Tên thành viên:   Mật khẩu:   Đăng nhập tự động  Ẩn danh 



Tìm kiếm với từ khoá:


Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 12 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 13-10-2011, 05:47 pm 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 

THÂN PHẬN NGHIỆP THƠ MỖI THI HỮU TA HÔM NAY...


*
THÂN PHẬN NGHIỆP THƠ MỖI THI HỮU TA HÔM NAY...
(trích bài"Thơ và côngchúng hômnay",thamluận của Lê Thành Nghị

tại Hội thảo Thơ ViệtNam hiệnđại 2 ngày 8, 9/10/2011 vừa qua tại ThanhHóa)


Thơ và công chúng hôm nay


Vừa rồi, nhà thơ X vừa cho xuất bản một tập thơ, nghe bè bạn nói là rất đáng đọc, tôi liền ra các hiệu sách chung quanh phố Tràng Tiền Hà Nội để tìm mua một cuốn. Có đến hàng chục cửa hàng tư nhân và nhà nước, la liệt sách, đủ các chủng loại, đủ các chủ đề, to nhỏ, dày mỏng. Nhân viên tiếp thị có thể giới thiệu cho ta từng khu vực sách. Và bất cứ lĩnh vực nào của đời sống cũng có thể tìm được hàng chục đầu sách tham khảo. Chưa bao giờ sách in đẹp và phong phú chủng loại như vậy! Nhưng sau gần nửa buổi đi khắp các cửa hàng sách, lục tìm không được tập thơ nọ, tôi liền nhờ trợ giúp của những người bán sách thì mới vỡ nhẽ: từ lâu lắm rồi không có cửa hàng sách nào còn dám nhận bán thơ vì không có người mua! Tôi trở thành một kẻ kém thức thời, nếu không muốn nói là khốttabit trong con mắt những nhân viên cửa hàng sách! Biết không thể mua được, tôi nghĩ cách đến thư viện mượn rồi đi photo, nhân viên thư viện của một cơ quan chuyên ngành nọ cũng cho biết lâu nay thư viện hầu như không mua thơ!.
Như vậy, gần như bó tay, hình như thơ đang mất chỗ đứng trong ồ ạt của cạnh tranh thị trường và thế cũng có nghĩa đang mất chỗ đứng trong đời sống xã hội, cũng có nghĩa đang đứng trước một thảm hoạ của sự rẻ rúng, ghẻ lạnh, thờ ơ của công chúng, sự lãnh cảm mang tính cộng đồng. Điều đó rất đáng để bàn luận.Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng này? Hãy bắt đầu từ nguyên nhân chủ quan.
Thơ ca ai cũng biết là hoạt động tinh thần của con người, bắt nguồn từ những trạng thái tâm hồn của người viết. Một tâm hồn biết cảm nhận thật sâu sắc, thật phong phú những ba động của cuộc đời, rồi biết tự lắng lại, tự chắt lọc trước khi bằng lao động ngôn ngữ nghệ thuật của mình, cho ra đời những câu thơ đầy sức gợi cảm, đủ sức lan toả và từ đó tìm đến sự đồng cảm trong tâm hồn người đọc… Thơ ca cũng như bất kỳ hình thức nghệ thuật nào, nếu là cái cần cho con người như cơm ăn, như nước uống, như khí thở thì không bao giờ bị con người chối bỏ. Người ta chỉ chối bỏ những gì không cần cho họ.
Từ lôgic trên, xuất hiện một câu hỏi: thơ ca Việt Nam hôm nay có còn cần thiết cho người đọc không? Sự mất chỗ đứng của thơ tại các cửa hàng sách, tại các thư viện... như trên ta đã thấy, do thơ đã phạm những lỗi gì để dẫn đến tình trạng đáng buồn này?
Theo tôi chất lượng thơ là yếu tố cần phải được xem xét đến đầu tiên. Ai cũng phải thừa nhận kể từ sau đổi mới, chưa bao giờ thơ được in nhiều như vậy. Nhiều người cho rằng thơ đang lạm phát, đang không kiểm soát được, đang như một con đập tràn bờ, nắm bắt thơ hôm nay khó như nắm bắt một mục tiêu di động đang bay trên trời...Người ta ước tính mỗi năm có khoảng trên bảy trăm tập thơ được in… Có tác giả tên tuổi còn khá lạ với công chúng nhưng đã có gần một chục đầu sách thể loại thơ… Những nhà thơ chuyên nghiệp cũng đôi khi dễ dãi cho ra tập. Thật lạ, ngày trước giấy má khó khăn, ba bốn tác giả in chung một tập mà những tập ấy bây giờ vẫn còn nhiều người nhớ và tìm đọc… Ở đây cần xác định rằng không ai ác cảm với số lượng, số lượng nhiều mà hay thì đó là phúc nhà chứ.Chỉ đáng phàn nàn là hội chứng chạy theo số lượng mà bỏ qua chất lượng! Có thể nói chưa bao giờ việc in thơ lại thoải mái như lúc này. Nếu nhẩm tính từ khi đổi mới đến nay đã có thể có vài ba vạn tập thơ ra đời. Một cuộc đua tranh về số lượng. Với số lương khổng lồ như vậy, cần tìm hiểu, để đọc hết là một điều không thể.


Nhưng số lượng chưa phải là điều đáng nói, cho dù với một số lượng lớn khác thường như vậy đã gây choáng cho rất nhiều người. Chất lượng mới là điều cốt tử. Nhiều bài thơ nhợt nhạt, quanh quẩn, ngô nghê, viết lấy được, cho đủ số bài, để khi in ra cái gáy sách không quá mỏng, được viết với một trạng thái vô cảm...vội vàng tập hợp lại để đi in, thành tập, thành tuyển tập nom thật oách, để kịp tặng bạn bè. Nhạt là căn bệnh phổ biến của thơ hôm nay. Các biên tập viên ở các nhà xuất bản thường chỉ bắt lỗi chính trị, quan điểm, lập trường, còn bệnh nhạt rất dễ được thông cảm. Vậy là tập thơ ra đời sau khi nộp cho nhà xuất bản một khoản lệ phí. Nhạt là căn bệnh nan y của văn chương và đặc biệt đối với thơ. Tưởng vô thưởng vô phạt, tưởng không chết ai, nhưng nhạt là cách giết chết thơ nhanh nhất. Người đọc có thể có đủ kiên nhẫn đọc một chục tập, một trăm tâp, nhưng không đủ kiên nhẫn và độ lượng đọc cả nghìn tập mà không tìm được những bài thơ họ thích. Nhưng ở đời, không một tác giả nào dám thừa nhận thơ mình nhạt. Đồng nghiệp biết, các nhà phê bình biết, biên tập viên có thể biết, nhưng không một ai nỡ vạch ra cái nhạt ấy, vì vô vàn lý do. Kết quả thơ nhạt, thơ dở ngang nhiên tồn tại, cái làm qua chuyện có khi lấn át cái tâm huyết, ít ra là làm hoa mắt người đọc, thách thức lòng kiên nhẫn của họ. Người xưa vẫn luôn nhắc câu chuyện thôi xao Giả Đảo, vẫn khuyên nếu một chữ viết ra không làm rung động được ai thì tốt nhất đừng viết ra. Đằng này hình như không một ai trong số những tác giả tập thơ nhạt nhẽo ấy nhớ lời người xưa, cứ vô tư, thản nhiên ghép vần, không hề tính đến tâm trạng của người tiếp nhận, trong khi không một thứ hàng hoá nào được làm ra không cần tính đến người tiêu thụ, mà có thể mang lại sự cần thiết cho họ. Thơ ca cũng vậy, không hiểu, không biết đến cái gì người đọc đang cần, rất dễ bị người đọc ngoảnh mặt đi. Thơ nhạt, thơ dở làm thể loại thơ chết một cách thật êm ái!
Không phải trong vô vàn những tập thơ được in ra đều là thơ nhạt. Có điều thơ hay, thơ sâu sắc thường rất hiếm.Thơ hay hôm nay vừa hiếm lại vừa bị chen lấn, bị khuất lấp, bị đánh đồng với thơ dở. Nó tựa nụ hoa tí xíu trong đám cỏ rậm rạp của những phế liệu. Rất cần những con mắt công tâm và tinh tường của nhà phê bình, gạn ra tinh tuý từ những phế liệu ngổn ngang kia. Hãy tưởng tượng, thơ mới nếu không có Hoài Thanh, không ai tin những tài danh kia còn lại đủ mặt cho đến hôm nay. Thơ lúc này cũng vậy, chắc chắn không hiếm những tập hay, bài hay, nhưng ai có đủ tài năng và dám bỏ công sức để làm cái việc tối ư cần thiết và quá đỗi phức tạp, để nhặt ra từ gò đống kia những hạt bụi vàng như K.Pautôpxki ao ước! Như vậy, bạn đọc quay lưng lại với thơ vì họ bị tra tấn bởi quá nhiều thơ dở, thơ nhạt, vì họ không được những nhà phê bình thơ mách bảo những gì cần đọc, trong khi họ còn quá nhiều việc phải làm.
Nhưng phê bình thơ một mặt hình như bất lực trước tình trạng lạm phát của thơ đương đại, mặt khác nhiều cây bút phê bình, đọc sách đôi khi lại quá dễ dãi trong việc khen chê, thẩm định. Có những bài phê bình, đọc sách không tiếc lời ca ngợi một tác giả, một tập thơ mà thực chất không đáng được như vậy. Công chúng đọc bài phê bình rồi đối chiếu, suy ngẫm về tập thơ mà họ được đọc và họ nhận ra không phải thế. Hoá ra là trò bốc thơm nhau, viết để trả ơn, trả nghĩa nhau. Ví dụ cho điều này không khó tìm trên báo chí hiện nay. Nếu ai chịu khó đọc báo, đọc mạng, sẽ không khó nhận ra tình trạng tháng trước nhà thơ nọ có bài khen hết lời nhà thơ kia, vài tháng sau lại thấy có bài của nhà thơ kia đáp lễ bằng cách khen lại cũng không kém phần mùi mẫn nhà thơ nọ. Trên một trang mạng nào đó tôi không còn nhớ, có người còn cho biết, có tác giả nọ lấy tên khác viết bài phê bình tập thơ của mình rồi đem đăng báo. Nếu điều này có thật thì văn chương đang lâm nguy ngay bên cạnh mình chứ không phải ở nước tây, nước tàu xa xôi nào! Tôi cho rằng im lặng không đáng sợ bằng cách lên tiếng theo kiểu này. Nếu phê bình không lên tiếng, có thể đó chỉ là một khuyết điểm, nhưng nếu phê bình lên tiếng tâng bốc nhau một cách quá đáng, thì đó sẽ là một việc làm khó có thể chấp nhận. Người đọc sẽ nhận ra mùi xôi thịt dù chỉ qua một vài dòng viết… Đến đây, các nhà phê bình thơ cũng không thể chối bỏ trách nhiệm của mình về việc làm cho thơ mất chỗ đứng trong đời sống!
Một lỗi khác, phải chăng thơ ca Việt đã chậm đổi mới, không theo kịp nhu cầu cảm thụ thẩm mỹ của người đọc, hoặc những đổi mới chưa làm bạn đọc hưởng ứng?
Từ ngọn nguồn cho đến hôm nay, thơ đều phải tuân thủ một nguyên tắc bất di bất dịch là khát vọng vươn tới những bài thơ ý sâu, lời đẹp. Lời trong thơ chính là ngôn ngữ nghệ thuật, là chữ dùng của nhà thơ. Ý trong thơ chính là nghĩa trong quan hệ chữ và nghĩa mà một tác phẩm nghệ thuật cần vươn đến. Ở những bài thơ hay ý và lời luôn ở trong một liên kết thống nhất. Ý dù sâu sắc đến bao nhiêu nhưng lời lẽ thô thiển, câu cú vụng về, không thể hiện tối đa lao động ngôn từ của tác giả, thì cái ý sâu ấy cũng khó lòng có sức lan toả với người đọc. Nếu chỉ chú ý đến nghĩa thì thơ bị bỏ mất một mặt hết sức quan trọng của ngôn ngữ. Đó là bóng của chữ, tức là mặt nghệ thuật của ngôn từ. Ngược lại nếu lời lẽ bay bổng, ngôn từ mượt mà nhưng ý tưởng nông cạn, xoàng xĩnh thì thơ ấy cũng không gây được xúc động thật sự đối với người đọc. Ở đây nội dung và hình thức bao giờ cũng đến với người tiếp nhận trong một chỉnh thể.
Cần phải lưu ý một đặc điểm của tâm hồn người Việt. Đó là xu hướng duy tình hơn duy lý, nặng tình hơn nặng lý, chuộng cảm xúc hơn lý trí...và vì vậy, trong ca dao, dân ca cũng như trong văn học thành văn thường đề cao tình cảm, và như một vô thức, đôi khi như duy cảm. Không thiếu những bài thơ bộc lộ lai láng cảm xúc của tác giả, nhưng lại phân tán ý tưởng, nhợt nhạt suy nghĩ. Thơ mới, một thời đại huy hoàng trong tiến trình thơ Việt cũng nghiêng về cảm xúc, tình cảm. Các nhà thơ thời kỳ chống Pháp rồi thời kỳ chống Mỹ phần lớn cũng viết theo cảm xúc. Cảm xúc dâng tràn, thậm chí có tác giả viết trong niềm say, trong cơn hứng khởi, trong cảm xúc tột độ...Ai cũng hiểu bất cứ thể loại văn chương, nghệ thuật nào cũng bắt đầu từ tình cảm, cảm xúc của người nghệ sỹ. Cảm xúc, tình cảm là ký hiệu của tâm hồn để lan toả sang những tâm hồn đồng điệu.
Nhưng nếu chỉ nghiêng về tình cảm, thậm chí chỉ duy cảm, trong thơ chỉ có tình cảm thì thơ ấy còn thiếu một phẩm chất quan trọng nữa của nghệ thuật. Đó là tư tưởng của cảm xúc, phần rường cột cùng với cảm xúc làm nên ngôi nhà nghệ thuật. Hải Thượng Lãn Ông từng nói, thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Ngẫm trong tiến trình văn học Việt Nam, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi tiếp sau thơ Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, rồi nhìn ra ngoài thơ R. Tago, P. Neruđa, Uýtman, N. Hitmet, E.Eptusencô...đều hài hoà giữa cảm xúc và tư tưởng, chinh phục người đọc đồng thời về cảm xúc và tư tưởng . Như vậy tính thống nhất biện chứng giữa hai mặt cảm xúc và tư tưởng, cảm xúc cao độ và tư tưởng sâu sắc làm nên phẩm chất của thể loại. Nếu chỉ chú ý một phía sẽ không đạt đến tính hài hoà nghệ thuật.
Và điều đáng nói là nếu chỉ sáng tác theo cảm xúc thuần tuý , sẽ không còn phù hợp với đòi hỏi hôm nay của công chúng nữa, bởi vì ai cũng biết tri thức của công chúng hôm nay đã rất khác xưa. Một khi thơ không nắm bắt được điều này, món ăn tinh thần tuyệt diệu ngày nào là thơ, sẽ không còn hợp khẩu vị nữa. Như vậy có phải chậm đổi mới cũng là một trong những nguyên nhân làm thơ mất chỗ đứng như ta đã thấy!
Nhưng đổi mới thơ bằng cách nào là một ẩn số đang có nhiều nhà thơ tìm lời giải. Thơ Việt đang có sự thay đổi làm nên sự chuyển động khá quyết liệt thuộc về bản chất. Hiện đang có nhiều cách đổi mới thơ. Nào là thơ ngôn ngữ, thơ vụt hiện, thơ cấu trúc lỏng, thơ viết để cái tôi ngoài bản thể theo lối hậu hiện đại. Cần tôn trọng sự khác biệt, cũng như cần tôn trọng những thể nghiệm. Nhưng từ những thay đổi của thơ hôm nay, có thể gom lại trên ba hướng chính.
Một là những tìm tòi thay đổi nghiêng về mặt hình thức, cụ thể là nghiêng về ngôn ngữ biểu hiện. Đó là những năm tám mươi của thế kỷ XX, một số nhà thơ đã tạo ra một kiểu thơ rất khác lạ với thơ truyền thống. Nhiều bạn đọc đã từng bị sốc khi đọc kiểu thơ ngôn ngữ này. Có thể nói đó là thứ trò chơi ngôn ngữ, không quan tâm đến ngữ nghĩa. Thơ ấy tất nhiên không hợp với số đông công chúng, và theo quy luật những gì không hợp với khẩu vị của số đông, nó phải tự biến mất. Nó tự biến mất, như kiểu tự mất của thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập trước đây, chứ không phải công chúng chưa có sự chuẩn bị tri thức đọc và không phải các nhà phê bình thơ không cổ vũ kịp thời như có người nói!

