RÈN LUYỆN TINH THẦN, NUÔI DƯỠNG&CHĂM SÓC TÂM HỒN
*
RÈN LUYỆN TINH THẦN, NUÔI DƯỠNG&CHĂM SÓC TÂM HỒN Rèn luyện tinh thần nuôi dưỡng, chăm sóc tâm hồnGS.TS.NGUYỄN HUY DUNGĐã trao đổi cùng nhau về “KHÔNG LỘN ĐUÔI LÊN ĐẦU” (chủ đề trước), bây giờ chỉ bàn về rèn luyện tinh thần, nuôi dưỡng, chăm sóc TÂM HỒN mà thôi.
Điều này là cực kỳ quan trọng vì rõ ràng trong cuộc sống hiện nay có sự sa sút nghiêm trọng của tâm hồn, nhân cách (và văn hóa) ở bộ phận khá lớn của xã hội ta. Rồi sau này nữa, đến lúc nào đó nếu con người chỉ còn biết những gì thực lợi, thực dụng thì con người ta “tự ĐÁNH MẤT CON NGƯỜI”.
Vậy NGHỆ THUẬT SỐNG CHỐNG SỰ XUỐNG CẤP TÂM HỒN đang thật sự là một nhu cầu nổi cộm, bức thiết, có lúc trở thành thời sự cấp bách hàng đầu, mà cũng không chỉ riêng đối với các thế hệ trẻ đang nối tiếp nhau thôi đâu.
*
NHỮNG NỘI DUNG ĐẦU TIÊN CỦA RÈN LUYỆN, NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC TÂM HỒN
Sang thiên ki III rồi, có thể cảm nhận trong thực tế hai xu thế quý báu đang chớm nở và lớn dần trong một bộ phận lớp trẻ có ý thức nhất: 1- Nổi lên ở họ nhu cầu tâm hồn muốn được mở rộng về phía cha ông, tổ quốc, cũng như mở rộng tới khoa học hiện đại nhất khắp toàn cầu. 2- Cũng nổi lên nhu cầu tâm hồn họ muốn đạt thư thái, tự do tuyệt đối, sự giải thoát.
Ở một góc độ nào đấy, có thể thấy trong nội dung nhu cầu tâm hồn mà hiện nay dần dần hình thành ở họ, có mường tượng một số nét của mẫu tâm hồn lí tưởng tự ngàn xưa phương Đông, ví dụ như: căm ghét sự tham lam tranh giành chiếm hữu và sự tàn bạo cuồng loạn; trân trọng chí nhân, vị tha, vô tư; không coi hưởng lạc và tư dục là mục đích; đối lại, cầu tiến, không chờ đợi ai mà tự lập, và khi thành công không khoa trương (chữ xưa là tâm trai); dám nghĩ dám làm, tự do tư tưởng, không giáo điều sùng bái thần tượng.
Và trong đó còn có những điều xét ra cũng rất đáng nằm trong phác thảo nội dung mẫu rèn luyện tâm hồn như: không hiếu danh hiếu thắng biện bác tranh cãi; không xét các giá trị theo hư danh; lắng nghe tiếng nói trong tâm hồn mình, tìm tòi trong những kho tàng tinh thần đồ sộ; tập giữ thản nhiên, điềm đạm, không giả dối.
*
Các thực tế trên có thể tham khảo khi ta phác thảo nội dung rèn luyện tâm hồn riêng cho mình. Nhưng nói chung, mỗi khi lập phác thảo này vẫn nên theo phương thức kinh điển, phải xuất phát từ những yếu tố cấu thành của Tâm, từ đó mà xác định những nội dung rèn luyện.
Ba yếu tố của TÂM (đối tượng của tu luyện ở đây) là gì? Là bao gồm 3 mặt, theo tâm lí học cận đại, mà theo tư tưởng Tuân Tử xưa cũng 3 mặt ấy: Lí trí (tri thức); Tình cảm (yêu ghét, mừng giận, buồn vui...); Ý chí (trong đó có nghị lực, có lự để lựa chọn hành động).
