mà thiếu phương tiện đánh bắt thì làm sao có nhiều cá, tôm cho được. Mà không có nhiều cá, tôm có nghĩa là không có tiền nên phải ăn " ròng bè môn".[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi !
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.
[/font][/align]

[align=justify][font=Arial]Đây cũng là lời than, than cho việc buôn bán ế ẩm. Không có người mua nên phải chèo mãi, chèo đến mỏi mêt mà vẫn không bán được hàng. Bìm bịp là loài chim rất quen thuộc ở Nam bộ, hễ nó kêu là nước lớn, cho nên tiếng bìm bịp kêu cũng là lời dự báo cho con nước sắp lên. Ngoài ra tiếng bìm bịp cũng là dùng để chỉ thời gian, thời gian của con nước lớn, nước ròng, cũng là thời gian trong ngày. Lời than của cô gái ở đây phải chăng ngụ ý trong từng tiếng kêu của con bìm bịp. Bìm bịp kêu nước lớn rồi nước ròng, rồi bìm bịp kêu : nước lớn... cứ thế hết ngày mà bán buôn chẳng được gì. Sự ngao ngán của cô gái phải chăng là thế.[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Dời chưn bước xuống ghe buôn,
Sóng bao nhiêu gợn dạ buồn bấy nhiêu.
[/font][/align]

[align=justify][font=Arial]Lại một tâm trạng buồn cho những kiếp thương hồ. Bước xuống ghe buồn cũng đồng nghĩa với việc xa nhà, phải đối mặt với cuộc sống cô đơn, một mình mình đối diện với sông nước đêm đen. Ngoài ra trong chuyến đi này, không biết buôn bán ra sao, lời lãi thế nào. Nhưng trên hết là nỗi nhớ nhà da diết, nhớ vợ, nhớ con... còn buồn nào hơn nỗi buồn chia ly. Ở đây tác giả so sánh nỗi lòng của mình với sóng nước. Sóng có bao nhiêu gợn thì lòng mình cũng buồn bấy nhiêu, nhưng gợn sóng là vô vàn, không sao đếm được. Cho nên tấm lòng của họ nhớ nhà, đau đáu chờ mong, buồn man mác cũng bấy nhiêu, không sao nói hết được.

Bên cạnh đó hình ảnh của cầu ván, cầu tre, các phương tiện đánh bắt cũng được người dân ở đây mượn làm phương tiện để nói nên nỗi lòng của mình:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.
Ví dầu mẹ chẳng có chi,
Chỉ con với mẹ chẳng khi nào mòn.
[/font][/align]


[align=justify]
[font=Arial]Cầu tre, cầu ván là hai hình ảnh rất quen thuộc đối với người dân Nam bộ. Nó thường được bắc qua những con kinh, con rạch, sông nhỏ. Ở đây, người phụ nữ mở đầu bằng một hình ảnh rất quen thuộc này như là một lời tâm sự của mình đối với con về tình mẫu tử thiêng liêng. Có thể người phụ nữ này đã bị chồng phụ bạc nên cô rất đau buồn, coi như là mất tất cả, cô chẳng còn thiết sống nữa. nhưng may còn được đứa con, nó là nguồn an ủi vô giá đối với cô, níu chân cô lại trên cõi đời này. Vì vậy, mọi tình yêu cô đều dành cho nó, xem như là nguồn an ủi duy nhất trong cuôc đời mình.

Không chỉ là lời than thân trách phận, không chỉ là tình mẫu tử bao la, lời tỏ tình dễ thương, sông nước Nam bộ còn phản ánh những nếp sinh hoạt, những buổi lao động hết sức đời thường của họ. Thể hiện được một cuộc sống đơn sơ, giản dị nhưng đầm ấm tình người, tình mẹ con, vợ chồng:[/font]
[/align]

[font=Arial][align=center]Cha chài mẹ lưới con câu,
Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò.
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Đây là một bức tranh sinh hoạt đời thường, đầm ấm không khí gia đình ở Nam bộ gắn chặt cuộc sống của mình với sông nước bao la. Không ai nạnh ai, mỗi người một việc, từ cha, mẹ đến rể dâu ai cũng phải lao động, lao động với một tinh thần hăng say, yêu thích, thể hiện được sự đoàn kết thương yêu lẫn nhau giữa các thành viên trong một gia đình.

Hay:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]Chiều chiều ông Lữ đi câu,
Bà Lữ đi xúc con dâu đi mò.
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Cảnh mẹ chồng nàng dâu từ xưa đến nay thiên hạ đã nói nhiều. Nhưng ở đây, ta thấy: mẹ chồng nàng dâu hết sức "ăn ý", mặc dù không nói ra, nhưng qua cảnh sinh hoạt ta vẫn thấy được nàng dâu và mẹ chồng rất hợp ý với nhau, ngay cả cha chồng cũng thế. Cả nhà cùng lao động, không khí gia đình thật đầm ấm vui tươi.

Sông nước là một đặc trưng không thể thiếu của Nam bộ, mà gắn liền với sông nước là ghe, xuồng, lưới, câu, hò, cầu tre, cầu ván... tất cả đã trở thành rất quen thuôc với người dân Nam bộ. Cho nên trong ca dao dân ca Nam bộ, để bộc lộ tâm trạng của mình thì người dân nơi đây thường mượn các hình ảnh quen thuộc này để ví von, nhằm bộc lộ những gì mình muốn nói, bởi tất cả đó đã trở thành thị hiếu của người dân nơi đây.

Cùng nằm trong cái nôi văn hóa của quê hương, đất nước, ca dao dân ca Nam bộ đã mang đến cho kho tàng văn học dân gian những vần ca dao ngọt ngào, tình tứ. Ca dao dân ca Nam bộ là sản phẩm của sự suy tư, cảm xúc, sự trải nghiệm của con người, là tiếng nói của người Việt Nam, đặc biệt là của nguời dân vùng đồng bằng Nam bộ, góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân gian của dân tộc.
[/font][/align]


[align=right]TRẦN PHỎNG DIỀU (Theo báo Cần Thơ)[/align]


Đầu trang
  
Có 1 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Thy Lan (03-11-2010, 09:23 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-11-2010, 10:03 am 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Comic Sans MS][align=center]Thời trang xưa qua ca dao[/align][/font]

[align=justify]Vợ chồng nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang đã rong ruổi sưu tầm dân ca các miền đất nước nhiều năm qua. Năm 1998, gặp anh chị để xin nghe kể chuyện giữ ngọc cho đời, chị xởi lởi: 'Năm qua chúng tôi cũng thoả chí tang bồng, nhất là được làm đồng dao cho bọn nhóc, làm một đàn sáo bay từ phương Bắc tới Mũi đất cực Nam luôn, giờ thì đang làm dân ca ngày Tết, chúc các ngành nghề. Còn đây là ca dao về thời trang xưa, tôi đã sưu tầm từ lâu” [/align]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify]Gian hàng thứ nhất: Áo vá quàng[/align]


[align=justify][font=Arial]- Không thương dù có đeo vàng
Bằng thương chiếc áo vá quàng cũng thương


- Tơ lụa gấm nhiễu không màng
Thương cô áo chẹt vá quàng nửa vai


- Hỡi người áo vá quàng xanh
Lại đây anh hỏi có đành hay không?


- Áo vá quàng viền hàng chữ đỏ
Gẫm sự đời vợ nhỏ cưng hơn.


- Trầu lên nửa nọc trầu vàng
Thương cô áo chẹt vá quàng nửa lưng.


- Áo vá vai vợ ai không biết
Áo vá quàng chí quyết vợ anh.

Vâng! Xem ra kiểu áo vá quàng vẫn là kiểu áo dân tộc Việt Nam một trăm phần trăm không lẫn vào đâu được.[/font]
[/align]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify]
Gian hàng thứ hai: Áo đen, áo nâu
[/align]


[font=Arial]- Áo đen ai nhuộm cho mình
Cho duyên mình thắm cho tình anh say


- Áo đen năm nút viền bâu
Bậu về xứ bậu biết đâu mà tìm


- Áo đen tra nút cũng đen
Hò với người lạ, người quen khó hò


- Xăm xăm trong Thủ đi ra
Áo đen nút bạc xinh đà quá xinh


- Áo đen chẳng lẽ đen hoài
Nắng mưa cũng trổ, cũng phai sắc màu...


**

*


- Ớ này cô mặc áo nâu
Đầu đội nón lá đi đâu vội vàng


- Áo nâu ai mặc nên xinh
Cho duyên em lịch, cho tình ai say


- Thương ai mặc áo nâu sòng
Chít khăn mỏ quạ lạnh lùng nắng mưa



Bây giờ xin mời quý khách bước sang gian hàng cuối cùng:

[/font]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify][font=Arial]Gian hàng tổng hợp[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]
- Chiều chiều ai đứng hàng ba
Quần đen áo trắng nết na dịu dàng

- Quần đen áo trắng nhởn nhơ
Làm cho anh chạy sụp bờ gãy chân

- Áo dài năm nút hở bâu
Để coi người nghĩa làm dâu thế nào

- Áo song khai quần hai lá hẹ
Nỡ lòng nào bỏ mẹ theo anh

- Chiều chiều mua lụa mười ba
Cắt áo cổ giữa tra ba nút vàng

- Nút vàng tra áo cổ y
Chàng xa thiếp cách áo ni giữ hoài

- Cưới em đúc một cây kiềng
áo thuỷ ba dợn sóng hỏi vợ hiền chịu không

- Đàn ông mặc áo đuôi lươn
Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh

Thế mới biết từ xa xưa ông cha ta đã rất quan tâm đến cái mặc. Cho dù còn khó khăn, thiếu thốn nhưng họ vẫn tìm thấy nét đẹp qua những manh áo vá quàng, nét duyên thầm trong chiếc áo nâu sòng, và vẻ quyến rũ qua chiếc “yếm hở lườn”…
[/font][/align]


[align=right][font=Comic Sans MS] Theo tác giả Lê Giang

(Nguồn: hanoi.vnn.vn)

[/font]
[/align]


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 08-11-2010, 09:43 am 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Impact][align=center]Thành ngữ, ca dao: Sức mạnh tâm hồn Việt[/align][/font]

[align=justify][font=Arial]Các chuyên gia y học phát hiện rằng: Ngay khi thai nhi hình thành, thì liền có hai tim thai đập đầu tiên. Tim thai thứ nhất là não. Tim thai thứ hai là tim. Khi hài nhi được sinh ra, thì bộ não là nơi phức tạp nhất gồm hàng trăm tỉ nơ ron thần kinh. Đó cũng chính là hệ thống vận hành của mọi máy cái, mọi hệ điều hành, mọi hệ lập trình, trung tâm dẫn đầu điều hành bao giờ cũng phức hợp nhất, tiêu tốn năng lượng nhất và phát ra nhiều dữ kiện soi sáng nhất. Mỗi cá nhân cũng như mỗi dân tộc sẽ không thể vận trình nếu không có bộ não cũng như tư tưởng loài người đã thực chứng, các chủ thuyết, lý thuyết, chủ nghĩa đã mang ánh sáng dẫn dắt cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển của nhân loại thế nào. Chắc hẳn, ở Việt Nam, một dân tộc đã hình thành quốc gia từ rất lâu, không thể không có ánh sáng soi chiếu từ bộ não cũng như tư tưởng để dẫn lối. Tư tưởng nghĩa là gì? Chắc chắn tư tưởng chỉ có một con đường biểu hiện qua ngôn ngữ. Cao hơn nữa là chữ viết. Nhưng cách đây chưa lâu, đầu thế kỷ 20 nước Việt còn đến hơn 90% mù chữ, vậy thì làm thế nào để tư tưởng có thể chuyển tải và phát triển trong xã hội của người Việt? Có thể nói, người Việt đã tạo ra kho tàng tục ngữ, ca dao khá phong phú để đưa đường chỉ lối cho đời sống. Tục ngữ, ca dao đó như một phương ngôn soi sáng, vào trong những hoàn cảnh cụ thể, nó như "túi gấm" được mở ra, hoạch định cho vấn đề, xác định cho sự việc, và chấn chỉnh cho mọi loay hoay bùng nhùng.

Để thưởng thức văn học và về tu từ lẫn giá trị tư tưởng, rất nhiều người Việt, cả nam lẫn nữ, từ Bắc qua Trung, chí Nam đều có thể thuộc làu làu "Truyện Kiều" để lảy lên khi cần thưởng thức hay dẫn lối. Với tục ngữ, ca dao thì còn nhiều người thuộc hơn, họ thuộc bằng cách học truyền khẩu qua miệng nhau, hoặc học bằng kinh nghiệm và trí nhớ, mỗi khi gặp việc có người nói thế, thì lần sau khi gặp việc, người ta liền nhắc lại.

Mở màn, bất cứ cộng đồng nào, sắc tộc, dân tộc, hay xã hội nào muốn sống chung thì đều phải có công lý. Công lý là một thước đo chuẩn mực tương đối "bất dịch", chứ không thể là thước do tùy tiện, muốn đo kiểu gì cũng xong, đo vào người khác thì thành tội, đo vào người nhà mình thì có công. Người Việt nói chắc chắc: "Muốn tròn thì phải có khuôn, muốn vuông thì phải có thuốc". Một trong những món ăn dân tộc hàng đầu của người Việt là bánh chưng, hay bánh tét, thì đều phải gói bằng khuôn vuông hay tròn. Nhưng còn xa hơn thế, kiến trúc là khoa học và nghệ thuật hàng đầu của loài người, vì chỗ ở bao giờ cũng chiếm quan tâm bậc nhất. Mà muốn dựng xây nhà, những người thợ đều phải dùng đến thước, có thước thì cột mới thằng, rui mè mới ăn khớp, và tường mới phẳng. Suy ra mọi việc ở đời thì phải có khuôn thước là chuẩn mực xây dựng, cũng như là cái soi chiếu để giải quyết các bất đồng, thưởng cho kẻ có công, phạt người có tội.

Tiếp đó người Việt bảo: "Nói phải củ cải cũng nghe". nghĩa là, dù anh có nhỏ bé bao nhiêu, khi anh có lẽ phải trong tay, anh sẽ thuyết phục được tất cả mọi người, mọi sự, cho dù đó là thứ bé tẹo như củ cải. Vì vậy muốn có lẽ phải thì không thể cậy quyền, cậy tiền, cậy lớn để ức hiếp người khác. Không thể: "Cha nói oan, quan nói hiếp, chồng có nghiệp nói thừa". Có rất nhiều đàn ông trong nhà chiếm cứ cả ba vị trí, làm chồng, làm cha, làm quan, khi ấy ông cậy quyền nói lấy được, thử hỏi không khí gia đình sẽ nghẹn thở sự bất công đến mức nào? Cái bất công trong nhà sẽ làm nảy ra bất công khác, dẫn đến sự kình chấp, mâu thuẫn, cãi cọ, chửi bới đấu đá trong nhà. Gia đình lại là tế bào của xã hội, tế bào nhà ông bất công lục đục, thử hỏi ông sẽ hòa tan vào xã hội một thứ ô nhiễm bất công kiểu gì?! Vì quyền bình phu quyền thời phong kiến áp chế như vậy, nên người Việt cũng đã manh nha và tạo ra sự cân bằng của nữ quyền: "Lệnh ông không bằng cồng bà". Thực ra là tinh thần phản kháng của phụ nữ Việt với chế độ nam quyền áp đặt từ ngay trong gia đình.