Nhưng ở đây cần có một mở ngoặc về trường hợp Lê Đạt, người có luận điểm nhà thơ là phu chữ nổi tiếng.Với quan niệm nhà thơ là phu chữ, Lê Đạt đã lao động chăm chỉ trên cánh đồng chữ của mình và khác với quan niệm thơ là trò chơi ngôn ngữ trên đây, Lê Đạt đã tạo ra trong thơ ông những nghĩa mới khác lạ, khá bất ngờ, khá thú vị, bởi lẽ Lê Đạt rất có ý thức đặt cạnh nhau những ngộn từ rất khác nhau về nghĩa, thường không có sẵn trong phép đặt câu, tạo nghĩa của ngôn ngữ Việt. Một thứ cấu trúc bất ngờ theo một kiểu triết lý xáo trộn, gián đoạn, tạo nghĩa bằng sự liên tưởng của người đọc, thơ Lê Đạt mở ra những chiều kích mới của thơ Việt ở khía cạnh tạo nghĩa mới cho ngôn từ, kích thích suy nghĩ của sự tiếp nhận. Như vậy cũng hướng về ngôn ngữ, nhưng thơ Lê Đạt không mang ý nghĩa là trò chơi, ngược lại là lao động ngôn ngữ. Phần lớn người đọc đồng tình với hướng đi của Lê Đạt, chỉ không thích những khi ông đứng chênh vênh giữa bờ vực của những đổi mới, tìm tòi và sự lập dị, cầu kỳ mà chút xíu nữa ông sẽ biến ngôn ngữ thành thứ trò chơi ít người xem!


Hai là
, những cố gắng đổi mới thơ về mặt giọng điệu. Thơ Việt truyền thống luôn chú ý điệu ngâm, thâm chí điệu hát (hát thơ) cho phù hợp với cảm xúc, tình cảm. Một số nhà thơ hướng đến tư duy thơ hiện đại bằng cách đưa vào thơ điệu nói, đưa vào thơ chất văn xuôi. Đương nhiên đây là điệu nói, chất văn xuôi nghệ thuật. Đây là khuynh hướng muốn khắc phục tình trạng duy cảm xúc hoặc sự gò bó vần điệu của thơ truyền thống. Quả thật nếu duy tình cảm, lại lệ thuộc quá đáng về vần điệu, tự trói buộc bằng những niêm luật bằng trắc, đăng đối.. thơ đã gây ra những nhàm chán của cảm giác bằng bằng không một đột biến mang ấn tượng sáng tạo, và điều đáng nói là không còn phù hợp với tâm lý của thời đại công nghiệp. Đưa vào thơ điệu nói, chất văn xuôi, bài thơ mở rộng biên độ câu chữ, mở rộng trường liên tưởng, đôi khi như suối tràn bờ, diễn đạt thoải mái tư tưởng, tung thả gần như tuyệt đối...Trong một bài, một tập rất dễ nhận ra ngồn ngộn những ý qua ngồn ngộn những từ. Một sự vâm váp thậm chí rậm rạp những ý và từ rất khác với sự đèm đẹp trong thơ cử tử, trong thơ ngâm vịnh điền viên. Nếu phải trình bày trước công chúng loại thơ này chắc chắn nhà thơ phải lựa chọn chất giọng chính luận, hùng biện, gây ấn tượng bằng những trùng điệp ngôn từ và dồn dập những ý tưởng. Những ai đã từng quen với thơ điệu ngâm hẳn có thể sẽ không quen với kiểu thơ này, cho dù đây vẫn là một xu hướng hiện đại hoá thơ Việt, nếu muốn suy nghĩ theo chiều hướng, cần bỏ điệu ngâm, cần bỏ những duy cảm, cần tăng cường tư tưởng trong thơ. Có thể khẳng định, cho đến hôm nay có những người thích và cũng còn không thiếu những người chưa thích kiểu thơ này. Có thể còn phải chờ thêm thời gian, cũng có thể cần phải gia công nghệ thuật nhiều hơn nữa. Dù sao những cố gắng thay đổi này cũng rất cần thiết đối và đáng ghi nhận đối với thơ Việt hiện đại.


Ba là xu hướng đưa vào thơ những câu nói thường (thơ điệu nói) đã có từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp trong thơ Nguyễn Đình Thi và sau đó là là thơ Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Chính Hữu và những nhà thơ khác, đang được tiếp tục trong thơ số đông hôm nay. Chế Lan Viên cũng từng chủ trương đi từ hát sang nói trong thơ.Họ chủ trương không lệ thuộc vần, nếu cần thì bỏ vần để câu thơ tự do hơn. Có điều trong thơ họ ngôn ngữ tự do trong chọn lọc, điệu nói mang nhạc điệu, nhịp điệu nghệ thuật, nhịp điệu tâm hồn, vần có khi không cần thiết để ưu tiên cho ý. Đưa vào thơ những câu nói thường, vậy mà sao thơ họ vẫn lắng đọng, vẫn quyến rũ, vẫn có thể được ngâm ngợi, vẫn dễ thuộc, dễ nhớ. Nhưng khi mới xuất hiện, thơ Nguyễn Đình Thi không phải đều được đa số ủng hộ. Có nhà thơ lúc ấy còn đòi đuổi thơ ông ra khỏi nền thơ Việt (!), nhưng rồi thời gian đã chứnh minh Nguyễn Đình Thi đúng. Đến đây cho phép chúng ta nghĩ rằng mạch thơ của Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Quang Dũng, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Chính Hữu và nhiều nhà thơ khác nữa không hề lạc mốt, là một hướng đi cần được tiếp tục và đã phần nào được các thế hệ nhà thơ đương thời tiếp tục .Cho đến hiện nay, xu hướng bỏ vần đang được nhiều nhà thơ sử dụng. Tuy nhiên thơ điệu nói này cũng cần được hiện đại hoá để phù hợp với tâm lý đương thời của người đọc. Có thể ngắn hơn, lắng đọng hơn, nhiều ý tưởng, triết lý và suy tưởng hơn chăng?...