Ba mặt nêu trên gợi ý những nội dung tu luyện tâm hồn rất rộng. Trước tiên nên chọn những điều thiết yếu nhất: chọn phần ‘để làm người’. Sách xưa Ngạn Ngữ cũng từng khuyên “Gốc mọi sự học là học làm người”. Trong đó ắt phải rèn luyện cả ba mặt nội dung trên, nâng chúng lên cao mãi, và chỉ có con đường đó, không có cách nào khác. Nó bao gồm rèn luyện từ lí tưởng, đạo đức, đến lối sống, giúp hình thành nhân cách.
Vậy đầu tiên là không ngừng trau dồi lòng nhân + lương tâm, và làm điều thiện :
Trong sứ mệnh làm người có vấn đề sống cho ra sống, theo lẽ sống có TÂM HỒN, dám đấu tranh theo LƯƠNG TÂM, theo lòng NHÂN (tức tính người: yêu người, không hại người, khoan nhượng, trắc ẩn, không vong ân, phù hợp đạo giao lưu – dung thông).
Trong quá trình tự trau dồi tự hoàn thiện lòng NHÂN và LƯƠNG TÂM, nên hàng ngày tự trắc nghiệm, tự kiểm tra mình về động cơ vị kỉ và động cơ vị tha trong mọi hoạt động. Vị tha không chỉ là làm một số việc từ thiện cho người tật bệnh, nghèo khổ, thiệt thòi nhất, mà rất có ý nghĩa là làm những việc tốt giản đơn cho người xung quanh, và cao nhất là dấn thân tự dâng hiến cho sự nghiệp phụng sự Tổ quốc và giải phóng con người.
Trong các nội dung trước tiên nêu trên của tu luyện tâm hồn là rèn tập không ngừng trong LÀM ĐIỀU THIỆN. ‘Làm điều thiện’ nghe thật dễ hiểu, song cần chú ý mấy đặc điểm:
(1) phải đúng là xuất phát ‘từ bên trong’, nếu như chưa từ lòng bác ái - rộng tình thương yêu như huynh đệ ruột thịt, thì cũng phải từ tâm hồn nhân ái giác ngộ lẽ vị tha vô tư đích thực.
(2) Lại phải thường xuyên, không ngừng.
(3) Và đã trở thành một thói quen (tập quán): trong quá trình rèn tập thói quen tốt này, tối thiểu cần hình thành một kỉ luật tự giác trong lòng là gặp điều thiện cần làm và không ngoài khả năng thì dầu nhỏ mấy cũng không bỏ qua. Kỉ luật ban đầu, do làm ‘riết’ sẽ trở thành thói quen tốt.
Khi đã thành thói quen của lòng người thì nó không thể biến mất được, sẽ là đầu mối mọi niềm vui.
Có bao nhiêu tính ‘thiện’ tự bên trong con người tốt thì sẽ có bấy nhiêu vẻ đẹp và cao thượng hiện ra trước con mắt tinh đời của mọi người, chẳng gì che khuất mãi được. Đó là lượng giá của đời bao giờ cũng công bằng dù cho nhiều khi công bằng tới muộn.
Còn mấy kẻ mới nổi lên, dù không sẵn cái tâm, cái ‘kỉ luật tự giác’ làm việc thiện thì cũng buộc họ phải làm. Sách cổ Ấn Độ Panchatantra nêu:
“Khi đạt được vương quyền, người ta phe phẩy như tai con voi động cỡn,
“Hưởng nó, chớ quên làm điều thiện.”
Riêng những người ác và người xấu, chỉ bo bo giữ của, khư khư “giữ tủ” (dấu kiến thức), hoặc nặng hơn - ích kỉ hại nhân .., thì phải làm sao? Chỉ biết rằng dầu “giỏi” đạo đức giả đến mấy, rồi họ vẫn sẽ bị con mắt tinh đời dần dần nhận diện ra. Họ cần kiên quyết tạo lại những điều cơ bản từ tâm hồn, nếu không thì không cơ may thành ‘nhân’ được.
***
Những nội dung tiếp theo của rèn luyện tâm hồn là tôn trọng và trau dồi chân thiện mỹ; chí, khí; những phẩm chất cao thượng cùng những tư tưởng thanh cao:
A-
CHÍ và KHÍ không thể thiếu vắng trong tâm hồn mỗi con người chúng ta. CHÍ là ý muồn bền bỉ đi tới đích. KHÍ là sức mạnh thể chất và tinh thần thường xuyên cần thiết trên đường đi tới đích. Nội dung của chí và khí có thể là: chí tiến thủ, chí kiên định, khí hạo nhiên .