Người Việt còn khai triển tiếp khuôn thước chính đáng của đạo đức như "Cây ngay không sợ chết đứng", hoặc "có cứng mới đứng đầu gió", rồi "đường đi hay tối, nói dối hay cùng". Và rõ rệt nhất là: "Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành". Phải nói đây là phương nguyên chứa đựng nguyên lý thâm sâu và nội dung toàn vẹn về đạo đức làm người. Ăn ngay, tức nếu cứ ăn thức ăn sạch, lại còn ăn đúng đạo đức lương tâm, không ăn theo, ăn bám, ăn chầu rìa, ăn mày, hay tham nhũng, thì con người ta sẽ vừa mạnh khỏe về thể xác, vừa mẫn tiệp về tâm hồn. Nói thật, tức người ta chỉ gieo hạt thật sự vào đời sống, thì khi đó không còn lý do cho những gian trá sinh sôi, cuộc sống sẽ tốt lành mọi nẻo, và tự nhiên mọi quanh co, gian dối, tội lỗi sẽ biến mất.

Để sống chung với người khác rất cần sự chân thực và công lý. Người Việt bàn về phẩm chất sống như sau: "Ăn cơm cáy thì ngáy o o/ Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy". Có nghĩa là, nếu ta tự biết đủ với sự hoàn cảnh của mình, có gì ăn nấy, nghèo cam chịu nghèo, thì ta sẽ sống thanh bần lạc đạo, nghĩa là nghèo nhưng tâm hồn nhẹ nhõm thanh thản, ngủ ngáy đều. Trong khi đó nếu ta tìm mọi cách để được ăn ngon, nào buôn một bán mười, nào điêu trác gian manh, nào đòi ăn ngon mặc đẹp, làm ăn chụp giật mà cả chớp, thậm chí còn tham nhũng, lừa đảo, ăn trộm hay ăn cướp, thì dù được ăn ngon, nhưng tâm hồn không thể nhẹ nhõm thanh thoát trái lại nặng nề, ô trọc, u phiền... Tiếp đó, người Việt dạy nhau làm sao phải từ bỏ ích kỷ hại tha để tiến đến xả kỷ hiến tha, như "được lòng ta, xót xa lòng người". Nghĩa là, trong mọi việc, mọi quyền lợi, nếu ta chỉ tính đến mức có lợi cho ta, thì sẽ gây tổn thất cho người, khiến người phải xót xa buồn phiền. Và trong cuộc sống cũng đừng nên có cảnh:

Của mình thì giữ bo bo
Của người thì thả cho bò nó ăn

Người Việt cũng có rất nhiều câu cảnh báo về sự tham, hay thế lực hắc án của đồng tiền, nào "kim ngân phá lề luật", nào “đồng tiền đi trước, mực thước theo sau". Hoặc rõ ràng hơn:

Bên hàng túi bạc kè kè
Nói quấy, nói quá người nghe rầm rầm

Như vậy, người nghe không nghe trình độ, trí tuệ, cũng như vấn đề của người nó, mà chỉ nghe vì tiền, vì vụ lợi cho mình mà nghe. Sức mạnh ca dao còn thể hiện ở việc chỉ ra thói dâm ô, háo sắc của những thứ quan tham:

Bộ binh, bộ hộ, bộ hình
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi

Ca dao chỉ ra sự tham lam của mẹ cha khi gả bán con gái:

Cha mẹ đòi ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm

Ca dao cũng không nề hà đả thẳng vào phái đẹp đào tơ liễu yếu, rằng, đừng có nhập nhằng trong tình cảm:

Có yêu thì nói rằng yêu
Chẳng yêu thì nói một điều cho xong
Chớ đừng dở đục dở trong
Lờ lờ nước hến cho lòng tương tư

Ngoài phê phán, dằn mặt thói hư tật xấu, ca dao còn biểu dương những đức tính tốt đẹp và ca tụng ánh sáng của trí tuệ một cách cao vời, hết cỡ như:

Quanh năm ở với người đần
Không bằng một lúc sống gần người khôn

Sơ lược tính ra, tục ngữ ca dao của người Việt đã đi từ công lý đến tình yêu với người khác, rồi có cả lẽ sống tham - sân - si... Nó đích thực là sức sống tâm hồn bền bỉ của người Việt đặc biệt trong những thế kỷ có rất ít người biết chữ. Xin bái phục tục ngữ, ca dao!



[align=right]Nguyễn Hoàng Đức[/align]

[/font][/align]


Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 12-11-2010, 10:42 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Comic Sans MS][align=center]Chợ Nổi Miền Tây

Chợ nổi trên sông: Nét đẹp của miền Tây
[/align][/font]


[align=right]Trần Văn Chi[/align]

[font=Arial]
[align=justify]Ðồng Bằng Sông Cửu Long chỗ nào cũng có sông lớn sông nhỏ, kinh rạch dài ngắn, đầm bưng sâu cạn... nước lên xuống mỗi ngày hai bận theo hệ thống hai con sông chánh là Tiền Giang và sông Hậu Giang.

Con sông Hậu Giang, theo Gia Ðịnh Thành thông chí của Trịnh Hoài Ðức: “Thượng lưu sông từ phía Ðông thành Nam Vang Cao Miên, chảy xuống Châu Ðốc, qua Mạt Cần Ðăng; Nam đổ xuống đồn Cường Oai ở Lấp Vò rồi qua đồn thủ Trấn Giang Cần Thơ, đến đạo Trấn Di, ra cửa biển Ba Thắc, nước dầm thấm khắp cả ruộng vườn, bao hàm cả cồn bãi bờ biển, là nguồn thủy lợi rất lớn, lúa gạo cá tôm dùng ăn không hết.”

Ở vùng này việc đi lại thuở xưa trên bờ thì có cầu khỉ, cầu tre... chênh vênh lắc lẻo. Dưới nước chủ yếu là xuồng ghe luồn lách, quanh co cồn bãi, len theo dòng nước mà đi lại, mà chở chuyên. Nghèo giàu cỡ nào ai cũng có tối thiểu một chiếc xuồng ba lá để làm chân.

Xuồng ghe xứ này có nhiều loại với những tên gọi mà người nơi khác không sao hình dung và hiểu được:

Như “xuồng ba lá” còn gọi là tam bản, mũi là lái như nhau, không cần quay trở, khởi động bằng dầm, là phương tiện dùng cho cá nhân. Sau này chiếc xuồng ba lá thay đổi cách tân nhưng vẫn còn là phương tiện căn bản của người dân ở đây.

[align=center]Hình ảnh[/align]
[font=Arial]Xuồng Ba Lá[/font]

Còn chiếc ghe thì lớn hơn xuồng ba lá, là phương tiện di chuyển cộng đồng, có loại chuyên dùng, tùy theo nhu cầu mà có kích cỡ, hình dáng, mẫu mã khác nhau.

Như ghe dùng để đi làm ăn thì có ghe câu, ghe lưới, ghe cui (chở củi, cây lá làm nhà), ghe đò, ghe cá, ghe chài, ghe be (làm nhà nổi hoặc để bè gỗ, bè cây trên sông), ghe “hàng bố” dùng đi bán hàng tạp hóa trong chợ xóm...

[align=center]Hình ảnh[/align]
Ghe

Ði biển có “ghe cửa” to dài có mũi cao để nhảy sóng. Quan chức và người có tiền thì sắm “ghe hầu”, “ghe điệu” loại ghe có mui trang trí như nhà ở, có người phục vụ; để đánh giặc có “ghe chiến” hay “ghe sai”. Giờ đây hầu hết các loại xuồng ghe lớn nhỏ đều có gắn máy hoặc gắn đuôi tôm.

Việc đi lại dưới sông nước ở vùng này do vậy xưa nay lúc nào cũng náo nhiệt: chiếc xẹt qua, chiếc xẹt lại như người Sài Gòn lái xe honda, xe hơi vậy.


Chợ nổi nguyên sơ bán rùa rắn chim chốc


Chợ nổi nhóm trên sông nước ở miền Tây là hình thái quen thuộc của người ở miệt này. Có những chợ nổi như chợ Phụng Hiệp, Cái Răng hay Cái Bè được người cả nước biết.

Hỏi người dân địa phương, những ông bà lớn tuổi thì không ai biết cái chợ nổi có hồi nào!

Chỉ nghe nói rằng thuở xưa kia ở Phụng Hiệp, hằng năm tới mùa nước thấy có nhiều người bơi xuồng, chèo ghe đến bán rắn rùa, chim chốc để kiếm tiền đi chợ. Các loại chim như mỏ nhát, óc cao, chàng nghịch, chàng bè, quốc (đỗ quyên), bìm bịp, kỳ đà, chuột... ở đây có tiếng là ngon nên được nhiều người bơi ghe đến tìm mua.

[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=center]Hình ảnh[/align]
Chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp

Phụng Hiệp là chỗ giáp nước từ bảy nơi tụ về, là chỗ “tao ngộ” của giới thương hồ, nơi họ dừng chân, đậu ghe để “chờ con nước”. Và Ngã Bảy trở thành nơi “đô hội dưới nước”, trai tài gái sắc, tứ chiếng, dân làm ăn có tiền đến đây tiêu xài, ăn nhậu vui chơi.

“Ngã Bảy chia dòng xuôi lục tỉnh

Cà Mau, Rạch Giá nối Hậu Giang

Khách thương hồ nổi trôi sông nước

Năm tháng thuyền dong lướt dặm ngàn.”

(Uyên Thảo, Ðẹp Cần Thơ)

Phụng Hiệp cách thành phố Cần Thơ độ trên 30 cây số. Cầu Phụng Hiệp trước kia là cầu quay mỗi khi có ghe tàu qua lại, sau này hãng thầu RMK của Mỹ làm lại bằng cầu đúc còn cho tới ngày nay.

Từ Phụng Hiệp có ba ngã chánh đi xuôi về Cái Sơn ra Sông Hậu để đi Cần Thơ, xuống Vĩnh Long, Ðồng Tháp, An Giang, Châu Ðốc, Campuchia, Trà Vinh, lên Bến Tre, Sài Gòn, hoặc đổ ra biển Ðông đi Trung, ra Bắc...

Bốn ngã còn lại nối với kinh, rạch trong quận, tỉnh như Xẻo Môn, Sóc Trăng...

Ðứng tại đây nhìn về hướng sông Hậu, dòng kinh Cái Côn dài ngút ngàn và thẳng tắp, xa xa với Bưng Thầy Cai, với Vàm Rọc, nhà cửa sung túc.

Bài vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu” với giọng ca trữ tình của nghệ sĩ Út Trà Ôn như nhắc lại cho người ở đây về một kỷ niệm nào đó trong đời mình với địa danh Ngã Bảy.

“Hỡi ơi! Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào. Cổng nhà cô đã khép kín tự hôm nào. Tôi vác đôi chiếu bông từ dưới ghe lên xóm rẫy, để tô điểm loan phòng cho gái còn xuân...”


Chợ nổi Cái Răng, biểu tượng của Tây đô

[align=center]Hình ảnh[/align]


Từ khi Sài Gòn được gọi là “Hòn Ngọc Viễn Ðông” thì thành phố Cần Thơ được gọi bằng cái mỹ danh là “Tây Ðô”, thủ đô của 12 tỉnh miền Tây tới nay. Thành phố chạy dài trên 65 cây số dọc theo con sông Cửu Long mang trong nó nhiều huyền thoại về Chín Rồng.

[align=center]Hình ảnh[/align]

Cần Thơ diện tích 2,962 cây số vuông, 1 triệu 900 ngàn dân (theo thống kê năm 1997) là “thành phố sông nước“.

“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền,

Anh có thương em thì cho bạc cho tiền.

Ðừng cho lúa gạo/mà/xóm giềng/họ/cười chê!”

Không biết câu hò có từ khi nào mà như đã nói lên tâm tình người con gái Cần Thơ thừa lúa gạo, giàu tình cảm và thực thế. Nghe kể lại là từ những thập niên đầu thế kỷ trước đã có nhiều ghe buôn bán thương hồ đến đây trao đổi hàng theo, hát hò giao tình với thiếu nữ trên sông... và từ đó trở thành chợ nổi tại đây ra đời.

Từ lúc trời còn chưa sáng, đã có hàng trăm ghe xuồng, chạy máy, chèo tay tập trung nhóm chợ chật trên cả một khúc sông.

Chợ Cái Răng là nơi đầu mối thâu mua những hàng nông sản của thương lái hay chủ nhà vướng đưa đến. Từ đây được vân chuyển đến các tỉnh như Vĩnh Long, Trà Vinh, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sài Gòn hoặc đi Long Xuyên, Châu Ðốc, Cà Mau, Rạch Giá. Tại đây còn chở thẳng đi Campuchia, Trung Quốc nữa.

Trái cây ở đây đủ loại như cam, quít, mận, xoài, nhãn, mận, thơm, chuối, đu đủ, chôm chôm, sầu riêng, dừa khô-xiêm... làm ngộp mắt du khách!

Cũng có những loại nông sản thường như bầu bí, dưa, mía, sa bô chê, ổi... thứ nào thứ nấy chất đầy ghe... mùa nào thứ nấy.

Chợ nổi Cái Răng có sáng kiến “treo bẹo” giới thiệu sản phẩm của mình lên cây sào cao gọi là “cây bẹo” để chào khách mà không cần rao! Ghe đuôi tôm chạy xẹt qua xẹt lại như xe honda chạy trên đường Sài Gòn. Ðèn măng xông, đèn điện bình ac-qui, đèn đầu... sáng cả mặt sông, đến 9-10 giờ sáng thưa dần.

Hàng quán ăn uống: cà phê, cháo, mì, hủ tiếu, phở, bánh mì... cái gì cũng có sẵn sàng túc trực phục vụ mọi người. Nhậu nhẹt, đờn ca tài tử, TV, nhạc đủ loại kể cả hải ngoại.

Các ghe buôn bán hàng tạp hóa, áo quần giày dép, dụng cụ điện tử, thuốc tây hớt tóc, làm đẹp, sửa máy ghe, bán xăng dầu cái gì cũng có ở đây.

Những con người sống với sông nước, lấy giang hồ làm vui, bầu bạn sớm hợp chiều tan nhưng lúc nào cũng hào hiệp và điệu nghệ.

Du khách đến đây, dẫu là người Việt Nam hay người ngoại quốc cũng thấy hấp dẫn, thích thú và không nỡ dời chân, bởi khó mà tìm thấy ở đâu có như vầy!