Mấy năm qua, những thay đổi về mặt hình thức truyền đạt cũng là những cố gắng của thơ. Ta thấy xuất hiện thơ sắp đặt, thơ trình diễn. Đây là một cách thay đổi cách đọc thơ truyền thống. Có thể cách đọc lật từng trang đã không còn phù hợp với một bộ phận công chúng nên họ đã tìm đến cách đọc này. Ở nước ta, vì mới xuất hiện nên thơ sắp đặt, thơ trình diễn đang gây sự hiếu kỳ của công chúng (Ở đây công chúng đang xem người biểu diễn thơ). Những ngày hội thơ ở sân thơ Văn Miếu, nếu chú ý quan sát sẽ không khó nhận ra những người trẻ thì say sưa háo hức, những người có tuổi thì không mấy mặn mà. Hình như đa phần người Việt còn xa lạ với những nhập cảng cách đọc thơ như thế này. Mà những gì còn xa lạ thì không thể nói đó là món ăn của số đông công chúng!


Thơ không thể tồn tại mà không cần đến công chúng nhưng công chúng hôm nay còn cần thơ nữa không? Nếu nói không cần thơ nữa, thì không thể giải thích tại sao vẫn còn nhiều người làm thơ như vậy, không thể giải thích tại sao ngày thơ Việt Nam những năm qua đông đúc như vậy! Nhưng nếu nói công chúng vẫn cần thì tại sao trong một xã hội trên 80 triệu dân, một tập thơ chỉ in vẻn vẹn 300, 500 bản cũng không biết bán cho ai và tại sao trên thị trường sách thơ lại mất chỗ đứng như vậy? Mặt khác nhà thơ hình như không còn là một danh hiệu cao quý nữa, mà thật sự đã bị xuống giá trong cuộc sống hiện tại đôi khi vẫn là đối tượng để chế nhạo của thiên hạ.


Lôgic thông thường cho phép chúng ta nghĩ rằng càng cao về dân trí thì xã hội càng cần những giá trị của sáng tạo tinh thần, mặt khác càng căng thẳng về cường độ lao động để kiếm sống của con người trong xã hội công nghiệp thì càng cần có thơ ca nghệ thuật để làm cân bằng những trạng thái tâm hồn. Nhưng ở xã hội chúng ta hôm nay, hình như mọi thứ đang diễn ra ngược lại. Những xuống cấp đạo đức, những lối sống cằn cỗi, bạo liệt, mất hết tình thương yêu giữa những con người hình như đang diễn ra mỗi ngày một trầm trọng. Có phải một bộ phận không nhỏ dân chúng đang đề cao một cách quá đáng cuộc sống vật chất, khuyến khích một cách quá đáng làm giàu và những quy luật của giá trị đang bị xâm phạm, những giá trị tinh thần vì thế đang bị hiểu nhầm, đang bị xếp sai thang bậc, đang bị rẻ rúng? Và thơ vì thế trở nên mất chỗ đứng giữa cái ngổn ngang , bề bộn của cuộc sống hôm nay…
…Trở lại với vai trò của thơ, của người đọc thơ hôm nay. Không ai nói rằng ngày trước dân trí cao hơn lúc này. Cũng không ai nói rằng cuộc sống vật chất ngày trước khá hơn lúc này, nhưng ai cũng có thể nói ngày trước thơ được trân trọng hơn lúc này. Trong thời kỳ chống Mỹ cũng vậy, càng gian nan thơ ca càng bay bổng. “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng / Nở hoa vàng dọc suối để ong bay” là theo quy luật ấy.Trong ba lô của người ra trận không thiếu những cuốn sổ tay chép những bài thơ họ thích.
Điều này như một nghịch lý khó cắt nghĩa trong thời hiện tại.
Mà không chỉ ở Việt Nam thể loại thơ đang mất chỗ đứng, số phận của thơ ca các nước trên thế giới cũng giống như ta. Trong thời đại đa phương tiện như hiện nay thơ đang chống chọi quyết liệt để giành độc giả. Có lần trong một cuộc gặp gỡ với bạn đọc Việt Nam tại trung tâm khoa học xã hội và nhân văn, nhà văn trẻ Nhật Bản M.Onô cho biết ở nước ông thơ cũng đang rất khó tồn tại. Một nhà thơ đoạt giải Nôben thơ họ cũng chỉ được in với số lượng ít ỏi, nghĩa là tira dăm ba trăm gì đó và bán cũng không dễ! Một hội chứng mang tính toàn cầu, mang tính nhân loại cho thấy chưa bao giờ thể loại thơ đang đứng trước một câu hỏi lớn của nhân loại: tồn tại hay không tồn tại? Lịch sử đã từng chứng kiến sự biến mất của nhiều thể loại nghệ thuật, khi chúng không còn phù hợp nữa với thời cuộc. Với thơ, câu hỏi tồn tại phải / chưa phải đặt ra lúc này, nhưng cũng không phải ngoại lệ. Thơ chỉ tồn tại khi xã hội còn người đọc thơ.


Vậy những ai còn đọc thơ hôm nay? Trước hết chúng ta hãy quan sát. Một ngày một người Việt hôm nay dành được bao nhiêu thời gian cho việc đọc. Có lẽ rất khiêm tốn. Công việc ở cơ quan, ở công ty, ở thị trường, ở đường phố, ở quán bia, quán cà phê...chiếm hầu hết thời lượng trong ngày của một người. Sau thời gian đó là tivi đa kênh, đa hệ, máy tính có đủ các loại thông tin và trò giải trí. Có bao nhiêu phút trong ngày dành đọc sách, và có bao nhiêu tập thơ được bạn lựa chọn để đọc trong một ngày, một tuần, một tháng, hay một năm? Một câu hỏi khó và trả lời chắc chắn sẽ buồn!
Mặt khác, hình như nếp quen đọc sách đang thay đổi. Ngồi đọc sách theo kiểu cổ điển một lúc đã thấy mệt, ngồi máy tính cả buổi dừng lại vẫn còn hưng phấn. Thực đơn tinh thần đang thay đổi rõ rệt, thơ đang mất chỗ đứng trong lựa chọn từng ngày trên bàn tiệc của từng người và vì thế đang mất hiệu ứng xã hội. Một xã hội không còn người đọc, thư viện không còn sách hay, đêm đêm nhà hát không sáng đèn, khắp nơi là những quán bia, quán nhậu, những nhà nghỉ, những quán ghêm. Một sự thay đổi mang tính thời đại, và không biết bao giờ cho đến ngày xưa!


Bạn có thể đặt câu hỏi, ngày xưa cũng đâu có nhiều người ham đọc sách? Xin thưa, ngày xưa hoc sinh các trường trung học, sinh viên các trường đại học, những người lính (ở Việt Nam lính trẻ như trẻ con, còn trẻ con thì đông như lính – B. Đimitrôva), những người công nhân...chăm đọc sách hơn bây giờ, thích văn thơ hơn bây giờ.


Thang giá trị thay đổi, những tiện ích của đời sống vật chất hôm nay đã tạo nên tâm lý tự giác và không tự giác, chán học văn, chán học sử, chán học toán...chỉ vì những môn học này không có tương lai, không mang lại sự bảo đảm cuộc sống cho mỗi người. Điều này ai cũng biết và phải chăng nhà thơ, nhà văn trong con mắt của nhà buôn, nhà kinh tế, nhà doanh nghiệp không hơn gì một kẻ thất nghiệp tội nghiệp, nhất là nhà thơ, nhà văn kia đang định cầu cạnh xin tài trợ để in tác phẩm! Ai đã gây ra những biến cải đáng buồn như vậy? Có phải đó là mặt trái của cơ chế thị trường và tình cảnh của một xã hội đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển?


Nhưng trong tình hình như vậy mà tại sao thơ lại đang khủng hoảng thừa (như ta đã biết) còn người đọc thơ đang khủng hoảng thiếu. Một nghịch lý rất trớ trêu.


Có phải lúc này nhiều người chỉ yêu thơ mình, chỉ thích đọc thơ mình, khoe thơ mình chứ không quan tâm đến thơ người. Bởi vì nếu không thì không thể giải thích được tại sao thơ bị ế ẩm đến như vậy. Người ta ngoảnh mặt đi với thơ người khác, còn chăm lo vun vén cho thơ mình chăng? Làm thơ là công việc dễ dàng và thú vị chăng? Quả thật làm thơ thật dễ (nhưng làm thơ hay thì không dễ chút nào). Và thơ đúng là trò chơi thú vị làm con người dễ ngộ nhận. Một nước thơ như Việt Nam ai cũng có thể gieo đôi ba vần, tức cảnh sinh tình đôi ba câu. Lối nói vần vè của ca dao tục ngữ như một trò chơi ngôn ngữ như những bước đi đầu tiên của con đường vào thơ, cách tạo vần sáu tám của lục bát thường khi vẫn là lời ăn, tiếng nói của mọi người. Từ nói vần vè đến gieo đôi ba vần, đến cho ra một tập, vài ba tập chỉ là khoảng cách không quá sức mình. Thế là in thơ, thế là sản xuất thơ liên tục (có người đã cảnh báo nạn phá rừng bắt đầu từ kiểu in ấn này), tự nhận là nhà thơ cho dù danh hiệu này đang xuống giá, cho dù việc in ấn không ít hao tổn tiền túi của mình Thời buổi in ấn dễ dàng, được thấy tên mình trên những tập sách dày cộp có tốn một tí nhưng có ai không mãn nguyện. Hoạ chăng chỉ có những nhà thơ chuyên nghiệp bị chen lấn, bị đánh đồng, bị khuất lấp là kém vui. Nhưng chỉ kém vui thôi chứ có ai làm được gì!


Vậy thì còn những ai đọc thơ? Một nhà thơ chuyên nghiệp, Inraxara, khá chăm đọc sách, khi được hỏi đã cho biết: Trong số hơn 300 hội viên thơ, tôi chỉ đọc 15 người. Khoảng 15 người nữa tôi có đọc nhưng đã quên... 270 nhà khác, tôi hoàn toàn chưa đọc. Vì không có cơ hội đọc. (Báo Văn hoá - Thể thao ngày 20-5-2011). Không có cơ hội đọc, phải chăng Inraxara cũng rơi vào tình trạng như nhiều người vì không thể tìm mua ở đâu được. Nhưng không phải ai cũng còn sở thích mua sách đọc như vậy. Rất nhiều người được biếu sách nhưng vẫn không đọc, khi được hỏi đến vẫn lúng túng như chưa hề biết mình đã được tặng. Tất nhiên có thân thiết người ta mới làm một việc không mấy tế nhị là hỏi lại như vậy, còn ngoài ra ai cũng biết thơ mình khi ra khỏi nhà là đi vào chỗ không người, là đi vào cõi vĩnh hằng của sự quên.
Từ cây gỗ đến tờ giấy, đến tập thơ, đến cát bụi, một chu trình ngắn ngủi, và vô nghĩa. Một tình cảnh thật đáng sợ! Người đời vốn không thích những ai hay tự quảng cáo lộ liễu cho thơ của họ, nhưng quả tình không còn cách nào khác, hệt như phải hô lên trong trường hợp khẩn cấp (đuối nước, hoả hoạn...) như vậy, cũng là điều dễ hiểu.