Chí tiến thủ là không bao giờ tự mãn mà đổi mới không ngừng.
Chí kiên định là tính bất biến của tâm hồn trước vạn biến của phú quý, bần tiện, uy vũ (theo cách dùng chữ của Mạnh Tử). Nhờ nó, con người ta mới mong dần dần đáng bậc ‘trượng phu’. Nhất là trong cảnh ngộ nghèo khó, vẫn giữ được nhân phẩm, ‘đói cho sạch rách cho thơm’. Trên suốt cả đường đời (với cái thế phơi phới liền một mạch không bị ngưng cắt từng lúc) cho dù gánh nặng, đường xa, nếu có chí kiên định thì:
“Đã làm điều gì tốt, phải làm kỳ được, làm đến cùng, tới chết mới thôi,
“Con đường như thế chẳng là dài hay sao”
(Sách Luận Ngữ).
Khí hạo nhiên từng được Mạnh Tử, Nguyễn Công Trứ bàn khá nhiều. Nó có liên quan chuyện nuôi dưỡng tâm hồn. Có 3 chữ hạo, 1 là bầu trời mùa hạ, 2 là rộng lớn mênh mông, 3 là sáng sủa. Để dễ hiểu, có thể coi khí hạo nhiên là cái sức mạnh rất lớn, khảng khái, ngay thẳng, chính đại quang minh, nên thanh thản giúp nhìn xa trông rộng, hướng vào tư tưởng cao thượng. Lời thơ thật hào hùng khoáng đạt:
“Khí hạo nhiên chí đại chí cương
“So chính khí đã đầy trong trời đất …”
Đọc 2 câu ấy (trong bài hát nói “luận kẻ sĩ” của Nguyễn Công Trứ”), suy ngẫm nghĩa và lí, chắc hẳn stress nặng nề bao nhiêu rồi cũng có thể thuyên giảm, lấy lại được sức mạnh tiến tới đích.
B-
RÈN TẬP NHỮNG PHẨM CHẤT CAO THƯỢNG là nội dung quan trọng của ‘rèn luyện từ gốc tâm hồn để làm người’. Những đức tính, phẩm chất ấy đều mang tính lạc quan tươi sáng, chỉ nảy sinh từ những tâm hồn mạnh đã được rèn luyện, ví dụ như :
Đức tin mãnh liệt ở tất thắng của lí tưởng, ở bản thân mình (tự tin, không sợ hãi);
Niềm hi vọng không bao giờ đánh mất; thường hi vọng trên cơ sở giác ngộ quy luật của phát triển vốn đa biến và rất năng động. Ý của Mạnh tử xưa đẹp như thơ:
“Cây lớn một ôm tay
“sinh từ gốc nhỏ này.
“Lầu chín tầng đồ sộ
“khởi đầu - hòn đất nhỏ
“Đi ngàn dặm thế gian
“khởi đầu - một bước chân.”
(NHD tạm dịch)
Lòng say mê, vui đời và hài hước; ngay cả lúc nguy nan, điều quan trọng nhất là thản nhiên xử lí và có điểm vài nét thư duỗi và chất hài hước Việt Nam nữa;
Tình yêu thương, đồng cảm, cảm thông, trắc ẩn đối với bản thân, với thiên nhiên (từ trăng, biển, hoa, muông thú…), với đồng loại (gia đình, người thân, bầu bạn, cộng đồng gần; rồi tổ quốc dân tộc mình, nhân loại). xoá tệ cục bộ điạ phương, đặt nghĩa cả trên lợi riêng;
Lòng tôn trọng đã thành nếp, thành kỉ luật đối với sự thật, lẽ phải, chân lí, pháp luật, đối với trách nhiệm và bổn phận mà mỗi người phải làm tròn, rồi đối với mọi điều thiện và mọi vẻ đẹp, mọi phẩm chất và bậc hiền tài. cho đến tôn trọng mọi người (cũng chính là tự tôn tự trọng vậy). Ngày nay trong kinh tế thị trường không dễ tìm thấy những người thực sự có phẩm chất ‘trọng nghĩa khinh tài’, biết ‘tôn đức quý hiền’.