Chợ nổi Cái Răng Cần Thơ đúng là nét đẹp văn hóa đặc trưng của lục tỉnh-Nam bộ.


Chợ nổi Cái Bè, “Văn minh miệt vườn” thu hẹp

[align=center]Hình ảnh[/align]

Chợ nổi Cái Bè thuộc tỉnh Tiền Giang, cách Sài Gòn độ 70 cây số lái xe.

Sông Tiền Giang xưa còn gọi là Sông Trước, “Nguồn sông này ở phía Bắc từ Ai Lao xuống Cao Miên đến Nam Vang, theo hướng dòng chảy đến Cần Nôm Tân Châu qua sông Ðại Tuần trước trấn Vĩnh Thanh đến Ba Lai Mỹ Tho rồi chảy về Nam ra hai cửa biển đại, tiểu, ấy là dòng chánh của sông lớn ban đầu...”

[align=center]Hình ảnh[/align]

“Thế nước ôm quanh cồn nọ, dựa vào bãi kia, có tới 8 ngã ba sông, nhiều nhánh đan xuyên qua Hậu Giang, trông xuống trấn Vĩnh Thanh như là một biển sao...”

“...Trong vườn thì nhiều trầu, cau, dưa quả, dâu mè; mương ngòi thì đầy cá-tôm-rùa-lươn; ai nấy tự của nhà dùng, chẳng cần mua sắm ở chợ. Dân cư trước vườn, sau ruộng, tất cả đều có sản nghiệp làm ăn, mọi người được cho là giàu có”. (Theo Gia Ðịnh Thành thông chí của Trịnh Hoài Ðức)

Chợ Cái Bè nổi tiếng là chợ đầu mối của nhà vườn Tiền Giang, nằm trên khúc sông Cái Bè, đủ rộng chứa đến 500 ghe thuyền mỗi ngày tụ hợp về đây buôn bán. Cây trái ở các nơi như Xoài Hột, Thuộc Nhiêu, Chợ Giữa, Cổ Cò, Cái Bè, Cai Lậy... từ lâu nổi tiếng ngon.

Bên kia, hữu ngạn sông Cái Bè có cù lao Tân Phong thuộc Vĩnh Long, có tiếng giàu có với con ốc gạo. Ốc gạo Tân Phong xưa vượt sông qua Cái Bè để bán đi khắp nơi nhứt là cho người Sài Gòn.

Xuống cù lao Tân Phong, nghe mấy ông già ở đây kể rằng ở cái cù lao này dài độ 3 cây số, có trên dưới 1,300 nóc gia, sống bằng nghề bắt ốc gạo, người nào cũng khá, trước năm 1975 có mua máy đèn riêng để coi TV.

Chợ nổi Cái Bè là nơi để thương lái đến “cất hàng” đem đi bán lại cho các nơi khác, vào giờ cao điểm sáng sớm ghe thuyền chạy như mắc cửi, huyên náo vui tươi hấp dẫn du khách.

Chợ nổi Cái Bè không xa Sài Gòn, cái riêng biệt độc đáo của vùng đất sông Tiền, như thể hiện cái “Văn minh Miệt Vườn” được thu hẹp trong tầm mắt của du khách.

Chợ nhóm trên sông nước qua chợ nổi Cái Răng, Phụng Hiệp, Ngã Năm ở Hậu Giang, đến chợ nổi Cái Bè ở Tiền Giang là nét đặc thù, độc đáo của miền Tây.

Chợ nổi là loại hình “văn hóa chợ” mà hình như chỉ có ở nước mình (?)tới nay trở thành cái đẹp, cái duyên riêng mà trời dành cho người miền Tây.

Nên mới nói “Ai đến đó thời không muốn về” là vây.[/align]
[/font]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 13-11-2010, 12:42 am 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Courier New][align=center]Đôi điều cảm nhận về bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” [/align][/font]

[align=justify][font=Arial]Thần thoại Hy Lạp kể cho chúng ta về vị thần tình yêu Eros với đôi cánh thiên thần và hai túi đựng mũi tên. Chàng ban phát tình yêu cho nhân loại bằng cách bắn các mũi tên vào trái tim của mỗi người. Nếu người nào bị "trúng thương" bởi mũi tên chàng rút từ túi bên phải thì sẽ có được tình yêu hoàn hảo, ngọt ngào. Còn nếu người nào không may bị "trúng thương" bỡi mũi tên chàng rút ra từ túi bên trái thì sẽ gặp sự đau khổ trong tình yêu. Có lẽ, vì thế tình yêu không chỉ có lãng mạn, ngọt ngào mà còn có cả những “trái đắng” xót xa. Từ thực tế đó, người nghệ sỹ dân gian xưa đã thốt lên câu hát:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay
- Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?
[/font]
[/align]

[align=justify][font=Arial]Rất nhẹ nhàng, tinh tế nhưng cũng thật nặng trĩu tâm sự nuối tiếc xót xa. Bài ca dao với năm cặp lục bát ngắn gọn, nhưng lại là một câu chuyện dài về một tình yêu dang dở, với những nỗi khổ đau, nuối tiếc trong tình cảnh éo le của những con người trong cuộc.[/font][/align]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify][font=Arial]Nhân vật trữ tình xuất hiện trong bài ca dao là chàng trai và cô gái. Bài ca dao là tình cảnh và tâm trạng thực tại, có lẽ là kết quả của một "tiền giả định" mà tác giả dân gian không muốn nói đến trong bài ca dao. Ở đây, có thể có ba giả thiết về “tiền giả định” đó. Có thể là chàng trai và cô gái yêu nhau nhưng không lấy được nhau; cũng có thể là chàng trai thầm yêu cô gái nhưng chưa có dịp thổ lộ thì cô gái đã đi lấy chồng; và cũng có thể chàng trai và cô gái gặp nhau, mến nhau nhưng đã muộn màng. Dù hiểu theo cách nào thì bài ca dao cũng có cái lý riêng của nó nhưng phù hợp nhất có lẽ là giả thiết thứ nhất. Chàng trai và cô gái yêu nhau nhưng vì một lý do nào đó mà họ không lấy được nhau, cô gái phải đi lấy chồng.

Bài ca dao như là một sự tương ngộ của những "người xưa" và "tình xưa" trong sự buồn đau, nối tiếc muộn màng.

Bốn câu đầu là lời của chàng trai:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Đọc bốn câu ca dao trên ta nghe vang vọng đâu đây cái âm hưởng của những câu ca dao: [/font][/align]


[font=Arial][align=center]Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở
Anh đến bến đò đò đã sang sông
Anh đến tìm em thì em đã có chồng...
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Cũng là "hoa" đã nở, cũng là "em" đã lấy chồng, cũng là chỉ còn lại mình "anh" bơ vơ trong nỗi cô đơn tuyệt vọng. Nhưng tâm trạng của chàng trai trong ba câu ca dao này là một tâm trạng cụ thể, xác định về một sự gặp gỡ muộn màng. Còn tâm trạng chàng trai trong bài ca dao của chúng ta thì lại là tâm trạng của một người đã yêu và được yêu nhưng phải xót xa nhìn cảnh "người yêu đi lấy chồng". Vì thế tâm trạng ấy càng đau khổ và xót xa hơn.

Những câu thơ đọc lên ta cảm giác có cái gì đó rất vô lý. Tại sao lại trèo lên cây bưởi mà hái hoa? rồi lại bước một cách dễ dàng xuống vườn cà? giữa vườn cà lại có nụ tầm xuân? Và nghịch lý hơn nữa là nụ tầm xuân lại có màu xanh biếc!

Nhưng cái hay, cái độc đáo của bài ca dao là ở chỗ đó. Từ cái tưởng chừng như vô lý nhưng lại trở nên rất hợp lý. Nó vô lý bởi lẽ tự nhiên nhưng lại hợp lý với lòng người. Dường như cái hành động "trèo lên", "bước xuống" ấy là hành động của vô thức, thể hiện tâm trạng rối bời của chàng trai. Và cái sắc màu "xanh biếc" ấy không còn là sắc màu thật nữa mà đó là sắc màu của ảo giác, sắc màu của tâm trạng. Nó không còn là sắc hồng thắm thiết của những tâm trạng đang yêu, mà giờ đây tất cả như đã biến sắc đổi hình.

Cách gieo vần trắc ("iếc" - biếc/tiếc) như xoáy sâu vào sự nối tiếc muộn màng của chàng trai, và sự đau khổ đến tột cùng.

Nếu như bốn câu đầu là lời của chàng trai, là tâm trạng rối bời, nối tiếc thì bốn câu cuối là lời của cô gái với sự trách móc về sự chậm trễ và thiếu chủ động của chàng trai.
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]"Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không"
[/align][/font]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify][font=Arial]Cách sử biện pháp đối lập các cụm từ "ba đồng", "một mớ"rất độc đáo. “Ba đồng” thì đã rõ, nhưng còn “một mớ” là bao nhiêu thì không xác định, chỉ biết rằng đó là một số lượng rất nhiều. Thông qua sự đối lập ấy, tác giả cho ta thấy giá trầu không càng rẻ thì lỗi của chàng trai càng lớn. Tuy nhiên, sự tinh tế của câu ca dao không phải là nói chuyện trầu mà là chuyện chàng trai nghèo, không đủ bản lĩnh để hỏi cưới nàng về làm vợ, khi mà người con gái không tự quyết được hôn nhân của mình.

Thông thường ca dao khi nói đến sự đau khổ trong tình yêu, thì nói đến sự phụ tình bạc nghĩa.
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]"Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao"

[align=left]Hay:[/align]

"Anh tưởng giếng nước sâu
Anh nối sợi gầu dài
Ai ngờ giếng cạn
Anh tiếc hoài sợi dây"

[align=left]Và có khi là:[/align]

"Tiếc công anh xe chỉ uốn cần
Bởi chưng biển động con cá lồng ra khơi"
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Nhưng không hề có chuyện phụ tình trong bài ca dao này. Bởi vậy ta càng quý trọng biết bao nhiêu những tình yêu thủy chung, son sắt. Như vậy mặc dù không lấy được nhau, nhưng trái tim họ thấu hiểu và cảm thông cho nhau.

Hai hình ảnh so sánh: Như chim vào lồng; như cá cắn câu được sử dụng vừa lặp lại, vừa đảo ngược như nhấn mạnh sự tù túng, bế tắc không thể thay đổi được nữa. Sự thực hiện tại là cô gái đã có chồng và cô phải làm trọn cái bổn phận làm vợ, làm mẹ của mình.

Câu hỏi: “Cá cắn câu biết đâu mà gỡ/ Chim vào lồng biết thuở nào ra?" thốt lên như một sự phản kháng, bất lực vì đã bị ràng buộc trong nghĩa vụ với gia đình. Phải chăng đó cũng là sự hy sinh thầm lặng của cô gái ? Về phương diện này, bài ca dao thể hiện được một khát vọng mãnh liệt về tình yêu chân chính. Đó cũng là lời tố cáo mãnh liệt những ràng buộc khắt khe của chế độ phong kiến.

Từ tâm trạng rối bời, nối tiếc của chàng trai và sự khổ đau trước thực tại trái ngang của cô gái. Bài ca dao kết thúc bằng một câu hỏi bỏ ngỏ, dở dang như chính cuộc tình của chàng trai và cô gái vậy.

[align=center]Hình ảnh[/align]

Bài ca dao kết thúc với biết bao dư vị xốn xang. Tôi thiết nghĩ: Giá như tất cả những mũi tên của thần Eros chỉ nằm ở túi bên phải và giá như tất cả mọi người trên thế gian này đều được “trúng thương” bởi mũi tên của thần Eros và có được một tình yêu ngọt ngào và hạnh phúc. Nhưng dường như cuộc sống là vậy: Có đau khổ mới có hạnh phúc, có xót xa nuối tiếc ta mới quý trọng hơn những điều ta có hôm nay.
[/font][/align]


[align=center][/align]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 14-11-2010, 02:30 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Courier New]Tìm Hiểu Thêm Về Xuất Xứ Bài "Trèo Lên Cây Bưởi Hái Hoa"[/font][/align]

[align=center][font=Arial]“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay”

“Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?... ”

“Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”
[/font][/align]

[align=justify][font=Arial]Chùm thơ này đã có trong dân gian từ lâu. Gọi là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

Truyện rằng: “Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi Sãi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long, tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh.

Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau:[/font]
[/align]


[font=Arial][align=center]“Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Cả triều đình không ai hiểu ý nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa… Đọc xong, nhà nho giải thích rằng: “Chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ Dư; chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến còn lại là chữ Bất; chữ Ái để mất chữ Tâm thì thành chữ Thụ, và chữ Lực đối địch với chữ Lai là chữ Sắc. Gộp cả bốn chữ mới lại thành câu: “DƯ BẤT THỤ SẮC, nghĩa là “Ta không nhận sắc phong”.

Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đã cao chạy xa bay rồi. Trịnh Tráng muốn ra quân đánh chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giã nổi lên, đành phải hoãn lại. Cho người dò la biết được việc Sãi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đình Lê - Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa lập mưu sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay”.
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Lời thơ nói đến chuyện anh và em thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống ruộng cà hái lộc mùa xuân. Tứ thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý khống chế.

Tương truyền Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Đào Duy Từ đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]“Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?...”
[/align][/font]


[font=Arial][align=justify]Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật hậu hơn, cầm thư chúa vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.

Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:
[/align][/font]


[align=center][font=Arial]“Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”
[/font]
[/align]

[align=justify][font=Arial]Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời…” [/font][/align]


Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 15-11-2010, 10:20 am 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Courier New]Chút hóm hỉnh dễ thương về tình yêu trong ca dao[/font][/align]

[font=Arial]
[align=justify](Congannghean.vn)-Thơ ca dân gian nói chung và ca dao nói riêng đề cập đến rất nhiều vấn đề có liên quan đến đời sống xã hội. Trong đó chủ đề về tình yêu như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt.Nó như một món ăn tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn ta. Giúp ta tránh được cái “bát nháo”, “nhộn nhạo” của những loại hình tình yêu thời hiện đại[/align]
[/font]


[align=justify][font=Arial]Với ai tôi không biết, nhưng với riêng tôi luôn “dị ứng” với những vần thơ tình yêu của các “nhà thơ” trẻ thời nay. Tình yêu là những câu chuyện thầm kín, ý nhị thế mà trong ngôn từ của các nhà thơ trẻ cứ lồ lộ những thịt da. Có cái gì cũng phô bày ra hết. Đọc mà thấy sợ, thấy ớn. Ngược lại, khi đọc những vần ca dao xưa nói về chủ đề tình yêu, tôi thấy nó thật là diệu vợi.
Vâng, ngày xưa, khi yêu người ta lí tưởng hóa người yêu và luôn cảm thấy mình bé nhỏ, vụng về. Phải chăng đó là dấu hiệu ban dầu của sự rung động thật sự. Các cô gái khi yêu, thường diễn tả sự choáng ngợp của tâm hồn mình khi nhìn và nghĩ tới người mình yêu. Họ luôn có tâm trạng bối rối, ngại ngùng rất đáng cảm thông:
[/font][/align]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[font=Arial][align=center]“Em như hoa nở trên cành
Anh như con bướm lượn vành bên hoa
Bây giờ anh lấy người ta
Như dao cắt ruột em ra làm mười”.
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Bài ca dao đã sử dụng liên tiếp hai hình ảnh so sánh. Hình ảnh thứ nhất nghiêng về ý nghĩa tạo hình. Cô gái ví mình như bông hoa tươi “nở trên cành”, còn chàng trai như con bướm lượn bên hoa.
Ở hình ảnh so sánh thứ hai ý nghĩa biểu cảm đậm nét hơn. Người bạn trai đi lấy vợ khiến cô gái cảm thấy nỗi đau đớn trong lòng được vật chất hóa như “dao cắt ruột”, không chỉ đau một lần mà mười lần đau đớn, xót xa. Và đây là bài ca dao thể hiện tâm trạng khác của cô gái:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]“Em như ngọn cỏ phất phơ
Anh như con nghé ngơ ngơ ngoài đồng”.
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Có thể nói, khó có câu ca dao nào vừa cô đọng, ngắn gọn lại vừa tạo hình ảnh cụ thể, sinh động mà ý nghĩa biểu cảm cao đến thế. Hình ảnh so sánh đã diễn tả một cách tài tình tâm thế cũng như tâm trạng của hai đối tượng.
Cô gái ví mình như ngọn cỏ may phất phơ trước gió (hẳn là ngọn cỏ non tơ, đầy sức sống nên mới “phất phơ”), thế mà chàng trai vô tâm, vô tình kia vẫn như con nghé ngu ngơ không để ý, không biết gì đến ngọn cỏ trong tầm tay với, mà ngọn cỏ thì dường như như chào mời, như chờ đợi
Thế đó, đọc thơ tình ngày nay lại nao nhớ về những vần thơ, những vần ca dao về tình yêu thuở xưa. Nao nhớ là vì tình yêu trong ca dao ngày ấy là những tiếng hát thầm kín, chân thành nhất. Các chàng trai, cô gái khi hát lên những tiếng hát về tình yêu thì những tiếng hát ấy là những khát vọng, là những ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, đồng thời nói lên quan niệm của mình về cái đẹp lí tưởng của con người.
Thú thực tôi luôn luôn thích thú cái tình thương, nỗi nhớ muôn màu, muôn vẻ của những đôi trai gái ngày xưa được thể hiện qua những câu ca dao ngắn gọn, súc tích. Ở đó, ta thấy được nỗi nhớ cháy bỏng của những mối tình:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]“Chim xa bầy thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi
Thà rằng chẳng biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi sao đành?”.
[/align][/font]


Hay

[font=Arial][align=center]'Đêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng…'
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Đến với mảnh đất Nam Bộ thành đồng, ta cũng sẽ được bắt gặp những câu ca dao nói về tình yêu đầy dấu ấn. Con người Nam Bộ vốn dĩ rất mộc mạc, chân thành, hồn nhiên, giản dị. Và điều đó thể hiện cũng thật đậm nét trong những vần ca dao của họ.
Cũng chính cái yếu tố bình dị, nghĩ sao nói vậy, mộc mạc, dễ hiểu đã làm cho ca dao Nam Bộ có sức sống rất mạnh, được quần chúng chấp nhận dễ dàng:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]“Hủ qua (khổ qua) xanh, hủ qua trắng
Hủ qua mắc nắng hủ qua đèo
Thương em, thì anh làm giấy giao kèo
Lăn tay điểm chỉ mới thiệt con mèo của em”...
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Thật khó tìm thấy những câu tương tự như vậy ở ca dao miền Bắc. Không những thế, ta còn bắt gặp ở những người lao động chân chất này bày tỏ tình cảm với nhau bằng những thứ khẩu ngữ thường ngày mà không có chút màu mè, chưng diện.
Tuy nhiên, cái tình trong đó thì thật là mãnh liệt, sâu sắc:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]“Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền”.
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Đặc biệt, những vần ca dao về tình yêu ở vùng đất này luôn mang chút gì đó chất hóm hỉnh, tinh nghịch và thông minh đến thật dễ thương.
Một chàng trai có thể phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:
[/font][/align]


[font=Arial][align=center]“Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên”.
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Những sắc thái tình yêu được thể hiện trong ca dao, dân ca muôn phần phong phú và ấn tượng. Sẽ không thể nào nói hết được vẻ thi vị, ý nhị của tình yêu nam nữ được thể hiện trong những lời ca diệu vợi. Hãy để lòng mình được lắng lại, tìm về những câu ca dao, dân ca ấy chúng ta mới thấy hết được nhưng nét tinh tế và những giá trị nhân văn sâu sắc của nó.[/font][/align]


[align=right][font=Arial]Nguyễn Thị Thọ[/font][/align]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 22-11-2010, 01:31 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[font=Comic Sans MS][align=center]Tiếng Cười trong Ca Dao Tây Nam Bộ[/align][/font]

[font=Courier New]
1. Khái niệm cười trong văn học
[/font]


[align=justify][font=Arial]Tự điển Tiếng Việt định nghĩa cười (động từ): Nhích môi, hé miệng, nhe răng phát ra tiếng hay không để tỏ sự vui mừng hay một ý tứ gì [246; 2]

Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra phạm trù cái hài. Phạm trù mĩ học phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau.

Cái hài gắn với cái buồn cười, nhưng không phải cái buồn cười nào cũng trở thành cái hài. Cái hài bao hàm ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tưởng thẩm mỹ cao cả. [42; 4]. Ca dao Tây Nam Bộ xuất hiện nhiều tiếng cười độc đáo. Nó chính là cái hài như quan điểm của lý luận văn học.
[/font][/align]


[font=Courier New]
2. Ca dao Tây Nam Bộ với việc miêu tả các tiếng cười
[/font]


[align=justify][font=Arial]Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Quốc Vượng (chủ biên), Nxb Giáo Dục, H. 2006, phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số đảo (lớn nhất là đảo Phú Quốc) cùng một vài dãy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang.

Cũng như các vùng miền khác, theo bước chân người đi mở cõi thì lời ca, tiếng hát, điệu hò, điệu lý, ... tất cả như hơi thở không thể thiếu được trong sinh hoạt của người bình dân. Và lẽ tất nhiên trong đó không thể thiếu tiếng cười:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Chuồn Chuồn đậu ngọn cau lơ
Anh cười bả lả, em ngờ duyên anh
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Hãy khoan bàn đến nội dung và chức năng của tiếng cười, điều này chúng tôi sẽ bàn ở phần sau. Ở đây chúng tôi điểm qua các cách kết hợp của từ cười trong ca dao.
Như đã nói, cười là một động từ:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Nực cười con tạo trớ trênh
Chữ duyên chao chát, chữ tình lãng xao
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Còn đây là sự kết hợp của động từ cười với một tính từ để khu biệt nghĩa:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]+ Chiều chiều ra đứng vườn cà
Thấy em cười lạt anh biết đà hết duyên

+ Cóc nghiến răng còn động lòng trời
Cũng vì em có điệu cười mỉm chi
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Cái cười lạt của câu trên đã phần nào giúp cho người trong cuộc và cả người nghe được câu ca ấy hiểu rõ được kết cục của một chuyện tình!
Cô gái có nụ cười mỉm chi ấy như đã tô đẹp vẻ sắc nước hương trời làm rúng động cả thiên nhiên, loài vật!
Cười được đặt sau danh từ:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Chẳng tham nhà ngói lung linh
Tham vì một nỗi anh xinh miệng cười
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Bốn từ cuối là bốn từ loại khác nhau, tác giả dân gian khéo sắp đặt để có kết hợp hài hoà giữa đại từ nhân xưng (anh), tính từ (xinh) danh từ (miệng) và động (cười).
Cười kết hợp với các đại từ phiếm định:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Ngửa tay lấy tấm vàng mười
Quần bô áo vải ai cười mặc ai
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Ai trong trường hợp này đều là những đối tượng không xác định!
Cười cũng có thể kết hợp với các hư từ:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Vô duyên chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Xét về góc độ từ pháp chúng ta đã phần nào thấy được sự đa dạng của cái "cười"![/font][/align]


[font=Courier New]
3. Giọng trào phúng trong ca dao Tây Nam Bộ
[/font]


[font=Arial]3.1 Những giới thuyết[/font]


[align=justify][font=Arial]Trào phúng là thuật ngữ văn học. Đây là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước, ... được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng ... những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội [363; 4]

Từ điển thuật ngữ văn học còn xác định một nét nghĩa nữa trào phúng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác [363; 4]. Theo nghĩa hẹp hơn, chúng tôi nhận thấy trong văn học, đặc biệt là trong thơ ca dân gian cũng xuất hiện giọng điệu trào phúng.

Giọng điệu nghệ thuật với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ, một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong việc cấu thành phong cách nhà văn là vấn đề đã được nhận ra từ lâu kể cả trong văn học Phương Tây và văn học phương Đông. Nhiều bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra và chứng minh vai trò quan trọng của giọng điệu (tone) hay "văn khí", "hơi văn", "giọng văn" (cách gọi quen thuộc ở Trung Quốc và Việt Nam) không chỉ trong sáng tác mà cả trong nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm văn học và phong cách cá nhân nhà văn.

Nhắc đến phong cách có nghĩa là chúng ta thừa nhận mỗi nhà văn có một giọng điệu riêng, đồng thời cũng từ đó ta khẳng định một thể loại được nhiều nhà văn chọn thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm thì cũng sẽ có giọng điệu chung - giọng điệu thể loại.

Song, vấn đề đặt ra ở đây là thơ ca dân gian nói riêng và văn học dân học dân gian nói chung có giọng điệu không? Theo chúng tôi, ca dao, như mọi thể thơ khác, nó cũng có giọng điệu. Không có giọng điệu thì hoá ra mọi lời lời thơ - lời nói đều như nhau sao? Tất nhiên, người ta có thể hiểu khái niệm giọng điệu theo những nghĩa rộng hẹp khác nhau. Lịch sử thơ ca chứng minh có sự tồn tại nhiều loại hình giọng điệu: giọng điệu thơ dân gian, giọng điệu thơ cổ điển, giọng điệu thơ hiện đại... Như vậy, vấn đề đặt ra không phải là hỏi ca dao có giọng điệu hay không mà hỏi giọng điệu trong ca dao có đặc thù gì?

Ít nhất, có thể nghĩ giọng điệu trong ca dao không mang đậm dấu ấn cá nhân - cá thể. Điều này có thể giải thích được căn cứ vào tính tập thể, tính truyền miệng của ca dao. Giọng điệu ở đây chủ yếu gắn liền với tính loại hình của những nội dung cảm xúc hay sự việc được bày tỏ, miêu tả. Cảm xúc, sự việc khác nhau thì giọng điệu khác nhau. Có lẽ, sự khác biệt của giọng điệu ở từng bài ca dao chỉ dừng ở đó.

Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi khẳng định trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học và cái hài với các cung bậc hài hước umua, châm biếm [363; 4]. Căn cứ vào nhận định ấy, và qua khảo sát từ thực tế chúng tôi nhận giọng điệu trào phúng của ca dao Tây Nam Bộ trải qua các cung bậc:
[/font][/align]


[font=Arial]3.2. Giọng điệu trào phúng qua ca dao Tây Nam Bộ[/font]


[font=Arial]3.2.1 Giọng bông đùa, hài hước[/font]


[align=justify][font=Arial]Đây là cung bậc "nhẹ" của tiếng cười. Người bình dân mệt sông nước tự trào, bông đùa, ... dù là những sáng tác dân gian, nhưng yếu tố tự tình vẫn "đậm" dấu ấn. Trước hết ta gặp giọng điệu này ở những câu ca dao đùa vui, trào lộng với nội dung diễn tả những sự việc "lạ" trong cuộc sống hay sự "hớ hênh" của con người.

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình "hú vía" vì kịp thời nhận ra "chân tướng" đối tượng:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng sâm cao ly bên Tàu
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Đây là hình ảnh của "nạn nhân":[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Cô kia cười cợt ghẹo trai
Cái miệng méo xẹo như quai chèo đò
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Cười cợt một con người không đứng đắn, "ham vui" bằng một giọng hóm hỉnh:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Giữa trưa đói bụng thèm cơm
Thấy đùi em vợ như tôm kho tàu, ...
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Nhưng nổi bật hơn hết giọng điệu bông đùa hài hước gặp rất nhiều trong những câu dao với đề tài tình yêu đôi lứa:
Từ một sự chọc ghẹo "quá đà":
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Vú em nhu nhú chúm cau
Cho anh bóp cái có đau anh đền

Hay:

Nước láng linh chảy ra Vàm Cú
Thấy em chèo cặp vú muốn hun
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Một lời tỏ tình cũng đầy tiếng cười hơn là chủ đích thực của nó:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Đến lúc anh chàng tương tư, giọng điệu cũng bông lơn hết chỗ nói:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Khẳng định sự chung thuỷ dù muôn ngàn trở lực:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Ngay những mộng mơ tơ tưởng cũng không kém phần hài hước:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]+ Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!

+ Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Họ xa nhau vì bởi ông tơ, bà nguyệt thì những "đối tượng" ấy thành nạn nhân để họ trút giận:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng không se
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Trong khi tan vỡ duyên tình giọng điệu kia cũng đem đến những nét khác biệt:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển... đợi nước đầy qua chèo vô
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Nó không như giọng tâm tình thường thấy ở những câu ca biểu hiện cung bậc này trong tình yêu:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Ai dè nước giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Trong cuộc sống vợ chồng, khi có sự bất hoà, giọng điệu hài hước cũng có mặt kịp thời:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Mù u ba lá mù u
Vợ chồng cãi lộn con cu giảng hoà
[/font][/align]


[font=Arial]3.2.2. Giọng châm biếm, đả kích[/font]


[align=justify][font=Arial]Đả kích, châm biếm xét về mặt chức năng của ca dao hài hước nó sẽ ở một "cấp độ" cao hơn, nặng hơn. Nếu như giọng bông đùa, hài hước phần lớn thể hiện chức năng tự trào, để giải trí, thì châm biếm, đả kích hướng tới việc phên phán đối tượng với những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống.
Cũng là lời tỏ tình, nhưng chúng ta hãy nghe đây lời đối đáp:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]+ Anh có thương em thì cho em một đồng,
Để em mua gan công, mật cóc thuốc chồng em theo anh.

+ Nghe hò tao phát nổi xung
Dớt cho một phảng chết chung cho rồi!
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Một lời tỏ tình với một cô gái đã có chồng đã là trái đạo lý. Song, khi nghe cô gái kia đáp lại chuyện "thuốc chồng", người ngỏ lời hay đằng sau họ là nhân dân đã không thể dung thứ, đó là lời cảnh báo: bắt cho gian phu dâm phụ "chết chung!" âu cũng là điều tất yếu.