Ai cũng biết những năm gần đây có những câu lạc bộ thơ cấp làng, phường, khóm vẫn sinh hoạt đều đều. Họ đa phần là những ông, bà hưu trí. Những buổi sinh hoạt là để nghe thơ bạn và đọc thơ mình cho bạn bè nghe. Một làng như Làng Chùa xã Sơn Công, huyện Ứng Hoà ,Hà Nội (Quê của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều) có 280 hộ thì hộ nào cũng có người làm thơ, có hộ ba thế hệ ông, cha, con đều làm thơ và được giải của câu lạc bộ thơ làng (Truyền hình H1 ngày 18-9-2011). Mục đích của họ rất sáng rõ là dùng thơ để giáo dục con em mình. Chẳng phải như thế tốt hơn nhiều lần ở nhà nằm khoèo, tốt hơn là ngồi tụ họp nhận xét thời cuộc, tốt hơn là trầm ngâm bên quán bia hơi...Những câu lạc bộ thơ như vậy được xã hội khuyến khích, vẫn cần thiết tồn tại, chỉ có điều không chắc họ có đóng góp gì nhiều làm số lượng các tập thơ của các nhà thơ chuyên nghiệp tăng lên.


Những học sinh phổ thông hoặc sinh viên có còn đọc thơ? Một câu hỏi khó. Nhưng có thể trả lời ngay. Họ còn đâu thì giờ. Chương trình học nặng, thi cử nặng đã làm các em nhiều khi như mụ mị, chưa kể không ít các bậc bố mẹ vẫn dùng mọi cách để hướng con em mình không đi theo con đường không gắn bó gì với kinh tế như văn-sử. Tình hình thi cử vào các khoa ngữ văn, lịch sử, triết học... của các trường đại học những năm gần đây cho thấy khoa học xã hội đang bi đát như thế nào!
Không ai hình dung được một xã hội sắp đến sẽ quái gở ra sao nếu chỉ toàn những người làm kinh tế, làm giàu, kiếm tiền, buôn bán.
Thơ ở trong tình trạng như vậy thử hỏi tìm cho mình một chỗ đứng ở đâu, và thử hỏi mấy ai còn quan tâm đến không phải chỉ lúc này mà sẽ còn như vậy về sau, nếu các nhà hoạch định xã hội không có những chính sách thay đổi.

Lê Thành Nghị

Trích đăng, in nghiêng, chỉnh lý in sai: do Huy Dung vnthidan
Nguồn: Tham luận tại Hội thảo Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung diễn ra trong hai ngày 8 và 9 tháng 10 năm 2011 tại Thanh Hóa.


Sửa lần cuối bởi HuyDungPro vào ngày 13-10-2011, 10:28 pm với 1 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
  
Có 9 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
Cao Nghiêm (13-10-2011, 06:16 pm), nguyen quoc (13-10-2011, 08:52 pm), Trần Thị Lợi (14-10-2011, 06:02 pm), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), ngà (22-10-2011, 09:19 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:32 am), Bách hợp (30-10-2011, 08:59 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:08 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:10 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 13-10-2011, 08:27 pm 
nguyen quoc
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/manhthuongquan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-12-2010, 07:26 pm
Lần ghé thăm trước: Hôm qua, 09:37 pm
Tuổi: 61
Bài viết: 651
Đến từ: Nghệ An
Giới tính: Đặc biệt
Đã cảm ơn: 364 lần
Được cảm ơn:
1570 lần trong 566 bài viết
 
Chân thành cảm ơn anh HuyDungPro đưa tham luận của LÊ THÀNH NGHỊ lên để anh em đọc. Tôi cũng đã đọc được bài tham luận của anh NGUYỄN TRỌNG TẠO trong hội nghị trên.
Trước tiên, tôi xin hỏi :
-Tình trạng thơ hiện nay diễn ra như các nhà thơ đã tham luận, hãy tự suy nghĩ vì đâu? Những người đó là những nhà thơ chuyên nghiệp và có vai vế trong làng thơ ca. và rất nổi tiếng. Vậy thời gian gần đây, họ đã cho ra đời những tác phẩm nào để đời, và theo một số ý kiến của họ : thế nào là thơ bác học? Nói thật lòng, tôi có hỏi các học sinh đang và đã học xong THPT, chẳng em nào biết gì về thơ hiện nay, các em chỉ biết đôi bài, thậm chí đôi câu về những bài đã học, như TÂY TIẾN, NÚI ĐÔI...Ngoài ra, các em biết thêm một số bài thơ mà đã phổ nhạc. Còn ngoài ra là không biết gì!
-Hiện nay, phong trào sáng tác thơ tự phát của đông đảo quần chúng cũng chỉ là niềm say mê của một số người, đặc biệt là cán bộ hưu trí, họ cũng chỉ làm giao lưu cho vui. Trong số đó có một số người cho đăng thành từng tập thơ riêng cũng chỉ để trao tặng bạn bè thân hữu. Tình trạng in như thế này được là do đâu? Thậm chí, có những quyển đề NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC đàng hoàng. Trông rất đẹp, cũng có một số bài tựa của những nhà xưng danh là nhà báo ,nhà thơ...có tiếng. Nhưng đọc những tập ấy thì thôi rồi! Không biết nói như thế nào cho chuẩn từ đây!
Ngay hôm qua (12/10/2011),tôi có đến gặp một vị là chủ nhiệm thơ một huyện, ông đưa ra vài 3 tập thơ, nhà XUẤT BẢN VĂN HỌC, thơ ĐƯỜNG CÓ, thơ TỨ TUYỆT có và vv... Đọc mới cảm thấy, sao một nhà xuất bản VĂN HỌC lại dễ dãi quá! Vậy thử hỏi, nhà xuất bản cấp tỉnh sẽ như thế nào đây?
-Tôi có nghe danh ÔNG LÊ THÀNH NGHỊ, năm 1997, khi đó là phó tổng biên tập Tạp Chí Văn Nghệ Quân đội,
Tôi xin nêu một bài thơ trong Tạp Chí Quân Đội tháng 11/1997. Đó là bài: Con Dã Tràng-Nhà thơ và biển cả ( trang 50-51). Bài thơ gồm 63 câu, câu cuối có 3 chấm. Tôi đọc còn hụt hơi, huống gì là học sinh hoặc người dân thường. Phải chăng đây là loại thơ "bác học" mà các ông đã nói tới. Tôi xin trích khổ thơ cuối:
"... Biển hay là sự thách đố của nhà thơ?
Con dã tràng lặng lẽ yêu
Từng viên cát như quả trứng thiên nhiên sinh nở
Đại dương giận dữ vỗ thuỷ triều
Từng con sóng như trời đổ
Nhà thơ ơi con dã tràng bé nhỏ
Đã chiến thắng đại dương bằng sự kiên nhẫn bền lâu
Bài thơ lớn dã tràng vừa mở khoá
Sự sáng tạo vô cùng chưa thể xong đâu
Thơ ta hỡi không uổng công người xe cát
Những bài thơ biển viết lại từ đâu
Khi viên cát thơ ta con dã tràng thời gian xe xong sóng vồ đi mất
Là lúc trái tim ta âm thầm gởi biển cát mùa sau..."

Tác giả: Trần Mạnh Hảo.

Đó là khổ thơ cuối của bài thơ trên. Các bạn hãy đọc xem. Tôi thì chịu không thể thuộc được, còn nội dung thì tôi xin miễn bình luận. Bài này lại được đăng ngay trên tạp chí mà do ÔNG LÊ THÀNH NGHỊ là phó tổng biên tập.
Nói thì ai cũng hay lắm! Thân ái!


Đầu trang
  
Có 9 thành viên đã cảm ơn nguyen quoc cho bài viết này:
HuyDungPro (13-10-2011, 11:38 pm), Trần Thị Lợi (14-10-2011, 06:05 pm), Cao Nghiêm (17-10-2011, 10:05 am), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), ngà (22-10-2011, 09:20 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:33 am), Bách hợp (30-10-2011, 08:58 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:08 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:09 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 14-10-2011, 08:58 am 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 
Cảm ơn thi hữu nguyen quoc quan tâm tới vấn đề mà tôi gọi là 'nghiệp thơ mọi thi hữu chúng ta', vừa là người làm thơ và là người đọc thơ. Cũng cảm ơn thi hữu nguyen quoc góp một số thông tin liên quan.

Theo dõi thông tin văn hoá... nói chung rất cần thiết, nó giúp ta tư liệu để biết giật mình mà suy ngẫm mà đổi mới không ngừng việc sáng tạo thơ, nhất là để không ngừng rút tỉa (có gạt bỏ các điều mình không nhất trí) rút tỉa ra những điều cần tự học không ngừng và suốt đời, để nâng mãi mặt bằng kiến thức chung của chính mình, cái nền không thể thiếu của mỗi tác giả thơ có lương tâm.

Chỉ tiếc rằng mục này ở vị trí hơi khó tìm.


Đầu trang
  
Có 9 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
nguyen quoc (14-10-2011, 12:45 pm), Trần Thị Lợi (14-10-2011, 06:06 pm), Cao Nghiêm (17-10-2011, 10:05 am), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), ngà (22-10-2011, 09:20 am), suongsuong (24-10-2011, 02:41 am), Bách hợp (30-10-2011, 08:58 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:08 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:05 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 15-10-2011, 09:50 pm 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 
Huy Dung gửi quý thi hữu đã đọc bài trên,
Tuy tôi đã chọn in nghiêng một số dòng trong bài trên của Lê Thành Nghị, nhưng thấy bài
hơi dài quá, nên tôi xin tập trung trích từ bài trên của Lê Thành Nghị chỉ 1 số ý hữu ích, và cả những ý có thể chưa chính xác để ta cùng đánh giá.
Mong chờ ý kiến các thi hữu.
******
Sự mất chỗ đứng của thơ tại các cửa hàng sách, tại các thư viện... như lâu nay ta đã thấy cũng có nghĩa thơ đang mất chỗ đứng trong đời sống xã hội, đang đứng trước một thảm hoạ của sự rẻ rúng, ghẻ lạnh, thờ ơ của công chúng, sự lãnh cảm mang tính cộng đồng. Thơ đã phạm những lỗi gì để dẫn đến tình trạng đáng buồn này?


Người ta ước tính mỗi năm có khoảng trên bảy trăm tập thơ được in… Nếu nhẩm tính từ khi đổi mới đến nay đã có thể có vài ba vạn tập thơ ra đời. Với số lượng khổng lồ như vậy, để tìm hiểu, để đọc hết là một điều không thể.

Cần xác định rằng không ai ác cảm với số lượng, số lượng nhiều mà hay thì đó là phúc nhà chứ. Chỉ đáng phàn nàn là hội chứng chạy theo số lượng mà bỏ qua chất lượng! Chất lượng mới là điều cốt tử. Nhiều bài thơ nhợt nhạt, quanh quẩn, ngô nghê, viết lấy được, cho đủ số bài, để khi in ra cái gáy sách không quá mỏng, được viết với một trạng thái vô cảm...vội vàng tập hợp lại để đi in, thành tập, thành tuyển tập nom thật oách, để kịp tặng bạn bè.

Nhạt là căn bệnh phổ biến của thơ hôm nay. Nhạt là căn bệnh nan y của văn chương và đặc biệt đối với thơ. Tưởng vô thưởng vô phạt, tưởng không chết ai, nhưng nhạt là cách giết chết thơ nhanh nhất. Người đọc có thể có đủ kiên nhẫn đọc một chục tập, một trăm tập, nhưng không đủ kiên nhẫn và độ lượng đọc cả nghìn tập mà không tìm được những bài thơ họ thích. Nhưng ở đời, không một tác giả nào dám thừa nhận thơ mình nhạt. Đồng nghiệp biết, các nhà phê bình biết, biên tập viên có thể biết, nhưng không một ai nỡ vạch ra cái nhạt ấy, vì vô vàn lý do. Kết quả thơ nhạt, thơ dở ngang nhiên tồn tại, cái làm qua chuyện có khi lấn át cái tâm huyết, ít ra là làm hoa mắt người đọc, thách thức lòng kiên nhẫn của họ.