***
Nội dung tiếp theo của rèn luyện tâm hồn là TỰ VUN BỒI BẢN SẮC TÂM HỒN VIỆT NAM.
‘Tu dưỡng từ gốc tâm hồn để làm người’ là rèn tập những phẩm chất cao thượng như vừa nêu trên, thì càng không thể không tập trung vào những phẩm chất tiêu biểu nhất trong cốt lõi, bản chất sâu nhất của truyền thống (bản sắc) tâm hồn Việt Nam. Đó là cái bản sắc giản dị mà sâu sắc đã giúp Việt Nam dù mấy ngàn năm bị đô hộ, dù bị Mã Viện cho thu gom hết trống đồng đúc ra ngựa đem đi và đúc trụ đồng đe doạ, dù bị Trương Thụ nhà Minh gom hết sách vở chở đi hoặc đốt sạch, và đập nát hết bia đá xoá sạch di tích lịch sử dân tộc (tàn bạo thâm hiểm thay!),..mà ta chẳng bị đồng hoá; cũng là cái bản sắc văn hoá tinh thần mạnh mẽ căn bản đã làm một trong các yếu tố chính giúp ta thắng giặc Mỹ mặc dù chúng đã dùng tới 7 triệu tấn bom, hơn 6 triệu rưởi lượt lính Mỹ với 720 tỷ đô la, đã dã man dùng dioxin (da cam) còn di hại thảm khốc nhiều thế hệ cháu con ta.
Có người ví von cái bản sắc ấy là cái gien (gene) của cộng đồng dân tộc ta, mà nếu đem phân tích ra, ta có :
Yêu nước Việt Nam muôn vàn yêu thương, yêu cốt nhục đồng bào đã trải bao đau khổ,
Cần cù lao động, ‘chịu thương chịu khó’,
Khoan dung về tín ngưỡng và tư tưởng,
Người hoà hợp với người và với thiên nhiên,
Coi trọng nghĩa tình, nghĩa tình làm gốc cho gan dạ bất khuất; bất khuất để bảo vệ và phát huy nghĩa tình.
Ưng xử cũng từ đó mà vừa cứng cỏi, vừa mềm mại, kiên nhẫn mà thông minh.
Đầu óc thực tiễn nhưng truyền thống thanh lịch, không thực dụng trần trụi thô thiển,
Yêu thành ngữ-tục ngữ-ca dao, yêu văn học-nghệ thuật, tinh hoa văn hoá, nền văn hiến, đất nước, lịch sử, con người Việt Nam mà nếu chẳng hiểu biết được bao nhiêu (viện cớ bận sinh nhai, hoặc hoàn cảnh quá nhiều năm xa quê hương) do chẳng chịu tìm hiểu và thật sự học tập nên, cứ như mới trên trời rơi xuống thì cũng đáng lấy làm xấu hổ chứ.
Khát vọng tự do. Ngay như cái khát vọng nhàn tản thuở trước có lẽ nên hiểu là một khía cạnh của yêu tự do: cái nhàn minh triết nắm được quy luật tất yếu của nhân sinh, thoát ngoài những quan niệm cổ hủ, tầm thường, thoát ngoài những khen chê phàm tục, thăng chức đâu lấy làm vinh, thôi chức chẳng lấy làm nhục, giữ ung dung tự tại, thế là tự do vậy.
Khi tu luyện tâm hồn bằng vun bồi bản sắc tâm hồn Việt Nam truyền thống ấy, ta quan niệm rõ sự không bất biến, cho nên vừa cần bảo tồn vừa cần nâng cao. Bản sắc tâm hồn Việt Nam luôn động – phát triển theo hình trôn ốc, ta trở lại là ta nhưng ở ‘đỉnh’ (mức) cao hơn. Nên sẽ mãi là tinh tuý nhất và cô đọng nhất. Mỗi chúng ta luyện tâm hồn để luôn ngang tầm đó.