Trong tình duyên, tiếng cười "lãnh nhách" làm cho hai kẻ hai đường:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Tưởng đâu bến đã gặp thuyền
Nào hay em cười lãng nhách anh liền lui ghe
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Chàng trai ý thức rằng không phải lúc nào tiếng cười cũng vui cửa vui nhà, có khi đó là điều tai hoạ:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Thà rằng chịu cảnh gông xiềng
Còn hơn có vợ cười vô duyên trong nhà
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Đối với những con người không đứng đắn:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Con quạ nó núp vườn chồi
Thấy em đứng cười lỏn lẻn với ai
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Chắc chắn đây là "đối tượng" không thể tin được, bởi sự gian dối, lọc lừa:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Quét nhà long mốt long hai
Cha mẹ đi vắng dẫn trai vô nhà
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Đối với những con người "vượt rào" như vậy, dân gian không tiếc lời:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Chuối non vú ép chát ngầm
Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm
Khóc đêm mẹ lại mắng thêm
Vợ đâu tao cưới nửa đêm cho mày?
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Có khi cả "người lớn" cũng là "nạn nhân" cửa sự châm biếm:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Mẹ ơi con muốn lấy chồng
Con ơi mẹ cũng một lòng như con
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Họ tự khuyên mình:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Cười người ngó lại sau vai
Xem mình trong sạch hơn ai mà cười
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Và đây là những chân tướng bị tác giả dân gian lên án, phên phán, đả kích.Một văn nhân nào đấy tự khoe là học đạo lý thánh hiền, nhưng cũng không thoát được dục vọng thường tình của con người:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Văn chương chữ nghĩa bề bề
Thần l.. ám ảnh mà mê mẫn đời
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Một tay anh hùng làm ra dáng vẻ đạo mạo, trở thành tiếng cười đầy ẩn ý mỉa mai:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Dậm chân xuống đất cái đùng
Vỗ l ... cái phạch chào anh hùng đến đây!
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Một thầy bói, chuyên sống bằng nghề ăn may nói mò:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Nực cười thầy bói trèo cau
Buồng thì không bẻ bẻ tàu quơ quơ
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Hãy nghe giọng cười mà tác giả dân gian giễu cợt thầy:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Nhà bà có con chó đen
Người lạ nó sủa người quen nó mừng
Nhà bà có cái cối xay
Bốn chân dưới đất, ngõng quay lên trời
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Và đây là những bài học, những lời cảnh báo ẩn chứa giọng điệu mà chúng tôi đề cập:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]+ Rung rinh nước chảy qua đèo
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

+ Mèo hoang thì chó cũng hoang
Một chàng ăn trộm gặp nàng nhổ môn

+ Có chồng thì mặc có chồng
Tôi đi ngủ dạo kiếm ít đồng mua rau!

+ Cầm chài mà vải bụi tre
Con gái mười bảy đi ve ông già!

+ Củ lang nấu lộn củ mì
Cháu lấy chồng dì kêu dượng bằng anh

+ Con gái chơi với con trai
Coi chừng cặp vú như hai sọ dừa
[/font][/align]


[font=Courier New]
4. Cách thức thể hiện của những giọng điệu trào phúng:
[/font]


[font=Arial]4.1. Dùng cách nói phóng đại[/font]


[align=justify][font=Arial]Phong cách ngôn ngữ học gọi đây là biện pháp tu từ khoa trương, hay thậm xưng, tức là phương thức cường điệu một mức độ, một tính chất, một đặc điểm nào đó của sự vật, sự việc, con người:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]+ Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về!
+ Con gái mười bảy mười ba
Đêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng
Mẹ giận mẹ phát ngang hông:
"Đồ con chết chủ đòi chồng thâu đêm"!
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Chúng ta vốn đã rất quen lối nói này ở ca dao Việt Nam:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Lỗ mũi mười tám cánh lông
Chồng thương chồng bảo tơ hồng trời cho
[/font][/align]


[font=Arial]4.2. Nghệ thuật chơi chữ.[/font]


[align=justify][font=Arial]Hoàng Phê giải thích: "Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, ... trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, ...) trong lời nói. (Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo Dục. H. 1994).

Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là "lộng ngữ" và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe". Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. (có thể xem đây là hình thức của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). Các tác giả trong quyển từ điển này cho rằng: nhìn chung các lộng ngữ đều mang tính hài hước, thường được sử dụng trong văn thơ trào phúng (có thể xem đây là tác dụng của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). [183; 4]
Như vậy, giọng điệu bông đùa, trào lộng không thể thiếu được biện pháp nghệ thuật này. Chơi chữ có rất nhiều dạng, ở đây chúng tôi chỉ điểm qua những hình thức cơ bản của chơi chữ mà thôi!
Dùng từ đồng âm:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]+ Cu tôi vừa mới đâm lông
Cho mượn cái lồng nhốt đỡ vài đêm?
+ Cu tui ăn đậu ăn mè
Ăn chi của chị mà chị đè cu tui
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Cu vừa chỉ con chim gáy, vừa dùng để ám chịu điều mà nhận vật trữ tình kia muốn nói. Lồng vừa là dụng cụ dùng để nhốt chim và lẽ tất nhiên câu ca nọ không dừng lại ở đó, nghĩa mà nó muốn hướng đến là nghĩa ẩn ở chiều sâu, buộc "đối phương" phải hiểu ...

Dùng từ đa nghĩa:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Cồng cộc bắt cá bầu eo
Chi chê tôi bé, tôi trèo chị coi
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Cách nói lấp lửng "chê tôi bé" hay "cái gì" của tôi bé! Tác giả câu ca còn bạo dạn "đòi" trèo (gợi hành động ân ái), ... tất cả đã tạo nên sự hài hước mà không kém phần thú vị!
Lối lấp lửng này, ta còn gặp nhiều câu khác:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]+ Ví ví von von
Anh cho một cái, cõng con về nhà

+ Cô tú kẽo kẹt cậu cai
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới sông
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Cách chơi chữ ở đây là dùng từ tượng thanh chỉ cả hành động thực lẫn động tác của nam nữ lúc yêu đương!
Lối nói lái:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Tặng anh cái áo tôn là
Ban ngày mặc mát tối ra câu đề
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Hai chữ cuối của mỗi dòng đều sử dụng cách nói lái.[/font][/align]


[font=Arial]4.3. Dùng yếu tố tục[/font]


[align=justify][font=Arial]Chuyện nói tục thiên về cái tục là chuyện của mọi dân tộc, trong đó có người Việt Nam. Nói tục nhằm vào một sự hạ giá. Song không nên quá cực đoan về sự hạ giá này. Nói tục để gây cười nhằm thoả mãn sự nghịch ngợm. Nói lái trong nghệ thuật chơi chữ cũng là một phần của nói tục. Thực tế của việc nói tục là dùng nhiều từ ngữ chỉ hoặc gợi sinh thực khí (của đàn bà nhiều hơn, có lẽ do văn hoá và tính cách đàn ông, nam giới nói tục nhiều hơn chăng?) hay cả hành động ân ái vợ chồng. Tất cả những yếu tố tục ấy taynambo tạo giọng điệu bông đùa, gây tiếng cười thoải mái.[/font][/align]


[font=Courier New]
5. Vài kết luận
[/font]


[align=justify][font=Arial]Cái cười, tiếng cười là một yếu tố, một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người. Ca dao dân ca là tiếng lòng của người lao động, đương nhiên họ đem tiếng cười vào trong lời thơ điệu hò câu lý như một lẽ tất nhiên không phải bàn cãi.

Qua cái cười ấy, chúng ta hôm nay thấy được tâm hồn phúng khoáng, bông đùa, hay trào lộng vừa để tạo không khí thoải mái, vui vẻ, nhưng không dừng lại ở đó, nó còn ẩn chứa nhiều bài học răn đời, nhiều đối tượng bị đả kích giễu cợt, ... cốt làm cho cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn.

Trí tuệ thể hiện những vần ca điệu hát ấy như những hạt ngọc sáng ngời, nó là sản phẩm của những tâm hồn "gần bùn mà chẳng tanh hôi mùi bùn". Tìm trong văn học dân gian những kho tàng tri thức quý giá đó là một việc cần thiết cho những yêu và quý cội nguồn văn hoá dân tộc./.
[/font][/align]


[align=right][font=Impact]Th. Sĩ Trần Minh Thương (vanchuongviet)[/font][/align]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 29-11-2010, 10:38 am 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Courier New]Vài Cảm Nhận Về Môtip "Đôi Ta..." Trong Ca Dao Tây Nam Bộ[/font][/align]

[align=justify]
[font=Arial]1. Môtip (tiếng Pháp: motif), theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, cho biết theo Hán Việt motip là mẫu đề (do người Trung Quốc phiên âm chữ motif trong tiếng Pháp), có thể chuyển thành các từ khuôn, dạng hoặc kiểu trong tiếng Việt nhằm chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật dân gian. (...) Ví dụ những bài ca dao Than thân của người phụ nữ đều mở đầu bằng câu công thức "Thân em", "Thân em như thể", ...


Theo Từ điển tu từ - phong cách – thi pháp học, Nguyễn Thái Hoà cho biết thêm "Trong nghiên cứu văn học có thể hiểu môtip nghệ thuật theo những cách sau:

- Chủ đề được lặp đi lặp lại;
- Trong thơ ca, môtip là biểu tượng mang giá trị tượng trưng.
[/font]
[/align]

[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify]
[font=Arial]2. Khảo sát những câu ca dao Tây Nam bộ trong công trình Bộ hành với ca dao do Lê Giang sưu tầm, sưu tập và biên soạn, chúng tôi nhận thấy có gần 60 bài ca dao xuất hiện bằng motip "Đôi ta ...". Dù cùng một dạng motip so sánh, song, xem xét kỷ từng nội dung, chúng tôi nhận thấy ở đó có nhiều điều thú vị đặc biệt.

Thứ nhất, xét về cập độ nội dung, "đôi ta" luôn chỉ đến hai người, là hai đối tượng trong tình yêu lứa đôi. Thoạt nghĩ, đôi ta đã là chuyện "sum hợp một nhà"! Nhưng thật độc đáo, ở ca dao cụm đại từ này không dừng lại ở đó. Nó biểu hiện đầy đủ tất cả các cung bậc của tình yêu lứa đôi: Từ buổi ban đầu gặp gỡ, một người nào đó trong "đôi ta" thốt lên:
[/font]
[/align]

[align=center][font=Arial]Đôi ta như đá với dao
Năng liếc năng sắc năng chiều năng quen
[/font]
[/align]

[align=justify][font=Arial]Hay bộc lộ một thái độ "mừng rỡ" không thể kèm nén:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ non
[/font]
[/align]

[align=justify][font=Arial]Đã quen biết nhau, họ coi đây như "duyên tiền định":[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta như đũa trong kho
Không tề không tiện không so cũng bằng
[/font]
[/align]

[align=justify][font=Arial]Tình đầu, duyên mới, sự trong trắng trinh nguyên được bộ lộ:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta như áo mới may
Như chuông mới đúc, như cây mới bào
[/font]
[/align]

[align=justify][font=Arial]Và khéo léo ngõ lời:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta mưa ướt áo rồi
Kiếm nơi đỏ lửa vô ngồi hơ chung
[/font]
[/align]

[align=justify][font=Arial]Họ dặn dò nhau:[/font][/align]


[font=Arial][align=center]- Đôi ta như lúa phơi màu
Đẹp duyên thì lấy ham giàu làm chi

- Đôi ta hái củi một rừng
Bứt dây một cội xin đừng nghe ai
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Nguyện vượt mọi trắc trở, tìm đến nhau, hướng về nhau:[/font][/align]


[font=Arial][align=center]- Đôi ta như ruộng năm sào
Cách bờ ở giữa làm sao cho liền

- Đôi ta như thể đôi chim
Ngày ăn tứ tán tối tìm cội cây
[/align][/font]


[align=justify][font=Arial]Dù muôn vàn cách trở "đôi ta" cũng sẵn sàng nâng đỡ dìu dắt nhau đến cùng trời cuối đất:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta như rắn liu điu
Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Còn đây một lời thề nguyền quen thuộc trong tình yêu lứa đôi:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]- Đôi ta chung thuỷ vẹn tuyền
Xem lên mái tóc hương nguyền còn đây

- Đôi ta thề thốt giữa đàng
Vạch cây khắc chữ hỏi chàng nhớ không?
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Đã đến lúc duyên tình bén lửa, "đôi ta" không thể chia xa nhau nữa, cung bậc "tương tư" cũng hiện lên thật đẹp:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta gá nghĩa giữa đồng
Về nhà luống chịu nước mắt hồng tuôn rơi
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Tình yêu nào rồi cũng đến hồi kết thúc, kết quả thì không phải một mà là hai:
Hoặc "đôi ta" làm con một nhà:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta là nghĩa tào khang
Trăm năm vẹn giữ lòng vàng thuỷ chung
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Họ luôn trọn thuỷ tròn chung dù muôn vàn khốn khó:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta bá nghệ tuỳ thân
Sớm hái rau chiều đốn củi đỡ đần nuôi nhau
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Hoặc chịu cảnh:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta chẳng đặng sum vầy
Khác nào kiếp nhạn lạc bầy kêu sương
[/font][/align]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=justify][font=Arial]Nguyên nhân thì có nhiều, một trong số đó là:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta như lúa đòng đòng
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Hay như nguyên nhân gây ra là bởi "ai" trong "đôi ta" ấy![/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta mới gặp đã lìa
Trách ai bẻ khoá quăng chìa xa nhau
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Bởi tại "trời":[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta trắc trở tại ai
Trăng lu vì bởi đám mây chàng ràng
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Tóm lại, motif "đôi ta" đã diễn tả khá đầy đủ các cung bậc trong tình yêu lứa đôi, điều lý thú hấp trong loại hình nghệ thuật dân gian: ca dao!
Thứ hai, về nghệ thuật, "đôi ta như ..." thể hiển nổi biện hình thức so sánh tu từ.
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta như quế với gừng
Dù xa cách mấy cũng đừng quên nhau
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Nhưng không chỉ có thế, môtip này cũng sử dụng nhiều hình thức khác:[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta xôi đứng "xứng đôi"
Khi đi cũng đẹp, khi ngồi cũng cân
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Câu ca sử dụng biện pháp chơi chữ theo cách nói lái giữa hai thành tố: xôi đứng (động từ) để tạo ra hình tượng "xứng đôi" (tính từ). Từ chuyện "đôi ta" cùng thực hiện hành động đứng "đồ xôi" để họ nói lên điều cần thiết hơn, ngõ lời: đôi ta – xứng đôi!
So sánh với điển tích:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta như nghĩa Châu - Trần
Khi xa ngàn dặm khi gần tấc gang
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Sách xưa Trung Quốc chép rằng: Châu Trần nhị tính thế thế hôn nhân, nghĩa là hai họ (có sách ghi là hai thôn) Châu và Trần đời đời kết hôn với nhau
Hay so sánh với mối tình Kim – Kiều, hai nhân vật quen thuộc của văn học viết (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta như Kim Trọng – Thuý Kiều
Đã lắm lúc đắng lại nhiều lúc cay
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Mượn "mười lăm năm đoạn trường của hai nhân vật này để "đôi ta" nói lên cảnh tình "đắng cay" của chính họ!
Một môtip khác đi đôi chút với những điều mà chúng tôi đã đưa ra ở trên:
[/font][/align]


[align=center][font=Arial]Đôi ta cùng một chữ nghèo
Tỷ như có bọt thì bèo lăn tăn
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Không so sánh dạng "đôi ta như" quen thuộc mà đưa ra điểm chung của hai đối tượng được so sánh (đôi ta với bọt và bèo) trước đó là "chữ nghèo", thay "như" bằng "tỷ", không khác motip nhưng hình thức diễn đạt thì đa dạng hơn.