Người xưa vẫn luôn nhắc câu chuyện thôi xao Giả Đảo, vẫn khuyên nếu một chữ viết ra không làm rung động được ai thì tốt nhất đừng viết ra. Đằng này hình như không một ai trong số những tác giả tập thơ nhạt nhẽo ấy nhớ lời người xưa, cứ vô tư, thản nhiên ghép vần, không hề tính đến tâm trạng của người tiếp nhận, nên rất dễ bị người đọc ngoảnh mặt đi. Thơ nhạt, thơ dở làm thể loại thơ chết một cách thật êm ái!

Không phải trong vô vàn những tập thơ được in ra đều là thơ nhạt. Có điều thơ hay, thơ sâu sắc hôm nay vừa hiếm lại vừa bị chen lấn, bị khuất lấp, bị đánh đồng với thơ dở. Và ai có đủ tài năng và dám bỏ công sức để làm cái việc tối ư cần thiết và quá đỗi phức tạp, để nhặt ra từ gò đống kia những hạt bụi vàng như K.Pautôpxki ao ước! Như vậy, bạn đọc quay lưng lại với thơ vì họ bị tra tấn bởi quá nhiều thơ dở, thơ nhạt, vì họ không được những nhà phê bình thơ mách bảo những gì cần đọc, trong khi họ còn quá nhiều việc phải làm.

Hơn nữa phê bình thơ một mặt hình như bất lực trước tình trạng lạm phát của thơ đương đại, mặt khác nhiều cây bút phê bình, đọc sách đôi khi lại quá dễ dãi trong việc khen chê, thẩm định. Có những bài phê bình, đọc sách không tiếc lời ca ngợi một tác giả, một tập thơ mà thực chất không đáng được như vậy. Công chúng đọc bài phê bình rồi đối chiếu, suy ngẫm về tập thơ mà họ được đọc và họ nhận ra không phải thế. Hoá ra là trò bốc thơm nhau, viết để trả ơn, trả nghĩa nhau. Người đọc sẽ nhận ra mùi xôi thịt dù chỉ qua một vài dòng viết… Đến đây, các nhà phê bình thơ cũng không thể chối bỏ trách nhiệm của mình về việc làm cho thơ mất chỗ đứng trong đời sống!

Thế tại sao vẫn nhiều người làm thơ như vậy? tại sao thơ đang khủng hoảng thừa (như đã nêu trên). Tại sao ngày thơ Việt Nam những năm qua đông đúc như vậy trong khi nhà thơ hình như không còn là một danh hiệu cao quý nữa, mà thật sự đã bị xuống giá trong cuộc sống hiện tại, đôi khi vẫn còn là đối tượng để chế nhạo của thiên hạ. Ai cũng có thể thấy ngày trước thơ được trân trọng hơn lúc này. Thực đơn tinh thần đang thay đổi rõ rệt, thơ đang mất chỗ đứng trong lựa chọn từng ngày trên bàn tiệc của từng người và vì thế đang mất hiệu ứng xã hội. Điều này ai cũng biết và phải chăng nhà thơ, nhà văn trong con mắt của nhà buôn, nhà kinh tế, nhà doanh nghiệp không hơn gì một kẻ thất nghiệp tội nghiệp.

Có phải vì lúc này nhiều người làm thơ và thường chỉ yêu thơ mình, chỉ thích đọc thơ mình, khoe thơ mình chứ không quan tâm đến thơ người. Bởi vì nếu không thì không thể giải thích được tại sao thơ bị ế ẩm đến như vậy. Người ta ngoảnh mặt đi với thơ người khác, còn chăm lo vun vén cho thơ mình chăng?

Hay là vì ‘làm thơ’ là công việc dễ dàng và thú vị chăng? Quả thật làm thơ thật dễ (nhưng làm thơ hay thì không dễ chút nào). Và thơ đúng là trò chơi thú vị làm con người dễ ngộ nhận. Một nước thơ như Việt Nam ai cũng có thể gieo đôi ba vần, tức cảnh sinh tình đôi ba câu. Lối nói vần vè của ca dao tục ngữ như một trò chơi ngôn ngữ như những bước đi đầu tiên của con đường vào thơ, cách tạo vần sáu tám của lục bát thường khi vẫn là lời ăn, tiếng nói của mọi người. Từ nói vần vè đến gieo đôi ba vần, đến cho ra một tập, vài ba tập chỉ là khoảng cách không quá sức mình, đến tự nhận là nhà thơ cho dù danh hiệu này đang xuống giá, được thấy tên mình trên những tập sách dày cộp có tốn một tí nhưng có ai không mãn nguyện.

Còn tại sao người đọc thơ đang khủng hoảng thiếu, một nghịch lý rất trớ trêu (điều này quan trọng vì thơ chỉ tồn tại khi xã hội còn người đọc thơ). Vậy thì còn những ai đọc thơ? Một nhà thơ chuyên nghiệp, Inraxara, khá chăm đọc sách, khi được hỏi đã cho biết: Trong số hơn 300 hội viên thơ, tôi chỉ đọc 15 người. Khoảng 15 người nữa tôi có đọc nhưng đã quên... 270 nhà khác, tôi hoàn toàn chưa đọc. Vì không có cơ hội đọc. (Báo Văn hoá - Thể thao ngày 20-5-2011). Rất nhiều người được biếu sách nhưng vẫn không đọc, khi được hỏi đến vẫn lúng túng như chưa hề biết mình đã được tặng. Ai cũng biết thơ mình khi ra khỏi nhà là đi vào chỗ không người, là đi vào cõi vĩnh hằng của sự quên. Những học sinh phổ thông hoặc sinh viên có còn đọc thơ? Một câu hỏi khó. Nhưng có thể trả lời ngay. Họ còn đâu thì giờ.


Mong chờ các thi hữu bình luận về các ý kiến trên từ bài tham luận của Lê Thành Nghị.
Kính
Huy Dung


Đầu trang
  
Có 9 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
Trần Thị Lợi (16-10-2011, 09:40 am), suongsuong (16-10-2011, 10:55 am), Cao Nghiêm (17-10-2011, 10:10 am), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), ngà (22-10-2011, 09:20 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:35 am), Bách hợp (30-10-2011, 08:58 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:09 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:05 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 16-10-2011, 10:31 am 
Trần Thị Lợi
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 22-05-2010, 08:12 pm
Lần ghé thăm trước: Hôm nay, 10:37 am
Tuổi: 63
Bài viết: 10050
Giới tính: Nữ
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 27759 lần
Được cảm ơn:
20550 lần trong 7487 bài viết
 
Kính gửi nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Huy Dung và các thi hữu Thi Đàn kính quí:


Đọc các bài viết và bài sưu tầm của nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Huy Dung với tiêu đề "THÂN PHẬN NGHIỆP THƠ MỖI THI HỮU TA HÔM NAY..." tôi thấy có nhiều điều suy nghĩ thấm thía, tâm đắc lắm.
Với trình độ rất có hạn của mình, tôi chỉ xin trình bày vài suy nghĩ chủ quan của cá nhân tôi, kính mong các thi hữu thông cảm.
Đã từ lâu, những bài viết với các nội dung tương tự được đăng tải trên các báo hoặc được phát biểu trong các hội nghị bàn về văn, thơ tại các cấp địa phương cũng như Trung ương, phản ảnh thực tế tình hình sáng tác, phát hành và đọc thơ của các tác giả, các độc giả và các nhà xuất bản Việt Nam hiện nay.
Các từ hay được nói tới nhieeud nhất đó là: " Thơ khủng hoảng thừa" " lạm phát xuất bản thơ"...
Riêng tôi, về mặt trái của vấn đề các bài viết đã nêu rồi và cũng đúng cả song mặt tích cực của nó cũng cần được đề cập và được công nhận.
- Tại sao thơ bị rẻ rúng đến thế mà vẫn nhiều người làm thơ, nhiều người xuất bản thơ?
Câu hỏi này theo tôi không khó trả lời vì tôi nghỉ, dân tộc mình vốn có truyền thống yêu thơ ca, tiếng nói của dân tộc mình giàu âm điệu, từ lúc trong bụng mẹ ta đã cảm nhận được những âm thanh từ các câu dân ca, câu hò, lời ru... và chính hồn cốt dân tộc đã cho mỗi con người Việt Nam có sẵn một năng khiếu thi ca... và việc viết nên một bài dân ca, một câu thơ với một người Việt Nam không hề khó.
- Đối tượng nào hay làm thơ? làm ở đâu? làm với mục đích gì?
Tôi cũng là một thành viên không phanh nổi ham muốn viết nhiều thơ vui nên số lượng bài viết lúc nào cũng nhiều. Tôi tự thấy chất lượng bài của mình chưa cao nhưng tôi đâu có nhu cầu tăng số lượng mà chỉ có nhu cầu giao lưu, vui với các thi hữu khác, giải tỏa tâm tư, vui buồn của lòng mình với các bạn qua những câu ghép vần đối thoại vui thôi. Tôi nghĩ những người viết khác có lẽ cũng vậy, nhất là những người lớn tuổi, có nhiều thời gian và quan trọng nhất là "yêu thơ, mến bạn, yêu đời"
- Việc đọc thơ của người khác: Tôi thấy nhiều người nói, ngay cả trong các cuộc thi thơ cũng vậy, nhiều quá, đọc hết và đọc kỹ rất khó vì vậy họ thường chỉ đọc những tác giả nổi tiếng hoặc đọc tác giả quen thân...
Điều này đã làm cho nhiều bài thơ hay bị bỏ sót hoặc không được ai đọc nếu tác giả không có bạn yêu thơ...
- Nâng cao chất lượng, giảm số lượng, cần có lực lượng nhà phê bình để đãi cát tìm vàng... những điều này nói thì dễ mà làm mới thật khó quá chừng.
Trần Thị Lợi



Đầu trang
  
Có 10 thành viên đã cảm ơn Trần Thị Lợi cho bài viết này:
HuyDungPro (16-10-2011, 10:52 am), suongsuong (16-10-2011, 10:55 am), Cao Nghiêm (17-10-2011, 10:11 am), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), nguyen quoc (19-10-2011, 08:53 pm), ngà (22-10-2011, 09:20 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:35 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:00 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:10 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:05 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 17-10-2011, 07:31 am 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 
*
Tại một vị trí không dễ tìm như vị trí này của THÔNG TIN

(hoặc 'Cập nhật tin tức' gì đó)

mà có bạn đọc tới

nên tác giả xin được trân trọng cảm ơn

các thi hữu thương quý Cao Nghiêm, Trần Thị Lợi,

suongsuong-, nguyên quoc.


kính,
hd


.


Đầu trang
  
Có 8 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
Cao Nghiêm (17-10-2011, 10:11 am), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), Trần Thị Lợi (20-10-2011, 05:06 am), ngà (22-10-2011, 09:20 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:35 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:00 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:11 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:05 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 17-10-2011, 09:34 am 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 
*
KÍNH gửi quý thi hữu trên vnthidan,
Thi hữu Trần thị Lợi đã cho ý kiến đánh giá bài của Lê Thành Nghị về v/đ Thơ và công chúng hôm nay.
Trong khi chờ các ý tham luận nữa của các thi hữu, hôm nay tôi đưa tiếp từ bài của LTNghị 1 v/đ ít thiết thực hơn, nhưng tôi dám chắc các thi hữu tuy sẽ rút ra điều bổ ích cho mình song không thể nhất trí toàn bộ quan điểm của LTNghị về sự đổi mới hiện nay của nền thơ VN đương đại mà ông quy vào 3 xu hướng như dưới đây. Mong chờ sự tham luận của quý thi hữu.