Ta hiểu rõ trong bản sắc tâm hồn Việt Nam có tính nhân loại. Có thể nghĩ rằng những ‘bẳn sắc’ nêu trên không phải chỉ Việt Nam mới có, đâu phải đặc thù riêng Việt Nam? Đúng, nhiều điểm trong đó mang tính toàn nhân loại, tuy nhiên vấn đề là ở đậm độ khác nhau: ở người Việt Nam chúng đậm đặc hơn, nổi trội lên trong một thời gian lịch sử khá dài lâu. Nhà thơ Huy Cận nói:
“đi sâu vào hồn ta, ta gặp dân tộc;
“đi sâu vào hồn dân tộc, ta sẽ gặp hồn nhân loại.”
Cho nên mỗi chúng ta rèn luyện những phẩm chất trong bản sắc tâm hồn dân tộc ta, chỉ từ đó ta mới đủ căn bản và bản lĩnh để dễ dàng tiếp cận tâm hồn các dân tộc khác và hồn nhân loại. Ta tuyệt đối không kì thị chủng tộc, không bài ngoại, mà thích thú chọn lọc tinh hoa thế giới để tiếp thu, nhất là trên đường hiện đại hoá nước nhà. Ở phạm vi vĩ mô cả nước ngày nay, phương châm “linh hồn, đạo lí Việt Nam + kỹ thuật, thực hành Âu Mỹ” là hợp lí và hoàn toàn không ngược với nội dung tu luyện tâm hồn bằng vun bồi bản sắc tâm hồn Việt Nam nêu trên.
***
Những nội dung tiếp theo bao gồm những rèn luyện khá cụ thể như tự bồi dưỡng học vấn, nghề nghiệp, như giữ lời hứa, đúng giờ, chỉ yêu thương chống đố kỵ ghen tỵ, luôn sửa mình v.v.. nhưng khái quát lại, bao quát hơn, có thể gọi gộp là tự RÈN TẬP NHỮNG THÓI QUEN CƠ BẢN MANG TÍNH CHẤT BẢN LỀ.
Gọi là ‘thói quen’ với nghĩa do rèn luyện kĩ, bền bỉ tới mức ‘tiêu hoá’ nhuần nhị, đồng hoá hẳn thành của riêng mình, tới mức mỗi lần mình tiến hành những việc tốt ấy thì hầu như sẽ không còn phải tốn năng lượng hay cố gắng quá mức nữa, ngược lại quen đến mức không làm những việc tốt đó sẽ thấy khó chịu.
Cũng cần xác định chọn rèn tập thói quen nào vừa cơ bản vừa mang tính bản lề (ta sẽ tạm gọi tắt là ‘thói quen cơ bản-bản lề’). Dưới đây là 3 ví dụ về thói quen cơ bản-bản lề:
1. Thói quen ‘điều khiển tư tưởng trong MỖI hành động’, theo thiển ý chúng tôi, là một trong các thói quen hệ trọng hàng đầu. Nội dung nó là thói quen ‘luôn vận dụng trí lự’ để lượng giá phán đoán và tỉnh táo lựa chọn phương án (cách) xử trí tối ưu, ‘luôn vận dụng ý chí để chủ động’, ‘để làm chủ bản thân’ về mọi mặt. Cẩn trọng ‘lựa chọn’ hành vi thích ứng và hành động chính xác như thế đều nhằm đích thành công.
Phương pháp luyện thói quen tốt đó là một ‘phương pháp động’ nghĩa là do luôn tìm tòi, đặt vấn đề, trao đổi, đối thoại, so sánh, chịu khó suy ngẫm cân nhắc… Tóm lại, không là sự tiếp nhận thụ động, bắt buộc mà là sự thích thú tự nguyện giành đoạt lấy. Quá trình tiến hành sinh động thú vị hấp dẫn; cho nên kết quả đạt được có thể rất đẹp, có khi ở mức độ một nghệ thuật - ‘nghệ thuật’ tư duy và hành động. Một “phương pháp động” tương tự như thế đã được ứng dụng trong sự đổi mới giáo dục trên thế giới và được đánh giá là biểu hiện lớn nhất của sự đổi mới đó trong thế kỷ qua; nó giúp đào tạo khả năng suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo.