Thứ ba, chúng tôi xin điểm qua các đối tượng dùng để so sánh với "đôi ta". Đã nói là so sánh tất chúng phải có điểm chung và từ điểm chung nó giúp cho người đọc liên tưởng để tìm ra nét tương đồng. Có khi điểm chung ấy hiển hiện ngay trên câu chữ mà tác giả dân gian sử dụng:
[/font][/align]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=center][font=Arial]Đôi ta như thể con ong
Con quấn, con quít con trong con ngoài
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Điểm giống nhau giữa đôi ta với "con ong" là sự "quấn quít" từ con trong đến con ngoài ấy!

Nhưng phần lớn, sự liên tưởng giữa đôi ta và đối tượng so sánh bị giấu, bị ẩn đi:
[/font][/align]


[align=center]Hình ảnh[/align]

[align=center][font=Arial]Đôi ta như quế với gừng
Dù xa xôi mấy cũng dừng quên nhau
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]Quế với gừng luôn ở cạnh nhau, vị cay của hai loại thực vật này tạo nên cảm giác nồng ấm, ... tất cả những điều đó được dùng "huy động" để liên tưởng đến tình "đôi ta", ...

Qua khảo sát, chúng tôi thấy ở motip so sánh "đôi ta" có rất nhiều "đối tượng được đưa ra để người tiếp nhận liên tưởng. Từ những hình tượng dân dã, quen thuộc, đó là các con vật như rắn liu điu, như con bò gầy, như cá thờn bơn, như thể con ong, là đôi chim, ... đó là các đồ vật: đá với dao, nút với khuy, như thể đồng tiền, như bộ chén chung, đũa trong kho ... đó là các loài cây cỏ: như lựu với đào; như quế với gừng; như lúa đòng đòng; như lúa phai màu; như cỏ mọc hoang; ... đó là như hình ảnh chung chung từ một cổ ngữ: như ngãi Châu – Trần (một điển tích); là ngãi tào khang (một từ cổ ẩn chứa một điển tích); như nghĩa ba sinh (từ Hán Việt, gợi chuyện trăm năm), ....
[/font][/align]


[align=justify][font=Arial]3. Vài dòng kết luận

Trí tuệ dân gian thật phong phú và sâu sắc, rất nhiều dạng thức cùng motip nhưng vẫn rất đa dạng, không hề trùng lặp, không tạo sự nhàm chán.
Những hình ảnh quen thuộc, gần gũi giản dị của cuộc sống thường nhật trở nên lung linh, đa sắc thái khi đi vào nghệ thuật so sánh. Bên cạnh đó, những từ Hán Việt, những điển tích trong sử sách càng làm cho những viên ngọc dân gian thêm chói sáng bởi sự tiếp thu sắc nét từ văn chương bác học.
[/font][/align]


[align=right][font=Courier New]Th. sĩ Trần Minh Thương[/font][/align]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 05-03-2011, 01:06 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Courier New]Định ngữ “Hạnh” ở “Đèn hạnh” trong ca dao[/font][/align]
[align=right]TRIỀU NGUYÊN[/align]
[tab=30][align=justify]Có một số bài ca dao dùng hình ảnh "đèn hạnh", xin dẫn ra dưới đây ít bài:[/align]
[align=center](1) Đêm khuya đèn hạnh thắp lên,
Vì chưng thương nhớ cho nên đi tìm.

(2) Cậy cùng đèn hạnh tim lê,
Mực mài nước mắt, thơ đề chéo khăn.


(3) Em nghe tin anh dóng dả ra về,
Tay em khêu cây đèn hạnh, tay em đề câu thơ.

(4) Hát lên ta nhởi ta chơi,
Mấy khi đèn hạnh soi nơi quyển vàng.

(5) Chàng ở bạc chớ thiếp không bạc,
Bởi con dao vàng sút ngạc, nên đèn hạnh lu li;
Chờ chàng ba bốn năm ni,
Trông không thấy bóng, thiếp phải đi lấy chồng.
[/align]

[align=justify][tab=30]Bài (1), (3) và (4) từ hát phường vải Nghệ Tĩnh; bài (5) thuộc ca dao Bình Trị Thiên; còn bài (2) chép lại từ hai bộ sưu tập ca dao trên phạm vi toàn quốc, không ghi xuất xứ địa phương.[/align]
[align=justify][tab=30]Theo Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao (Ca dao Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa và Thông tin Nghệ Tĩnh, 1984, tr. 419), thì "đèn hạnh" là "loại đèn lồng; tán bằng giấy trắng, ngày xưa thường dùng nơi bàn học". Và như vậy, thì nói đèn hạnh" không khác khi nói về "đèn bão", "đèn hiệu", "đèn pha", "đèn xếp",..., vì chúng đều có ý nghĩa biểu vật rõ ràng.[/align]
[align=justify][tab=30]Nhưng cho dù có một loại "đèn hạnh" như đã miêu tả, thì nó vẫn không thỏa đáng về nghĩa, khi xem xét các bài ca dao cụ thể. Chẳng hạn, với bài (2), do sự tương ứng về nghĩa với "tim (bấc) lê", mà "hạnh" trong "đèn hạnh" có nét nghĩa quả hạnh (quả mận); và với bài (4), thì chuyện "thường dùng nơi bàn học" của "đèn hạnh" bị phủ định. Như vậy, "đèn hạnh" có thể đã khoác một ý nghĩa hàm chỉ, đối lập với ý nghĩa tiểu vật đã nêu. Một ý nghĩa như vậy thường được tìm thấy không phải ở chủng loại sự vật ở cấp độ cao, mà ở chủng loại sự vật ở cấp độ thấp, xét về mặt cấu trúc; cụ thể ở đây, không phải "đèn" mà là "đèn hạnh", với định ngữ "hạnh" trong các kết hợp tương tự.
[/align]
[tab=30][align=justify]Các kết hợp này có thể tìm thấy trong ca dao qua một số dạng sau:[/align]
[align=center]+ Gió đưa buồm hạnh rảnh rang,
Tiếng nhơ thiếp chịu, để chàng danh thơm.

+ Tới đây phân rẽ đôi đường,
Đó lui buồng hạnh, cố hương đây về.

+ Đèn chong phòng hạnh biếng xem,
Phải chi trời định anh với em vợ chồng.

+ Hai trái ổ qua đặt trên bàn hạnh,
Em nghiêng ve ngọc, anh chuốc chén rượu đào
Để người quân tử chí cao,
Đủ mùi tanh ngọt, thiếp mới trao ân tình.

+ Em có chồng rồi, bớt ngọn tóc mai,
Bớt cái khăn chéo hạnh, kẻo trai tơ lầm.
- Trai lầm, trai phải mang gông,
Cái khăn chéo hạnh của chồng em cho.

+ ... Nhắn nhe vườn hạnh
Ngồi đợi chim xanh
Khéo đưa tình
Đưa lại cho ta... (Mảnh trăng thề, Ca Huế)
[/align]

[align=justify][tab=30]Không có sự phân biệt về loại giữa buồm hạnh, buồng hạnh, phòng hạnh, bàn hạnh, khăn chéo hạnh và vườn hạnh với các loại buồm, buồng, phòng, bàn, khăn chéo và vườn; nhưng có thể xác định chúng là vật thuộc quyền sở hữu của phụ nữ, và thuộc vào các ngữ cảnh nói về sự hi sinh, khôn khéo hay chung thủy, đợi chờ. Qua đó, có thể nhận ra ý nghĩa chung của định ngữ "hạnh", là "nết tốt của người phụ nữ".
[/align]
[align=justify][tab=30]Trở lại với "đèn hạnh" ở nét nghĩa vừa nêu của "hạnh", chúng ta có được một hình ảnh vừa cụ thể (đèn thắp sáng) vừa biểu trưng (tiết hạnh, phẩm chất của người phụ nữ). Do tính chất phát sáng và hình dáng trắng tròn của cây đèn hạnh trong thực tiễn, mà nó gợi nên sự liên tưởng về thân phận của người phụ nữ ở mặt phẩm tiết.(1) Quá trình tạo nghĩa ẩn dụ (mang tính biểu trưng) này, đồng thời cũng là quá trình biến đổi nghĩa của định ngữ "hạnh", từ địa hạt hình vóc (rất có thể là quả hạnh) đến lĩnh vực tinh thần (là phẩm hạnh). Nét nghĩa này của "đèn hạnh" tỏ ra thỏa đáng với năm bài ca dao đã dẫn, cả trường hợp của truyện thơ dân gian Mã Phụng Xuân Hương, ở lời thư của bà Phó gửi cho chồng: "Biết bao giờ có sớ triệu hồi; kẻo thiếp chịu mồ côi đèn hạnh?".
[/align]
[align=justify][tab=30]Một vấn đề nữa, thiết nghĩ, cũng nên đặt ra ở đây, là những bài ca dao có dùng hình ảnh "đèn hạnh", hầu hết thuộc Nghệ Tĩnh - Bình Trị Thiên; còn số những bài ca dao dùng "buồm hạnh", "buồng hạnh", "phòng hạnh"... vừa dẫn, lại có xuất xứ từ Bình Trị Thiên đến Nam Bộ. Điều này cho phép nhận xét: 1. Sự nhân rộng định ngữ "hạnh" trong các kiểu kết hợp cho thấy sự nhạy cảm về vấn đề, ở các địa bàn là chủ nhân của chúng; và 2. Sự hình thành một ẩn dụ mang tính biểu trưng (biểu tượng), đòi hỏi hình ảnh làm nền (cái biểu đạt) phải có những thuộc tính bền vững và tạo được các liên tưởng tương ứng, điều này ca dao có lúc phải tốn cả thế kỉ mới tạo dựng xong, mà "đèn hạnh", xét về mặt chất lượng, không gian và thời gian sáng tác, lưu truyền và diễn xướng, tỏ ra đáp ứng được.
[/align]
[align=justify][tab=30]Nếu xem "hạnh" là chất lửa thì sự phát sáng của nó chỉ "bền bỉ" hơn, "kín đáo" hơn, "được quý trọng" hơn và cả "trí tuệ" hơn, khi nó đến được với "đèn" và trở thành "đèn hạnh". Tập hợp những cái "hơn" này là nội hàm của "đèn hạnh". Đó chính là cái phẩm tiết của người phụ nữ đã nói.
[/align]

Sưu tầm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2011, 03:17 pm 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Courier New]Đi tìm vẻ đẹp Ca Dao, Dân Ca[/font][/align]

[align=justify]
[tab=30]Tôi xin bắt đầu bài viết này từ một câu ca dao mà tôi bắt gặp năm 1988, tại Vũng Liêm, do một cô giáo sinh đọc ngoài cửa phòng nghỉ của tôi, nhưng cố tình cho tôi nghe được.
[/align]

[align=center][align=left]Rau răm đất cứng dễ bứng khó trồng
Dẫu thương cho lắm cũng chồng người ta
[/align][/align]
[align=justify]
[tab=30]Câu ca dao bình thường thôi, nhưng phải nghe đúng ngữ điệu của cô gái ấy, tình cảm của cô gái ấy, mới thấm hết cái hay rất thật của nó. Bởi vậy ở Nam Bộ, bên cạnh đờn ca vọng cổ và bản vắn, còn có một hình thức rất phổ biến là ca ra bộ- nghĩa là người ca phải vừa hát vừa ra bộ bằng gương mặt, ánh mắt, thân hình, đôi bàn tay, bàn chân… để diễn tả cho hết tình cảm của mình gởi trong câu hát. Trong phạm vi bài này, tôi xin phép nhận xét về ca dao dân ca Nam Bộ dưới góc độ ấy. Của một vùng văn hóa rộng lớn đã sản sinh ra nó.
[tab=30]Trước hết xin nói qua về sự hình thành vùng văn hóa Nam Bộ
[/align]