LTNghị đã viết và đọc ở tại Hội thảo Thơ Việt Nam hiện đại (2 ngày 8, 9/10/2011 vừa qua tại Thanh Hóa):

Thơ Việt đang có sự thay đổi làm nên sự chuyển động khá quyết liệt thuộc về bản chất. Hiện đang có nhiều cách đổi mới thơ. Nào là thơ ngôn ngữ, thơ vụt hiện, thơ cấu trúc lỏng, thơ viết để cái tôi ngoài bản thể theo lối hậu hiện đại. Cần tôn trọng sự khác biệt, cũng như cần tôn trọng những thể nghiệm. Nhưng từ những thay đổi của thơ hôm nay, có thể gom lại trên ba hướng chính.


Một là những tìm tòi thay đổi nghiêng về mặt hình thức, cụ thể là nghiêng về ngôn ngữ biểu hiện. Đó là những năm tám mươi của thế kỷ XX, một số nhà thơ đã tạo ra một kiểu thơ rất khác lạ với thơ truyền thống. Nhiều bạn đọc đã từng bị sốc khi đọc kiểu thơ ngôn ngữ này. Có thể nói đó là thứ trò chơi ngôn ngữ, không quan tâm đến ngữ nghĩa. Thơ ấy tất nhiên không hợp với số đông công chúng, và theo quy luật những gì không hợp với khẩu vị của số đông, nó phải tự biến mất. Nó tự biến mất, như kiểu tự mất của thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập trước đây, chứ không phải công chúng chưa có sự chuẩn bị tri thức đọc và không phải các nhà phê bình thơ không cổ vũ kịp thời như có người nói!


Nhưng ở đây cần có một mở ngoặc về trường hợp Lê Đạt, người có luận điểm nhà thơ là phu chữ nổi tiếng.Với quan niệm nhà thơ là phu chữ, Lê Đạt đã lao động chăm chỉ trên cánh đồng chữ của mình và khác với quan niệm thơ là trò chơi ngôn ngữ trên đây, Lê Đạt đã tạo ra trong thơ ông những nghĩa mới khác lạ, khá bất ngờ, khá thú vị, bởi lẽ Lê Đạt rất có ý thức đặt cạnh nhau những ngộn từ rất khác nhau về nghĩa, thường không có sẵn trong phép đặt câu, tạo nghĩa của ngôn ngữ Việt. Một thứ cấu trúc bất ngờ theo một kiểu triết lý xáo trộn, gián đoạn, tạo nghĩa bằng sự liên tưởng của người đọc, thơ Lê Đạt mở ra những chiều kích mới của thơ Việt ở khía cạnh tạo nghĩa mới cho ngôn từ, kích thích suy nghĩ của sự tiếp nhận. Như vậy cũng hướng về ngôn ngữ, nhưng thơ Lê Đạt không mang ý nghĩa là trò chơi, ngược lại là lao động ngôn ngữ. Phần lớn người đọc đồng tình với hướng đi của Lê Đạt, chỉ không thích những khi ông đứng chênh vênh giữa bờ vực của những đổi mới, tìm tòi và sự lập dị, cầu kỳ mà chút xíu nữa ông sẽ biến ngôn ngữ thành thứ trò chơi ít người xem!


Hai là, những cố gắng đổi mới thơ về mặt giọng điệu. Thơ Việt truyền thống luôn chú ý điệu ngâm, thâm chí điệu hát (hát thơ) cho phù hợp với cảm xúc, tình cảm. Một số nhà thơ hướng đến tư duy thơ hiện đại bằng cách đưa vào thơ điệu nói, đưa vào thơ chất văn xuôi. Đương nhiên đây là điệu nói, chất văn xuôi nghệ thuật. Đây là khuynh hướng muốn khắc phục tình trạng duy cảm xúc hoặc sự gò bó vần điệu của thơ truyền thống. Quả thật nếu duy tình cảm, lại lệ thuộc quá đáng về vần điệu, tự trói buộc bằng những niêm luật bằng trắc, đăng đối.. thơ đã gây ra những nhàm chán của cảm giác bằng bằng không một đột biến mang ấn tượng sáng tạo, và điều đáng nói là không còn phù hợp với tâm lý của thời đại công nghiệp. Đưa vào thơ điệu nói, chất văn xuôi, bài thơ mở rộng biên độ câu chữ, mở rộng trường liên tưởng, đôi khi như suối tràn bờ, diễn đạt thoải mái tư tưởng, tung thả gần như tuyệt đối...Trong một bài, một tập rất dễ nhận ra ngồn ngộn những ý qua ngồn ngộn những từ. Một sự vâm váp thậm chí rậm rạp những ý và từ rất khác với sự đèm đẹp trong thơ cử tử, trong thơ ngâm vịnh điền viên. Nếu phải trình bày trước công chúng loại thơ này chắc chắn nhà thơ phải lựa chọn chất giọng chính luận, hùng biện, gây ấn tượng bằng những trùng điệp ngôn từ và dồn dập những ý tưởng. Những ai đã từng quen với thơ điệu ngâm hẳn có thể sẽ không quen với kiểu thơ này, cho dù đây vẫn là một xu hướng hiện đại hoá thơ Việt, nếu muốn suy nghĩ theo chiều hướng, cần bỏ điệu ngâm, cần bỏ những duy cảm, cần tăng cường tư tưởng trong thơ. Có thể khẳng định, cho đến hôm nay có những người thích và cũng còn không thiếu những người chưa thích kiểu thơ này. Có thể còn phải chờ thêm thời gian, cũng có thể cần phải gia công nghệ thuật nhiều hơn nữa. Dù sao những cố gắng thay đổi này cũng rất cần thiết đối và đáng ghi nhận đối với thơ Việt hiện đại.


Ba là xu hướng đưa vào thơ những câu nói thường (thơ điệu nói) đã có từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp trong thơ Nguyễn Đình Thi và sau đó là là thơ Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Chính Hữu và những nhà thơ khác, đang được tiếp tục trong thơ số đông hôm nay. Chế Lan Viên cũng từng chủ trương đi từ hát sang nói trong thơ.Họ chủ trương không lệ thuộc vần, nếu cần thì bỏ vần để câu thơ tự do hơn. Có điều trong thơ họ ngôn ngữ tự do trong chọn lọc, điệu nói mang nhạc điệu, nhịp điệu nghệ thuật, nhịp điệu tâm hồn, vần có khi không cần thiết để ưu tiên cho ý. Đưa vào thơ những câu nói thường, vậy mà sao thơ họ vẫn lắng đọng, vẫn quyến rũ, vẫn có thể được ngâm ngợi, vẫn dễ thuộc, dễ nhớ. Nhưng khi mới xuất hiện, thơ Nguyễn Đình Thi không phải đều được đa số ủng hộ. Có nhà thơ lúc ấy còn đòi đuổi thơ ông ra khỏi nền thơ Việt (!), nhưng rồi thời gian đã chứnh minh Nguyễn Đình Thi đúng. Đến đây cho phép chúng ta nghĩ rằng mạch thơ của Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Quang Dũng, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Chính Hữu và nhiều nhà thơ khác nữa không hề lạc mốt, là một hướng đi cần được tiếp tục và đã phần nào được các thế hệ nhà thơ đương thời tiếp tục .Cho đến hiện nay, xu hướng bỏ vần đang được nhiều nhà thơ sử dụng. Tuy nhiên thơ điệu nói này cũng cần được hiện đại hoá để phù hợp với tâm lý đương thời của người đọc. Có thể ngắn hơn, lắng đọng hơn, nhiều ý tưởng, triết lý và suy tưởng hơn chăng?...

Lần nữa Huydung-tôi kính mong quý thi hữu ta tự nâng mặt bằng kiến thức thơ bằng cách tham gia trao đổi ý kiến với nhau tại trang này.


Đầu trang
  
Có 11 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
Cao Nghiêm (17-10-2011, 10:15 am), nguyen quoc (19-10-2011, 06:40 pm), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), Trần Thị Lợi (20-10-2011, 05:09 am), ngà (22-10-2011, 09:21 am), suongsuong (24-10-2011, 02:41 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:37 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:00 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:00 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:11 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:04 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 19-10-2011, 06:18 pm 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 
Thân chào QTV-ĐHV Cao Nghiêm

Mặc dù CN đang thời kỳ trăng mật của hạnh phúc mới

nhưng CN chăm chỉ lên thi đàn và là người duy nhất để lại dấu hiệu có người đoc trên PHẦN CUỐI trang cập nhật tin tức này (mà tôi bỏ không ít công sức soạn sửa trích đoạn chỉnh tề để ta dễ trao đổi ý kiến với nhau)

Vâng sự VẮNG VẺ THẬT BUỒN BÃ, thậm chí như DỄ SỢ nữa, CN có cảm giác ấy không?

CẢM ƠN,

huy dung


Đầu trang
  
Có 9 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
nguyen quoc (19-10-2011, 06:40 pm), Tường Vi (19-10-2011, 07:25 pm), Cao Nghiêm (19-10-2011, 07:30 pm), Trần Thị Lợi (20-10-2011, 05:09 am), ngà (22-10-2011, 09:21 am), suongsuong (24-10-2011, 02:42 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:37 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:11 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:04 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 19-10-2011, 08:05 pm 
Cao Nghiêm
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/dieuhanhdiendan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 03-08-2010, 10:48 pm
Lần ghé thăm trước: Hôm nay, 08:53 am
Tuổi: 39
Bài viết: 4903
Đến từ: ĐẤT THÉP CỦ CHI
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 13773 lần
Được cảm ơn:
8500 lần trong 3750 bài viết
 
Kính thưa Thầy Huy Dung cùng các Thi Hữu . Cao Nghiêm đã đọc và rất tâm đắc và cũng rất trăn trở , suy nghĩ khi đọc các bài viết trong chuỗi bài " THÂN PHẬN NGHIỆP THƠ MỖI THI HỮU TA HÔM NAY..." mà Thầy Huy Dung đã đăng lên và các bài tham luận của các nhà thơ Trần Thị Lợi , Nguyễn Quốc . Cao Nghiêm thuộc vào lớp trẻ , cũng mới tập làm thơ cho nên chưa dám bàn luận gì . Nhưng cũng sẽ có vài ý kiến , cái nhìn , nhận của " lớp trẻ " đối với vấn đề này và sẽ trình bày khi bài viết được hoàn chỉnh .

Để nói thêm về vấn đề này . Cao Nghiêm xin giới thiệu bài viết của nhà thơ , nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo mới đăng gần đây . Kính mời quý Thi Hữu tham khảo và đóng góp ý kiến cho vấn đề này
THƠ: TRÌNH DIỄN HAY PHƠI MỞ
Được đăng bởi nguyentrongtao vào lúc: 9:47 chiều ngày 09/10/2011

1149 lượt xem

1 Comment


HUỲNH PHAN ANH
Hình ảnh
Trong thời đại bùng nổ thông tin với làn sóng văn hóa kỹ thuật cuốn hút tất cả, vẻ đẹp của thơ, cũng như của nghệ thuật có còn là sự cứu rỗi, và thơ có còn là thơ, là tiếng nói của tâm hồn đến với tâm hồn hay chỉ còn là một sản phẩm, một món hàng phục vụ nhu cầu tiêu thụ của con người thời nay như bao thứ hàng hóa khác?
Tất cả cho tiêu thụ, nghĩa là tất cả trở thành thứ yếu nếu không “ngốn” được trong nền văn minh tiêu thụ trên quy mô toàn cầu hóa ngày một đẩy lùi những giá trị tinh thần, ý thức, tư duy cùng những nét đặc trưng đích thực trong sáng tạo chừng như đã trở nên mờ nhạt, lỗi thời.