Trong cách luyện ‘Thói quen’ nói trên, có ba giai đoạn rèn tập :
(1) học hoà mình vào công việc;
(2) tập suy tư từng vấn đề nhất định (không xao lãng do bất cứ ảnh hưởng nào từ bên ngoài) để hiện ra được các ý tưởng hay (ghi chép lại nếu cần)(*);
(3) luyện bình tĩnh để giữ sáng suốt.

Về nội dung giai đoạn 2 – tập suy tư hữu hiệu tìm ý tưởng hay – thường là sự hình dung ra những thuận lợi, những thiệt hại; tư duy suy xét ấy phải sâu, toàn diện, kĩ càng tới tận cùng sự tiến triển; trong quá trình đó mài sắc quan sát, lắng nghe, suy luận, sàng lọc thông tin, loại bỏ những thông tin ‘vớ vẩn’ làm nhiễu, phải toàn diện nhưng phân biệt chính phụ rõ ràng. Rèn khả năng này một cách cần mẫn bền trí qua thực tiễn ‘có hồn’ (không là thực tế bị buông trôi vô ý thức) có rút kinh nghiệm, nhất là đối với các thất bại, va vấp.
Lợi ích của ’thói quen’ này rất lớn, giúp ta trở thành người có ý thức, chín chắn hơn. Mỗi hành động đều được kiểm soát từ khởi đầu, kể từ khi nó chớm phác thảo rồi được cho phép bằng một ‘quyết định’ của chính mình. Thói quen này điều khiển được tư tưởng tập trung, đào sâu, tìm tòi, suy tính, cân nhắc. Bởi vậy các nỗ lực dường như đều dồn hướng vào, góp phần vào mục tiêu đang phấn đấu. Do đó mỗi công việc sẽ đạt hiệu năng cao nhất.
Hơn nữa, do cẩn thận suy tư tiên liệu những khả năng tình huống xấu nhất cho nên sẽ ít bị những bất ngờ xấu, sẽ không xảy những hành vi thiếu suy nghĩ, tránh được các khinh suất, các sơ hở ngây ngô, giảm bớt sai lầm. Thực chất đó cũng bao gồm vấn đề chuẩn bị, tức là có liên quan thói quen cơ bản-bản lề thứ 2:
2. Thói quen chuẩn bị cũng quý báu và quan trọng không kém. Cần tạo thành thói quen tốt ‘luôn thận trọng chuẩn bị’. Sách Trung Dung từng nêu:
“Làm việc gì có chuẩn bị trước thì thành tưụ,
không phòng xa thì hư hỏng.
“Lời nói có chuẩn bị trước thì không vấp, …
“Tính nết có tính trước thì mới không sinh lầm lỗi”
Còn thuật xử thế Cổ Ấn Độ (trong ‘Panchatantra’ tức là ‘5 quyển giáo huấn’) thì nhấn mạnh:
“Không được làm việc gì mà nhìn chưa kĩ càng,
chưa nghe, chưa hiểu, chưa kiểm tra tỏ tường…”
“Hành động mà không xem xét kĩ, sẽ phải hối hận”.
Như thế có nghĩa là ‘thói quen chuẩn bị’ tạo nhiều lợi ích:
Tạo xúc cảm dương, giảm xúc cảm âm (dẫn tới stress), rất thiết thực cho phòng chống stress vậy.
Cũng nhờ đó mà thói quen chuẩn bị là cách luyện trước sự thích nghi tốt (với những gì sắp xảy ra).
Nó còn tăng lên gấp bội các cơ hội thành công. Ở đời, ta bỏ lỡ khá nhiều lần những cơ hội thành công qúy báu như thế! Thường chỉ vì tính sơ sài đại khái, hoặc vì lười biếng suy nghĩ cho khâu chuẩn bị, lại cứ đổ tại cái ‘số’ không may mắn!
3. Nếp ‘Phát triển nội sinh’ là một ‘thói quen cơ bản-bản lề’ nữa thật cần thiết. Nó là sự phát triển thường xuyên nội lực của tâm hồn. Rồi bằng nội lực ấy (của tâm hồn) thúc đẩy mọi sự phát triển bản thân, sự tiến triển mọi công việc. ‘Phát triển nội sinh’ là như thế. Điều đó làm riết sẽ thành nếp như kỷ luật, thành thói quen tốt. Có thể định nghĩa ‘nếp phát triển nội sinh’ là tập quán đưa tâm hồn vào làm nguồn lực bên trong của mọi sự phát triển. Những người như thế sẽ luôn vượt lên trên cảnh tầm thường.