I. TỪ VÙNG VĂN HÓA CỔ TRUYỀN NAM BỘ ĐẾN VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ HÔM NAY


[align=justify]
[tab=30]Theo những khám phá của các nhà khảo cổ học, con người đã có mặt ở vùng đất Nam Bộ khá lâu đời. Nếu căn cứ theo những di chỉ cư trú và di cốt của con người ở Óc Eo, Ba Thê, Núi Nổi… thì từ cách đây 4.000 đến 5.000 năm, con người đã có mặt ở vùng đất còn chứa nhiều nước mặn, sình lầy, cây dại và dã thú này; đồng thời họ cũng để lại nhiều dấu ấn văn hóa khá đặc trưng về vùng miền, mà sinh động và thiết thực nhất là ở vùng tứ giác Long Xuyên và U Minh Thượng. Rất tiếc là các di tích của nền văn minh ấy chỉ cho chúng ta thấy rằng, nền văn minh ấy chỉ hứng khởi lên khoảng vài trăm năm rồi bị chìm lấp trong lòng đất miền Tây, với những hình ảnh hư ảo còn lại của một vương quốc Phù Nam, hay một "nước Chí Tôn" trong sử sách, bia ký cổ.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Công cuộc mở đất phương Nam, khẳng định vùng văn hóa phương Nam, chỉ thật sự định hình từ những cuộc di dân lớn của người Việt ở TK XVI và đầu TK XVII. Đó là quá trình di dân tự nhiên, quá trình di dân cơ chế và quá trình chuyển cư tại chỗ. Quá trình di dân tự nhiên là quá trình di dân lẻ tẻ, chưa đủ để định hình bản sắc văn hóa của vùng đất. Chỉ đến khi nhà Nguyễn tiến hành những cuộc di dân cơ chế lớn từ vùng Ngũ Quảng vào, kết hợp với sự di dân cơ chế sau thất bại của nhà Minh trước triều Mãn Thanh (do Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu cầm đầu), cùng với việc di dân cơ chế trước TK XV của những lớp cư dân cổ Khơme đến từ nhiều vùng trên đất nước Campuchia, tràn về theo sông Tiền, sông Hậu để tránh họa diệt tộc của vua chúa Xiêm La, và sự di dân cơ chế của người Chăm Hồi giáo đến vùng Châu Đốc, kết hợp với quá trình chuyển cư tại chỗ của cộng đồng các tộc người để lập làng lập ruộng, vùng văn hóa mang bản sắc Nam Bộ mới thật sự hình thành. Chính nhờ quá trình chuyển cư tại chỗ, mới có việc thúc đẩy sự gần gũi giữa các nhóm dân cư, giữa các cộng đồng dân tộc, mới làm xuất hiện những điều kiện khách quan, tạo nên những tiếp xúc văn hóa giữa các cộng đồng người có những đặc trưng văn hóa khác nhau, làm nên tính chất địa văn hóa, địa kinh tế của một vùng đất châu thổ phương Nam rộng lớn. Đó chính là một vùng văn hóa trẻ, phong phú, đa dân tộc, đa tôn giáo và đa màu sắc (ở đây chúng tôi không có ý định đi sâu tìm hiểu vấn đề này).
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Muốn tìm hiểu đặc trưng vùng văn hóa, tất nhiên phải lấy đặc điểm tính cách con người làm trung tâm để xem xét. Bởi vì con người là chủ nhân của mọi ngôn ngữ và hành động, tác động sâu sắc đến âm nhạc, sân khấu, văn học, cũng như kiến trúc, hội họa, lễ hội và phong tục… Tất nhiên, đó là cộng đồng những tộc người cùng chung sống trên nền địa địa lý tự nhiên của vùng phù sa cổ miền Đông và vùng phù sa mới miền Tây Nam Bộ, mà tâm lý tính cách bị chi phối khá mạnh bởi hoàn cảnh địa lý, kinh tế - xã hội và quá trình phức hợp của nó theo từng bước phát triển của vùng dân cư rộng lớn này. Tất nhiên, chúng ta không thể phân chia rạch ròi từng vùng văn hóa trên cả nước, nhưng căn cứ vào những đặc điểm văn hóa khu biệt nhất định, chúng tôi tạm gọi là vùng địa văn hóa Nam Bộ để làm tiêu chí xem xét.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Theo đó, nhiều nhà nhân chủng học, dân tộc học… đều có chung nhận định tương đối thống nhất về tính cách người Nam Bộ, tựu trung gồm những nét chính sau đây: hào hiệp trong cuộc sống, bình đẳng trong giao tiếp, ít bảo thủ.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Tính hào hiệp không phải xuất phát từ máu "làm chơi ăn thiệt" trên vùng đất giàu tôm cá, phì nhiêu màu mỡ, mưa thuận gió hòa… mà nó được thể hiện trong nhiều yếu tố tâm lý cấu thành tính cách đó. Đó là thái độ mến khách, với tình yêu thương con người, ý thức coi trọng nhân nghĩa hơn tiền tài, danh vọng. Bởi vì, cho dầu là người Việt, người Khơme, người Hoa hay người Chăm, thì họ cũng phải thường xuyên đối đầu với một vùng đất mới còn hoang hóa, với biết bao khó khăn về điều kiện thiên nhiên và địa lý khắc nghiệt trong buổi đầu khai hoang lập ấp. Hơn nữa, trước một thiên nhiên bao la kỳ bí, chằng chịt sông rạch, rậm rạp rừng sâu, tràn ngập muỗi mòng, thú dữ… con người trở nên vô cùng nhỏ bé, tất nhiên phải dựa vào nhau mà tôn tại. Trong hoàn cảnh ấy, họ không thể nghĩ đến những thể chế từng ràng buộc của quan nha, triều đình; lại càng không thể câu nệ những lề thói xa xưa của làng xã nơi họ bỏ ra đi. Trên thực tế, đồng bằng sông Cửu Long trong buổi đầu khai phá, chưa hề có một khu vực hành chính ổn định; mãi đến khi Gia Long lên ngôi mới thiết lập được bộ máy cai trị của mình. Vì lẽ đó, con người trong buổi đầu mở đất, tất phải sống với nhau trong tình yêu thương san sẻ, bình đẳng tương thân, tương trợ để đùm bọc nhau sống còn trong nỗi nhớ thương nguồn cội cố xứ của mình.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Tôi chưa thấy ở đâu trẻ em lại xưng "con" với người lớn, đứa lớn hơn gọi đứa nhỏ hơn là "cưng", bằng trang phải lứa thì xưng "qua" với "bậu". Lúc thân mật cũng "qua" với "bậu", lúc giận hờn cũng "bậu" với "qua"...
[/align]

[align=center]Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.
Bậu ra cho khỏi tay qua
Cái xương bậu nát cái da bậu mòn.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Ít bảo thủ là một đức tính tốt của người Nam Bộ. Tôi cứ nghĩ mãi về câu thành ngữ "ăn Bắc mặc Nam". Phải chăng người miền Bắc ăn uống rất cầu kỳ. Đến như rau sống mà cũng phải chẻ, phải xắt, phải lựa, phải rửa bằng nước muối hay thuốc tím rồi rảy cho thật khô. Dân miệt đồng Nam Bộ, bẻ rau ngoài đồng, rửa quấy quá vài nước, thẩy lên mâm là xong. Rau muống cứ để nguyên cây, bắp chuối cứ để nguyên bắp. Cá chỉ cần nướng lụi. Rắn chỉ cần nướng lèo. Ăn uống cốt miếng lớn cho no. Có phải nhà hàng đâu mà cầu kỳ. Còn mặc thì phong phanh lắm. Cũng như ở vậy, chỉ cần cái nhà đá, nhà đạp để che mưa che nắng, khi không cần nữa thì đá thì đạp, dứt áo đi nơi khác dễ dàng. Trong những di cốt tìm được ở Nam Bộ, các nhà khảo cổ đều nhận ra một điều, người Nam Bộ rất ít dùng đồ trang sức. Nghĩa là người dân xứ này không coi trọng cái ăn, cái mặc lắm. Điều quan tâm của họ là những gì đang ở phía trước. Quá khứ là cần thiết, nhưng không quan trọng bằng hiện thực và tương lai. "Ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết gặp chùa cũng tu". Đó là một câu ca dao hay về tính cách con người trên vùng đất từng một thời đầy dẫy cá sấu và hổ báo. Hướng tới tương lai thì phải mạnh dạn vứt bỏ quá khứ, nếu như xét thấy nó đã lỗi thời. Nếu nặng lòng với quá khứ thì làm sao đủ sức dấn thân để khai phá những vùng đất mới, để tiếp cận những cái mới. Có lẽ Nam Bộ là nơi tiên phong của báo chí viết bằng chữ quốc ngữ, là miền đất tiếp xúc với công nghệ hiện đại sớm nhất, là xứ có đội bóng đá nữ đầu tiên của cả nước, là nơi có người đàn bà dám lặn lội muôn vạn dặm đến quan môn triều đình dóng trống kêu oan cho chồng… Đã đành gốc gác người Nam Bộ cũng từ Bắc, từ Trung vào, nhưng trên chặng đưồng thiên lí, họ đã làm rơi rụng dần những cái gì thuộc về tính cách của nơi đã sinh ra mình, để có thể nhanh chóng hòa nhập với vùng đất mới mà họ đã chọn làm nơi "đất lành chim đậu".
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Nhưng từ nền văn hóa cổ đến nền văn hóa Nam Bộ đương đại là cả một tiến trình phát triển suốt 300 năm mở đất, mà nhiều vấn đề vẫn cần phải tiếp tục đặt ra để nghiên cứu đến tận ngọn nguồn của nó. Ngày nay, chúng ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu để khẳng định đích thực chủ nhân của những tầng văn hóa chồng chất trên địa bàn đồng bằng sông Cửu Long vào những thiên niên kỷ thứ nhất, trước và sau công nguyên. Tất nhiên đây là một công việc rất khó, bởi tính năng động của một địa bàn rộng lớn, có nhiều luồng tiếp xúc nên cũng có nhiều biến động về các tộc người; hơn nữa, nó lại là vùng giao thoa của nhiều trung tâm chính trị khác nhau trong thời kỳ cổ đại. Nhiều thư tịch cổ Trung Quốc, cũng như nhiều văn bản của Nhà nước đô hộ Pháp, vẫn thường nói đến những Nhà nước Đông Nam Á có cương vực rộng lớn, với một thể chế rất chặt chẽ, thâu gồm những vùng đất rộng lớn, bao trùm lên cương giới nhiều quốc gia hiện nay. Nhưng trên thực tế, dưới ánh sáng tiến bộ của các ngành khoa học hiện đại, các quốc gia Đông Nam Á cổ đại chỉ là những trung tâm chính trị rất lỏng lẻo, cơ cấu thành phần tộc người và biên giới không rõ ràng và đầy biến động. Vì vậy không thể chỉ căn cứ vào các thư tịch cổ mà quy chủ nhân của những vùng đất đai cụ thể là ai, rồi từ đó gán ép cho các dân tộc khác tội chiếm đất. Lấy ví dụ như theo quan niệm của người Khơme, chúng ta không thấy có sự đối lập giữa "Thủy Chân Lạp" và "Lục Chân Lạp"; mà chỉ có sự phân biệt giữa ba vùng địa lý theo quan niệm chung của cư dân Đông Nam Á. Đó là ba vùng: Khơme Lơ (Khơme vùng cao), Khơme Kandal ( Khơme vùng giữa), và Khơme Crôm (Khơme vùng dưới). Người Pháp từng gán cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng Khơme Crôm, với lý do vùng đất này có người Khơme sinh sống, có nhiều địa danh mang tên các địa danh Khơme. Rồi họ còn dựng lên cái gọi là đế chế Phù Nam có địa bàn trải rộng qua cả Thái Lan, Lào, Việt Nam. Từ đó cho rằng, nếu không có sự hiện diện của Pháp, các nước Lào và Campuchia đều sẽ bị Việt Nam thôn tính. Với thái độ nghiên cứu văn hóa nghiêm túc và khoa học, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, ranh giới giữa các vùng Khơme Kandal và Khơme Crôm chính là đôi bờ sông Niết Lương. Tại vùng Kandal hiện nay, người Khơme lấy Chămka (bãi sông), nuôi bò là chính; trái lại vùng Xoài Riêng (nam sông Niết Lương) lại làm ruộng nước, nuôi trâu. Như vậy vùng vùng Khơme Crôm phải chăng chính là vùng Xoài Riêng ngày nay. Xét theo tâm lý đặt tên địa danh, những tên đất như Gò Công, Cà Mau… rất có thể là do cư dân Khơme đặt theo tên Kôkông, Takthmau trong bước đường di cư của họ, khi mà các tộc người Việt và người Chăm chưa đến. Tại các vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, nơi có nhiều người Khơme cư trú lâu đời nhất, chúng ta cũng không tìm thấy ngôi chùa nào có trên 300 năm tuổi. Theo tập quán canh tác, người Khơme thích ở "giồng" còn người Việt thích ở gần sông rạch. Đó là mối quan hệ tự nhiên trong bước đường khai phá đồng bằng sông Cửu Long của hai tộc người Việt - Khơme. Như vậy, Nam Bộ chính là vùng văn hóa đất mới, vùng ngoại biên của nhiều quốc gia cổ đại, mà sau này người Khơme, người Việt và người Chăm đã chung lưng đấu cật cùng nhau khai phá. Chủ nhân của nền văn hóa, văn minh này, chính là cộng đồng những tộc người đang sống trên châu thổ của sông Tiền, sông Hậu. Trong đó chủ yếu là người Việt, người Khơme, người Chăm và người Hoa, với chung một nền văn hóa hội nhập của các tộc người trên một địa bàn rộng lớn của đồng bằng châu thổ 18 triệu người.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Tất cả những điều trên đây vẫn là chưa đủ để nói về bản lĩnh và tính cách người Nam Bộ, nhưng chừng đó cũng đủ góp phần hình thành bản sắc văn hóa của một vùng đất mới, nơi hội tụ rất nhiều luồng văn hóa khác nhau của thế giới. Một trong những giá trị ấy là phương ngữ Nam Bộ, bộ phận hình thành bản sắc độc đáo của ca dao dân ca Nam Bộ.
[/align]

II. VÀI NÉT VỀ PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG CA DAO DÂN CA
[align=justify]
[tab=30]Phương ngữ Nam Bộ được hình thành và phát triển cùng với tiến trình phát triển lịch sử 300 năm của vùng đất, càng ngày càng được bổ sung theo sự giao lưu mạnh mẽ của nhiều luồng văn hóa khác nhau; nó bắt đầu hình thành từ TK XVII, cùng lúc với những đoàn người Việt đầu tiên vào định cư khai khẩn vùng đất Miền Đông Nam Bộ, rồi sau đó phát triển mạnh xuống Miền Tây. Đến nay, phương ngữ Nam Bộ đã trải qua nhiều chặng đường phát triển, gắn với những sự kiện chính trị - văn hóa. Chẳng hạn như sự ra đời của chữ quốc ngữ vào nửa sau TK XIX. Nó là tiếng nói sinh động của nhân dân lao động, được sử dụng và phổ biến thông qua con đường khẩu ngữ, trong khuôn khổ một vùng văn hóa địa phương nhất định. Chúng ta cần phải công nhận nó, coi nó như một công cụ chung để tư duy tại một vùng đất văn hóa đặc thù; từng bước hòa nhập thành ngôn ngữ phổ biến chung, ngôn ngữ văn học của cả nước. Trên thực tế, chúng ta rất khó chọn ngôn ngữ một vùng miền cá biệt nào làm ngôn ngữ chuẩn cho tiếng Việt, mà chính tiếng Việt đang càng ngày càng phát triển chính từ nền tảng ngôn ngữ vùng miền trong cả nước.