Từ bao lâu rồi nghệ thuật đi vào thị trường, hòa tan vào cái hiện đại giả mạo đặt dưới sự thống trị của kỹ thuật và văn hóa đại chúng trong thời buổi con người bằng mọi giá phải tích lũy nhanh, làm giầu nhanh, tiêu thụ nhanh, vứt bỏ nhanh. Do đó không gì đáng ngạc nhiên khi thơ cũng như nghệ thuật đôi khi, nếu không nói là thường khi, biến thành sản phẩm trình diễn lạ mắt để dễ gây chú ý, gây chấn động. Ở đây chỉ xin nói tới sự thể hiện mang nặng tính trình diễn của câu thơ, của bài thơ, của thơ trên chính trang thơ. Điều này xuất phát từ yêu cầu tất yếu đổi mới thơ về mặt hình thức đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 (đúng ra từ thế kỷ trước: Mallarmé) với Apollinaire, với phong trào siêu thực qua những kiểu cách sắp đặt câu chữ, cắt dán, lắp ghép hình ảnh trong bài thơ, trang thơ, tiếp theo xuất hiện hàng loạt những hình thức cách tân với thơ trắng, thơ không gian, thơ tối thiểu…tất cả cùng gặp nhau ở chỗ biến thơ thành một không gian lý tưởng, thành sân khấu, và bài thơ trở thành một vở nhạc kịch hay một bức tranh, trở thành nhân vật lẫn cảnh bài trí. Thơ đã thành sân khấu trình diễn, tại sao không thể mang nó vào phòng triển lãm, đặt nó bên cạnh một bức tranh hay một món đồ tiểu thủ công nghệ để được nhìn ngắm, trầm trồ và nếu cần mua về? Và sự đổi mới thơ theo hướng này còn hứa hẹn bao điều lạ thường nữa? Và vô số những trò chơi sắp xếp, vặn vẹo ngôn từ với đủ mọi kiểu cách tân kỳ để làm gì nếu không nói lên được một ý nghĩa nào? Apollinaire vĩ đại ở những bài thơ đích thực của ông từ chiếc cầu Mirabeau tới Những bài thơ gởi Lou bình dị, lay động hồn người bởi nhà thơ đã gửi gấm ở đó tất cả tâm hồn mình, bởi nhà thơ đã sống từng câu thơ của mình, chứ không phải ở những bài thơ trang trí hay tạo hình lạ mặt. Cuộc cách mạng thơ dù của trường phái Siêu thực hay của ai khác chỉ có thể thực hiện được với thơ chớ không với một yếu tố ngoại lai nào khác, với một tư duy thơ mới chớ không với những trò khéo tay, tung hứng chỉ mang tính hiệu quả của một tiết mục trình diễn của con rối hay người máy.

Có nên đổ lỗi cho văn minh thời tiêu thụ đã cuốn hút tất cả vào vòng xoáy khốc liệt của nó, đã biến thơ thành một món hàng mà giá trị cực kỳ khiêm tốn? Và thơ. Nó có còn là thơ khi đã trở thành hàng hóa sản xuất hàng loạt theo yêu cầu của thị trường? Thơ vẫn xuất hiện tràn lan, điều cho thấy dường như xã hội vẫn cần thơ và thơ vẫn hiện hữu: Con người không sống chỉ bằng cơm áo. Thế thì tại sao thơ người ta in ra chủ yếu chỉ để tặng bạn bè, thân hữu? Tại sao một tập thơ giá xấp xỉ một tô phở vẫn nằm hóng bụi trên giá sách trong sự thờ ơ của quần chúng trong khi người ta vẫn tranh nhau một chiếc vé xem một ca sĩ nhạc trẻ thời thượng nước ngoài với giá gấp năm mươi lần? Cô đơn quá. Thời đại hãnh tiến toàn văn hóa, toàn kỹ thuật vẫn tự hào thâu tóm tất cả, tiêu thụ tất cả nhưng dường như vẫn còn đó, mơ hồ và quên lãng. Và buồn thay, không ít những người làm thơ lại góp phần đào sâu, củng cố sự mơ hồ và quên lãng đó, sự trống vắng đó, hố thẳm vô nghĩa đó bằng những bài thơ hình thức chủ nghĩa, thơ tùy hứng, thơ rô bô, thơ bản năng, thơ tình lá cải, thơ phản kháng giả mạo, thơ hò hét rỗng không… cách nào đó để được tiêu thụ dễ, tiêu thụ nhanh. Tôi đọc đâu đây câu nói của nhà thơ Lê Đạt: “Hiện nay chưa có phê bình thơ, phê bình thơ chỉ là quảng cáo thơ”. Có sự gặp gỡ giữa thơ và quảng cáo. Điều đáng buồn là câu nói của một nhà thơ lại có phần đúng. Nhưng một bài thơ đúng nghĩa có cần phê bình lắm không khi đã bước ra từ bóng tối đêm dài, khởi đầu sống đời sống riêng của nó, nói lên tiếng nói của nó, đi chuyến đi vô tận của nó?
Nếu Nguyễn Du, Ôn Như Hầu, Bà Huyện Thanh Quan, Rimbaud, Rilke còn sống giữa chúng ta, nếu những tiếng thơ đoạn trường về phận người, phận thơ đó còn thốt lên giữa thời đại này, liệu họ có còn bình yên tìm cách “chiếm hữu chân lý trong một linh hồn và trong một thể xác” hứa hẹn một bình minh tráng lệ sau đêm dài cho cõi riêng lẫn cõi người giữa bốn bề vây phủ bởi bao điều giả mạo và xô bồ không ngại ám sát hồn người lẫn những gì sâu thẳm nhất, lặng lẽ nhất nơi toát ra nhũng làn điệu tuyệt vời nhất? Người ta vẫn nói về khoảng trống sau Aragon, Char…sau Hàn mặc tử, Chế Lan Viên…Chưa đủ, còn bao nhiêu khoảng trống hàng trăm năm rồi, ai lấp được đây khi con người đang cần nghệ thuật như một món hàng tiêu thụ, khi tác phẩm trở thành cái máy sản sinh từ những nghệ sĩ rôbô, khi tất cả đều được ném vào cái nồi văn hóa kỹ thuật khổng lồ, khi người ta có thể vè hóa thơ và thơ hóa vè…Rimbaud đã nói tới nghệ thuật như một trò ngu xuẩn khi ngôn ngữ và tư duy thơ không còn sáng tạo, khi cái đẹp đã trở nên cay đắng và đáng nguyền rủa, và không còn nữa mùa và lâu đài. Rimbaud nếu sống thời này liệu còn đoạn tuyệt với thơ tới đâu?
Khủng hoảng của thời đại hiện tại cũng là khủng hoảng của tính hiện đại. Bởi ai nói được hành tinh lang thang này đang đi về đâu, hứa hẹn điều gì chắc chắn như trong bàn tay? Hơn thế kỷ trước, Rimbaud không những là con người hiện đại mà còn là con người hậu hiện đại khi những bước chân lang thang của chàng ngang dọc qua các biên thùy địa lý, ngôn ngữ, văn minh…, đã hòa nhập vào hành trình này. Lang thang là sự thật của chàng và của hành tinh này: Cuộc đời thực hãy còn vắng bóng. Chúng ta không hiện có trên thế giới này. Tôi đang đi tới nơi nào nó tới, phải thế thôi.” Antonin Artaud tiếp lời chàng: “Chúng ta vẫn chưa ra đời/Mọi điều vẫn chưa hoàn tất/Lý do tồn tại vẫn chưa tìm thấy.” Dù được lắng nghe hay không, đó vẫn là tiếng nói của nhà thơ, tiếng nói của thơ hay Sự thật bằng lời nói, mãnh liệt và cô đơn cực kỳ, thốt lên giữa một thế giới đang chết đi trong khi vẫn bước tới, thế giới của cơ may và hiểm họa, hướng tới tương lai mới mẻ trong đó con người là mảnh vụn góp phần tạo nên cái toàn thể hài hòa hơn, tốt đẹp hơn. Liệu mai đây nhà thơ có còn viết trong sự bình yên muôn đời theo thói quen sẵn có, với ngôn ngữ, vần điệu sẵn có, với xúc động, tình cảm thường tình, phải đạo, bất chấp tất cả? Và người ta có nên làm thơ như một người thợ làm một cái bánh miễn có đủ chất liệu và một chút khéo tay? Chúng ta biết rằng Rimbaud, Artaud đã viết nên những bài thơ của họ trong sự kinh hoàng phải viết, trong sự khủng bố của cái Viết, trong sự chạm mặt hư vô để vượt hư vô, tìm đến ngôn ngữ thi ca mới, tìm đến năng lực thi ca và sáng tạo mới, bỏ lại phía sau sân khấu trình diễn những vở kịch không hành động, không đam mê, không ngôn từ thực mà chỉ có những phản xạ điều kiện hóa.
Vâng, người ta vẫn phải trở lại với Rimbaud. Cũng là trở lại với tương lai của thơ, với nền thơ sắp tới. Bởi chàng đã nguyền rủa thơ, vĩnh biệt thơ trong tình yêu thơ để khỏi bị xua đuổi vì lý do “nhà thơ là kẻ nói dối” (Platon); thơ không như một trò thiết kế văn hóa kỹ thuật mà như một hành động cuối cùng khi con người “đã kết thúc! đã đóng xong mọi vai/ Đã mệt mỏi trò đánh đổ thần tượng/ Nó hồi sinh, hoàn toàn tự do trước/ Mọi thần linh, và bởi phát xuất từ/ Bầu trời, nó thám xét mọi bầu trời.”
Trong thế giới tha hóa của kiện tính và những điều giả tạo, nhà thơ không là kẻ sống sót mà là kẻ sống lại từ một kinh nghiệm đoạn trường hay một mùa địa ngục, với tình yêu mới, hi vọng mới và những bầu trời mới mở ra từ ngôn ngữ thi ca như một hành động sáng tạo và cống hiến. Bởi nói theo Char “không thể có thi ca hoặc cuộc sống thiếu hy vọng, thi ca: hy vọng tột cùng, cuộc sống: hy vọng tương đối.” Và hy vọng mãi mãi là ngôn ngữ độc nhất cống hiến, là tiếng nói cuối cùng của thơ. Vượt lên trên tất cả, thơ mãi mãi là cống hiến cao cả của con người cho con người trong một thế giới có ý nghĩa. Và mọi cố gắng của thơ sẽ là vô ích nếu không nhằm truyền đạt một ý nghĩa và không có ý nghĩa để nói, để cống hiến.
Hình ảnh


Đầu trang
  
Có 8 thành viên đã cảm ơn Cao Nghiêm cho bài viết này:
nguyen quoc (19-10-2011, 08:54 pm), Trần Thị Lợi (20-10-2011, 05:11 am), Tường Vi (20-10-2011, 06:42 pm), ngà (22-10-2011, 09:21 am), suongsuong (24-10-2011, 02:42 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:38 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:01 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:12 am)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 19-10-2011, 09:34 pm 
Cao Nghiêm
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/dieuhanhdiendan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 03-08-2010, 10:48 pm
Lần ghé thăm trước: Hôm nay, 08:53 am
Tuổi: 39
Bài viết: 4903
Đến từ: ĐẤT THÉP CỦ CHI
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 13773 lần
Được cảm ơn:
8500 lần trong 3750 bài viết
 



Và đây là một ý kiến khác của tác giả Lê Thiên Minh Khoa . Kính mời các Thi Hữu cùng xem và bàn luận

LẠI NGHĨ VỀ THƠ: THƠ CA và BIA RƯỢU

Đăng ngày: 09:28 29-06-2011

Lê Thiên Minh Khoa
.