Khi bắt đầu xây dựng cho mình nếp phát triển nội sinh, cũng cần căn cứ sự nhận dạng thuộc tính của tâm hồn mình để cho phù hợp nhất: ví dụ xét xem tâm hồn mình là thuộc nhóm tâm hồn nhạy cảm hay là nhóm tâm hồn hoạt động?
Đối với tâm hồn nhạy cảm cần uốn nắn để thật thăng bằng, đúng đắn, thích hợp, và tế nhị (không ồn ã, ồ ạt, lộ liễu, cực đoan).
Đối với tâm hồn hoạt động (như đã sẵn động cơ mạnh cho con tàu), thì cần ghép một bánh lái tốt, đó là trí tuệ. Bản thân ‘trí tuệ bánh lái’ ấy, về sau lại nhờ chính động cơ ‘tâm hồn hoạt động’ kia mà trở nên hiệu lực hơn nữa. Sự say mê đặc biệt của một ‘tâm hồn hoạt động’ nếu có trí tuệ định hướng tốt thì nếp ‘phát triển nội sinh’ sẽ mỹ mãn.
Cần bàn thêm đôi điều nói chung về các thói quen cơ bản-bản lề vừa nêu. Sức mạnh của thói quen nói chung thật kì lạ: còn có thể quyết định cả phẩm hạnh lớn cho suốt cuộc đời nữa. Nhờ chúng mà dần dần hình thành : nghị lực; lòng ham học và sửa mình để cầu tiến bộ (với quyết tâm ở mức ‘phẫn nộ cầu tiến’); đức tính công bằng trong mọi hoàn cảnh, với tinh thần sáng suốt. Chúng còn tạo những khả năng khó hơn bội phần ví dụ như khả năng đoàn kết, uy lực tinh thần hoà giải mọi bất đồng, khả năng hoà đồng, xoá mọi thành kiến và cả óc điạ phương cục bộ, rồi lòng tôn đức quý hiền, trọng nghĩa khinh tài (ở trên có nhắc tới) v.v...
Có điều thuận lợi là khi đạt thêm được một thói quen tốt thì nó như kéo theo cả chùm vì chúng gắn với nhau thành phức hệ. Cơ hồ như tu luyện được một thói quen tốt thì tuồng như nó càng thúc đẩy ta quan tâm nuôi dưỡng tâm hồn nhằm đạt thêm một thói quen tốt nữa. Do đó càng thấy việc đạt cho kì được 3 thói quen tốt cơ bản-bản lề đầu tiên là quan trọng đến dường nào.
Mà cách tiến hành, nói chung, khá dễ nhớ : chỉ bằng hành động lặp đi lặp lại hàng ngày mà thành, chẳng khác gì một trò chơi nhỏ trong ‘tấn tuồng lớn’ là cuộc đời, miễn là lửa nhiệt tình luôn được nhen nhóm. ‘Văn ôn võ luyện’; chẳng là văn hoặc võ nhưng ‘thói quen’ càng cần ôn luyện, và chỉ là vấn đề ôn luyện! Hầu như chỉ cần một điều kiện duy nhất: tính kiên trì bền bỉ bởi vì ‘thói quen’ không phải một sớm một chiều mà đã đạt. Đạt được rồi, vẫn cần tính kiên trì bền bỉ ấy bởi vì phải chăm lo duy trì nó bằng cách tiếp tục luyện mãi, nếu không, nó có thể mai một, triệt tiêu.
Tóm lại, rèn luyện các thói quen tốt như trên là con đường bắt buộc mà khả thi để rèn luyện gốc tâm hồn.
Thực hiện liên tục không ngừng, không quên, dồn vào đó tất cả trí lực, thể lực, thời gian, toàn bộ lửa nhiệt tình và say mê.
*
CHỦ ĐỀ MỚI tiếp theo, gắn kết v/đ đang bàn sẽ là THIÊN NHIÊN.