Từ khi đất nước thống nhất, rõ ràng tiếng Việt đã trở nên phong phú hơn rất nhiều, bởi chính nhiều phương ngữ vùng miền khác nhau trong cả nước vun bồi nên. Điều đó góp phần rất to lớn trong việc hình thành tiếng Việt văn học chung của cả nước.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Riêng về phương ngữ Nam Bộ, rõ ràng có sự giao lưu rất đậm nét với các phương ngữ khác trong khu vực, như phương ngữ của đồng bào Khơme, đồng bào Chăm, đồng bào Hoa… và một số luồng ngôn ngữ khác. Điều đó làm nên diện mạo và thần thái của phương ngữ Nam Bộ. Nó hình thành chính từ ngôn ngữ nói của đồng bào. Ở đây, chúng tôi xin phép không đi sâu vào lĩnh vực ngôn ngữ học, như từ vựng, tu từ và giá trị ngữ pháp văn bản của nó.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Nếu trong ngôn ngữ nói, người Nam Bộ thường có thói quen chỉ sử dụng 5 dấu thanh (không dùng thanh ngã), thường nói sai phụ âm đầu (v-d, h-g), hay có sự biến đổi trong phát âm (i-iê, ng-n), hay gộp âm trong xưng hô (bả, chả, ảnh, chỉ), trong chỉ địa danh (ngoải, trỏng), hay dùng từ cổ (bể, bợ, bông, heo), thích dùng yếu tố phụ để tạo từ có sắc thái ( dơ hầy, nhọn lểu, rẻ rề, vàng ngoách, đỏ hoét), thích vay mượn ngôn ngữ khác (chạp phô, tàu hủ, khổ qua, bao tử, hột xoàn, hên xui, cần xé, cù lao, giận lẫy, cúng dàng)… thì phương ngữ Nam Bộ chính là được hình thành trên nền tảng ngôn ngữ nói hàng ngày của bà con.
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Ví dụ: Tèm hem, tầy huầy, trớt huớt, thoi loi, tùm lum, nháu nhó, chịu chơi, xả láng, thả giàn, hết ý, hết xảy, quá xá mấu, đẹt câm đẹt ngắt, cứng ngắt cứng còng, trẻ khô, già khú đế, ngồi chò hỏ, ngồi chành bành, ngồi chèm bẹp, ớn xương sống, sợ thấy mụ nội, trời thần đất lở, thấy mồ tổ, chèng đéc ơi…
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Chính từ nếp sống, cách suy nghĩ và nói năng của người Nam Bộ, cũng như sự bộc trực, thẳng thắn, ít thích văn chương rào đón, mà ngôn ngữ Nam Bộ thường có lối nói rút ngắn, giàu hình tượng, thích ngoa dụ cho vui: bi dai, bi lớn, bi nhiêu, bi tuổi, bản mặt chằm vằm, đồ chằng tinh hổ lửa, đồ ba trợn, đẹp thấy ớn, xấu thấy sợ, ngon hết biết, say quắt cần câu, lười thối thây, cà rịch cà tang, tà tà ển ển, cà xích cà xẹo, bẹo dạng bẹo hình, bình bình nước nhửng…
[/align]

[align=justify]
[tab=30]Và… cũng thường tình như vậy, phương ngữ đi vào ca dao Nam Bộ một vẻ đẹp bình dân, mộc mạc, mà phải đọc nhiều lần chúng ta mới nhận ra được nó.
[/align]

[align=center]Trắng như bông lòng anh hổng chuộng
Đen như cục than hầm biết làm ruộng anh thương
[/align]

[align=center]Muốn người ta người ta không muốn
Xách cái dù đi xuống đi lên

Thương sao thương quá bất nhơn
Bữa nay gặp mặt thương hơn bữa nào

Khen cho con nhỏ cả gan
Ghe không bánh lái dám chèo ngang giữa dòng

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm

Thuyền chài thuyền lưới thuyền câu
Biết thuyền nhơn ngãi nơi đâu mà tìm

Nước chảy liu riu lục bình trôi quắn quíu
Anh mãng thương nàng lịu địu xuống lên

Mái dầm anh đong đưa
Cùng với em dạo mát
Đặt em ngồi đằng trước
Hay em ngồi đằng sau
Ôi em ngồi chỗ nào
Anh cũng không ưng bụng
Mái dầm anh lúng túng
Đặt em lên đùi anh
[/align]

[align=right](Dân Ca Khơme)[/align]
[align=center]Chiều xuống anh đưa em đi chơi
Xóm làng mình sông sâu nước chảy
Để em ngồi trên thuyền sao lòng anh áy náy
Sợ sóng đánh làm ướt đôi chân em
Để em ngồi đằng trước thì sợ trúng mái dầm
Ngồi ở giữa thuyền thì xa lơ xa lắc
Em ngồi ở đâu thật khó lòng tính được
Chỉ có cách là bồng em đặt lên đùi anh
[/align]

[align=right](Dân Ca Khơme)[/align]
[align=justify]
[tab=30]Và từ những câu ca dao dân dã ấy, khi được lợp lên mình nó những tầng lớp giai điệu và tiết tấu, phương ngữ Nam Bộ vụt hiện những vẻ đẹp bình dân tới lịm người.
[/align]

[align=center]Đố ai kiếm được cái vẩy con cá trê vàng
Cái gan con tép bạc mấy vàng tôi cũng mua
Ô là ô áo vá quàng
[/align]

[align=right](Lý áo vá quàng) [/align]
[align=center]Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia thia quen chậu vợ chồng quen hơi
[/align]

[align=right](Lý chim quyên) [/align]
[align=center]Cây da trước miễu ai biểu cây da tàn
Bao nhiêu lá rụng em thương chàng bấy nhiêu
[/align]

[align=right](Hát đưa em) [/align]
[align=center]Ba xa kéo chỉ trên chòi
Xa kêu vòi vọi anh đòi chuyện chi
[/align]

[align=right](Lý ba xa kéo chỉ) [/align]
[align=center]Chiều chiều gọt mướp nấu canh
Thấy anh qua lợi bỏ hành cho thơm
[/align]

[align=right](Lý trái mướp) [/align]
[align=center]Lỡ tay rớt bể bình vôi
Chủ gia bắt được đọa đày xứ xa
[/align]

[align=right](Lý bình vôi) [/align]
[align=center]Chú chim sẻ ơi
Ơ ơ ớ hùi
Ăn lúa nhà người
Vừa thơm vừa ngọt
Đừng ăn lúa mót
Trên đồng nhà tao
Lúa của nhà nghèo
Vừa cay vừa đắng
[/align]

[align=right](Choôlchap- dân ca Khơme) [/align]
[align=center]Trên cành đơm boong vui quá
Sáo con nhảy múa tối ngày
Cánh thì xòe ra bay bay
Chân thì lia thia nhảy nhảy
Ơi đàn sáo con bé tí
Chẳng biết nhờ ai đệm đàn
Đành lấy chiếc mỏ ra ràng
Mổ cành đơm boong khe khẽ
[/align]

[align=right](Xarikakkeo- dân ca Khơme)[/align]
[align=center]Đừng nhìn tao bớ chim ơi
Hai đứa tao yêu nhau rồi
Mà biết nói gì
Chỉ biết nhìn chim bay đi
[/align]

[align=right](Chim Môhôri- dân ca Khơme) [/align]
[align=center]Phiền muộn chi em làm héo cánh hoa
Luyến tiếc chi em làm héo nụ cười
Hay là em đã say đắm nơi nào
Ta càng tha thiết mãi không thôi
[/align]

[align=right](Xaccrova chhlơơi chhloong- dân ca Khơme)[/align]
[align=center]Chim cu kêu cúc cu
Nó đậu trên ngọn tre
Anh gặp rồi anh thương
Em đây còn nhỏ
Em ơi anh chờ em
Em đi lấy chồng
Sao đành bỏ anh[/align]

[align=right](dân ca Chăm) [/align]
[align=center]Kiếp này lắm ngang trái
Để kiếp sau ta gặp nhau
Anh ơi số trời định ước
Anh đừng giận vô cớ[/align]

[align=right](dân ca Chăm) [/align]
[align=center]Con chim trao trảo
Nó rất dạn
Đã bay khắp nơi
Được sống sung sướng
Sanh con đẻ cháu
Được ở khắp bụi bờ
(dân ca Chăm)[/align]

[align=right](dân ca Chăm) [/align]
[align=center]Con ơi
Ở với mẹ có áo mặc
Ra lấy vợ
Áo không kip cài nút.
Con ơi
Đừng buôn lá bài
Của cải của người ta
Đừng lừa gạt.[/align]

[align=right](dân ca Chăm) [/align]

[align=right]Theo Hồ Tĩnh Tâm
(trích từ Người Viễn Xứ)
[/align]


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 12-04-2011, 09:34 am 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center]Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.
[/align]


[align=justify][tab=30]Xin mời đọc bài cảm nhận của bài ca dao trên tại đây[/align]


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 12-04-2011, 10:44 am 
Hàn Khiết Tâm
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 07-05-2010, 01:38 pm
Lần ghé thăm trước: 15-05-2012, 09:14 am
Tuổi: 37
Bài viết: 2395
Đến từ: Niềm Đau Tủi
Giới tính: Nữ
Mình đang: Bored
Đã cảm ơn: 9709 lần
Được cảm ơn:
7381 lần trong 2029 bài viết
 
[align=center][font=Comic Sans MS]Thêm Một Dị Bản Bài Ca Dao:
“Tát Nước Đầu Đình"
[/font]
[/align]


[align=justify][tab=30]Tát nước đầu đình là một bài Ca Dao nổi tiếng của nền văn học dân gian Việt Nam, đã được lưu truyền rộng rãi ở hầu khắp m ọi làng quê. Quá trình lưu truyền đó đã làm xuất hiện một số dị bản. Mới đây trong chuyến đi thực tế ở Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên), chúng tôi đã sưu tầm được một bản Tát Nước Đầu Đình, xin được giới thiệu cùng độc giả:[/align]
[align=center]“Áo anh rách lỗ bàn sàng
Cậy nàng mua vải vá quàng cho anh
Vá rồi anh trả tiền công
Đến lúc lấy chồng anh giúp của cho:
Giúp cho một quả xôi vò,
Một con heo béo, một vò rượu tǎm.
Giúp cho chiếc chiếu nàng nằm,
Đôi áo nàng bận đôi vòng nàng đeo.
Giúp cho quan mốt tiền cheo,
Quan nǎm tiền cưới, lại đèo bông tai
Giúp cho một rổ lá gai
Một cân nghệ bột với hai tô mè
Giúp cho năm bảy lạng chè
Cái ấm sắc thuốc cái bồ (ghè?) đựng than
Giúp cho đứa nữa nuôi nàng
Mai ngày trọn tháng cho chàng tới lui…”[/align]

[align=justify][tab=30]Điều dễ dàng nhận thấy bài ca dao nói trên có những dấu hiệu gần gũi với bài Tát Nước Đầu Đình (Bản hiện hành do Vũ Ngọc Phan sưu tầm và giới thiệu). Biểu hiện rõ nhất là nội dung cảm hứng và kết cấu bài ca. Cả hai đều là ca dao tình yêu, xây dựng lời tỏ tình của chàng trai trên nền kết cấu “áo rách – nhờ khâu (vá) – trả công” Điểm giống nhau nầy rất căn bản cho ta xác lập mối liên hệ mật thiết giữa bài ca dao vùng đồng bằng Bắc Bộ với bài ca dao Đồng Xuân. Chắc chắn trong quá trình mở rộng địa bàn tồn tại bài ca dao Tát Nước Đầu Đình đã được người dân Đồng Xuân tiếp nhận trên tinh thần địa phương hóa . Và do vậy bên cạnh việc giữ lại nét căn bản của bài ca, người dân Đồng Xuân đã có những sang tạo nhất định khiến cho bài ca có những điểm tương đồng (như vừa nêu) vừa có những dị biệt. Theo chúng tôi, sự khác nhau giữa hai bài ca thể hiện ở ba điểm sau:
Thứ nhất, bài ca dao Đồng Xuân không dùng lối nói đưa đẩy, bóng gió như ta đã thấy ở bài Tát Nước Đầu Đình điều nầy có lý do của nó: người dân miền Trung vốn “ăn ngay nói thẳng”, không thích loanh quanh, vòng vèo. Lối đặt vấn đề trực tiếp là nguyên nhân dẫn tới việc lược bỏ 6 câu đầu. Do đó câu 1 của bài ca dao Đồng Xuân tương đương với câu 7 bài “tnđ”[/align]

[align=justify][tab=30]Thứ hai, bài ca dao Đồng Xuân không chỉ đề cập tới nội dung “giúp của” phục vụ cho hôn lễ mà còn chú ý đến những việc làm sau hôn nhân. Sáu câu cuối bài mang một nội dung hoàn tòn mới so với bài Tát Nước Đầu Đình. Ở đây việc mở rộng kết cấu có tác dụng nâng giá trị bài ca lên một bước mới, giúp người đọc có một sự nhìn đầy đủ về tính cách chủ thể trữ tình: thẳng thắn và chu đáo.[/align]
[align=justify][tab=30]Thứ ba, bài ca dao Đồng Xuân cũng có những điểm khác biệt so với bản Tát Nước Đầu Đình về mặt ngôn ngữ và chi tiết. Chẳng hạn, bản Đồng Xuân không nói “lợn” mà nói “heo” không nói “khâu” mà nói vá, không nói “giúp đôi chăn” mà nói “giúp đôi áo” … Điều nầy do sự quy định của phương ngữ và điều kiện tự nhiên – sinh hoạt của mỗi vùng đất.[/align]
[align=justify][tab=30]Những khác biệt nói trên giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường màu sắc địa phương cho bài ca. Ở đây có thể nói, quá trình hình thành dị bản Tát Nước Đầu Đình diễn ra theo con đường địa phương . Nhờ vậy, trên nền cảm hứng chung, những dị bản phản ảnh được nếp cảm, nếp nghĩ của con người từng vùng đất khác nhau.[/align]
[align=justify][tab=30]Cũng xin nói thêm, bài ca dao Đồng Xuân có sự gần gũi hơn so với bài ca dao phát hiện ở Bình Định năm 1986:[/align]
[align=center]Tát Nước Đầu Đình (Bản Bình Định)

Áo anh đã rách hai tay
Cậy nàng so chỉ và may cho cùng
Vá rồi anh trả tiền công
Mai mốt lấy chồng anh giúp của cho
Giúp cho quan mốt tiền cheo,
Quan nǎm tiền cưới, lại đeo mâm chè
Giúp cho nửa dạ hột mè
Nửa ang tiêu sọ, nửa ghè muối khô
Giúp cho cái ấm cái ô
Cái niêu sắc thuốc cái bồ đựng than
Anh giúp cho một đứa nuôi nàng
Lâu ngày chẵn tháng rồi chàng tới thăm…”[/align]

[align=justify][tab=30]Biểu hiện rõ nhất là ở cách tổ chức kết cấu bài ca. Điều nầy cũng dễ hiểu vì Bình Định và Phú Yên cùng chung một vùng văn hóa - địa lý, con người vì thế có những tương đồng. Rất có thể, bản Đồng Xuân chính đã được tạo ra trên cơ sở bản Bình Định[/align]
[align=justify][tab=30]Bài viết chỉ nhằm mục đích giới thiệu một dị bản mới của Tát Nước Đầu Đình. Người viết không đặt nhiệm vụ phân tích kỹ và sâu . Ở đây chỉ xin được nhấn mạnh : Những tác phẩm dân gian có giá trị bao giờ cũng mở ra được những chân trời sáng tạo mới.[/align]

Lê Nhật Ký (ĐHSP Qui Nhơn) (Trích từ Kiến Thức Ngày Nay số 146 năm 1994)

[align=right]Hàn Khiết Tâm sưu tầm[/align]


Đầu trang
  
Có 1 thành viên đã cảm ơn Hàn Khiết Tâm cho bài viết này:
Phạm Minh Giắng (09-12-2011, 09:48 pm)
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 22 bài viết ] 


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Chuyển đến:  
News News Site map Site map SitemapIndex SitemapIndex RSS Feed RSS Feed Channel list Channel list
Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ
Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
[ Time : 2.208s | 85 Queries | GZIP : Off ]