Nhà thơ dù lớn, vừa vừa, hay nhỏ, tự mình cũng phải xác định thơ là gì khi cầm bút sáng tác ra thơ, (dĩ nhiên là sự xác định này không ai giống ai). Nói theo dân gian: Trước khi làm phải biết mình làm cái gì thì mới làm được. Hơn nữa, thơ hiện đại luôn đòi hỏi là nhà thơ có tri thức, kể cả tri thức lý luận… Xác định “thơ là gì” theo lối thực dụng thì có công thức 3T: Tình – Từ – và Tứ.



1. Thơ ca và bia rượu: Tình hình thơ Việt Nam hiện nay?

Ngày nay, các nhà thơ lớp trước, thế hệ kháng chiến chống Mỹ, nhiều tác giả vẫn sáng tác nhiều bài thơ hay, nhiều nhà thơ trẻ có tài năng xuất hiện và thơ dễ in nên được sản xuất nhiều hơn vì chỉ cần có tiền hoặc có tài trợ là có tác phẩm nhưng hình như công chúng yêu thơ thực sự (là độc giả khó tính nhất trong các thể loại văn chương vì thơ được xem là một thứ nghệ thuật cao cấp) lại ít đi. Trong số đông tác phẩm đó, có cả “chính phẩm” lẫn “thứ phẩm”. Công chúng yêu thơ đọc hoài thơ “thứ phẩm” (mà có người gọi là thơ “sercond hand”) đến nhàm chán, gặp thơ “chính phẩm” lại tưởng là thơ “thứ phẩm” nên chê, có người đọc hoài thơ “thứ phẩm” đâm ra nghiền loại thơ này.
Xin kể chuyện này, chuyện thiệt 100%, không liên quan đến thơ nhưng liên quan đến cảm nhận thơ: Có lần đi dự đám ở một vùng quê, chúng tôi đem theo một kết bia Sài Gòn để mừng. Mấy ông bạn cũ, nay là bạn nhậu thứ thiệt trong làng lại chê là bia dỏm, nhạt, uống “không đã” phải lấy mua Sài Gòn mua ở đầu xóm đem ra uống. Thì ra, họ quen uống và nghiền bia Sài Gòn dỏm, nay gặp bia Sài Gòn thứ thiệt lại chê là “thứ phẩm”, không có pha… cồn nên nồng độ thấp.
Thế thì, hãng bia chính hiệu bị thất thu và mất uy tín do nhiều hãng bia giả hiệu đã mạo hóa ra bia dỏm còn hãng bia giả hiệu thu lợi nhuận cao nhiều khi hơn cả hãng bia chính hiệu, vì không đầu tư cho cơ sở vật chất nhiều, không đóng thuế và nguyên liệu (giả) lại rẻ. Người uống bia là thiệt thòi nhiều nhất: tăng “đô” theo chiều hướng xấu, cơ thể hao mòn vì uống nhiều bia giả gồm nước lã, ga và rượu cồn có nồng độ cao thay vì men lúa mạch. Do mọi sự so sánh đều khập khễnh, nên câu chuyện “thật–giả”trên có lẽ chưa nói rõ được điều liên quan đến hai mặt hàng (Bia Rượu và Thơ Ca): người sản xuất bia “thứ phẩm”, trốn tránh pháp luật vì không có giấy phép sản xuất, còn người sản xuất ra thơ “thứ phẩm” thì đàng hoàng, công khai vì có giấy phép xuất bản hẳn hoi; bia rượu và thơ ca đều cần chất lượng cao, nhưng bia được sản xuất hàng loạt nên mỗi chai từ hình thức (mẫu mã) đến nội dung (hàm lượng) đều giống nhau là tốt, nhưng thơ ca thì không được thế. Mỗi “chai” đều phải “không giống ai”, từ hình thức (ngôn ngữ) đến nội dung (tình và tứ) mỗi “chai” một vẻ, một “hương vị” riêng. Tuy nhiên chúng có nhiều điểm giống nhau đến… thú vị; cả hai nhà sản xuất hàng “chính phẩm” (bia và thơ) đều cần đưa hàng thứ thiệt đến tận tay người tiêu dùng, còn người tiêu dùng “sành điệu” đều cần đến nhà sản xuất chính hiệu, nhưng họ đều không gặp nhau được, do có “anh” sản xuất hàng kém chất lượng đứng chắn ngang và trong quan hệ giữa người sản xuất hàng kém chất lượng với người tiêu thụ thì nhà sản xuất luôn luôn “đầu độc” khách hàng làm suy yếu “khẩu vị” của họ, mỗi bên theo một kiểu khác nhau.

Trở lên là nói chuyện thơ ca và bia bây giờ xin nói chuyện thơ ca và rượu. Từ đầu thập niên 30 của thế kỷ trước - khi phong trào thơ mới bột phát các nhà phê bình và các nhà thơ thường sử dụng các từ “bình”- “rượu”- “cũ”- “mới” để chỉ hình thức thơ- nội dung cảm hứng thơ- truyền thống cổ điển- hiện đại. Đang nói chuyện thơ ngày nay (mới) nên xin phép không nhắc đến từ “cũ” nữa mà chỉ vận dụng 2 cụm từ “bình mới” – “rượu mới” để chỉ thơ VN ngày nay. “Bình mới” – “rượu mới” trong

thơ VN ngày nay có thể nói rất đa hệ với những trăn trở tìm tòi

thử nghiệm sáng tạo của các nhà thơ đương đại thuộc nhiều lứa tuổi nên đã hình thành nhiều xu hướng nhiều trào lưu sáng tác nhiều dòng thơ…rất đa dạng. Trong số đó thời sự nhất trong những năm gần đây là chủ nghĩa hậu hiện đại và tân hình thức. Chỉ nói về 2 phương pháp sáng tác nầy: nếu qui chụp vào “bình mới” – “rượu mới”

thì

có thể coi: “bình mới” = tân hình thức+ các thủ pháp nghệ thuật mà hậu hiện đại chấp nhận và dung hóa; “rượu mới”=

cảm thức hậu hiện đại.

Chủ nghĩa hậu hiện đại được một số văn nghệ sĩ VN tiếp nhận và thực tế nó đang trở thành một xu hướng sáng tác (xu hướng chứ chưa phải là trào lưu) trong thơ ca đương đai VN nhất là trong giới sáng tác trẻ. Có nhiều cây bút đã vận dụng thành công phương pháp sáng tác nầy và “đứng được” trên thi đàn. Nhưng cũng không tránh khỏi thực trạng lạm dụng cái mới cái lạ học chưa hết chiêu đã hành nghề…gây ra một môi trường thơ hổ lốn đầy rượu dỏm bơm vào vỏ rượu Tây. Cho nên có những bài thơ tắc tị nhưng ngụy trang bằng một cảm thức cao siêu kiểu như là một số người viết chữ xấu đọc không được lại thành nghệ thuật thư pháp tiếng Việt vậy. Phổ biến nhất là loại thơ

dung tục thông tục hóa tầm thường- cả nội dung lẫn hình thức mà có lẽ tác giả của nó chưa học hết chiêu “tục và thanh” trong thơ truyền thống.


2. Phân biệt thơ và cái không phải thơ: Xác định thế nào là thơ?

Lại đụng phải một vấn đề lớn, khó khăn của lý luận văn học đây. Xưa nay, các bậc học giả đã thường tìm cách định nghĩa, nhưng có thể nói, đây là “một câu hỏi lớn không lời đáp” vậy. Hình như con số định nghĩa về thơ phải có đến hàng ngàn, có điều không có cái nào giống cái nào, điều đó chứng tỏ cái cụ thể đó (thể loại thơ) lại rất trừu tượng và khó nắm bắt. Chẳng hạn theo Voltaire: “Thơ là hùng biện du dương”, theo A.De Musset: “ Thơ là tiếng nói nhẹ nhàng của tâm tình”. Ở VN ta cũng có hàng chục định nghĩa về thơ. Chẳng hạn, theo Tố Hữu: “Thơ là tiếng nói đồng tình, đồng ý, tiếng nói đồng chí”, còn Chế Lan Viên: “Thơ là gì? Là thơ lơ mơ …”. Hai định nghĩa về thơ của hai danh nhân nước ngoài khác nhau hoàn toàn, thậm chí đối nghịch nhau và xác định đối tượng phản ánh của thơ cũng không giống nhau: là du dương của hùng biện, là nhẹ nhàng của tâm tình. Còn hai định nghĩa của hai nhà thơ VN cũng vậy: là tiếng nói đồng cảm, đồng điệu (Tố Hữu), là tâm hồn bảng lảng, bay bổng, mơ màng… (Chế Lan Viên).
Nhà thơ dù lớn, vừa vừa, hay nhỏ, tự mình cũng phải xác định thơ là gì khi cầm bút sáng tác ra thơ, (dĩ nhiên là sự xác định này không ai giống ai).
Nói theo dân gian: Trước khi làm phải biết mình làm cái gì thì mới làm được. Hơn nữa, thơ hiện đại luôn đòi hỏi là nhà thơ có tri thức, kể cả tri thức lý luận… Xác định “thơ là gì” theo lối thực dụng thì có công thức 3T: Tình – Từ – và Tứ.

Thơ trước hết phải có “Tình”, tức là nhà thơ phải có tình cảm mảnh liệt, chân thật và sâu sắc đối với đối tượng trữ tình; phải có rung động (cảm xúc) đột xuất, cao trào và bức xúc để tự “bức bách” mình phải “động thủ” thành thơ; đồng thời tình cảm và rung động này phải đủ để làm nảy sinh, hòa nhập “quấn quít” với một trí tưởng tượng phong phú, bay bổng.

Thứ hai là “Từ”, tức là ngôn ngữ thơ. Thơ là nghệ thuật bậc cao của ngôn ngữ, mà là ngôn ngữ hình tượng. Ngôn ngữ thơ phải mới, phải sáng tạo không lặp lại người khác, không lặp lại mình, không ước lệ sáo mòn, nói theo ngôn ngữ hiện đại là không “lập trình sẵn”. Ngôn ngữ đó phải càng “lệch chuẩn” càng hay. Vì càng “lệch chuẩn” càng tránh được sự sáo mòn, lặp lại, lập trình sẵn ngôn ngữ, điều kiêng kị nhất trong thơ. “Lệch chuẩn” nghĩa là vừa giống mọi người (chuẩn), vừa khác mọi người (lệch). Vì cái “Giống” tức là theo chuẩn mực chung về sử dụng ngôn ngữ để mọi người hiểu được. “Khác” tức là phải có cái mới, cái lạ mới thành thơ để mọi người thích. Chẳng hạn như Nguyễn Du viết: “Trăm năm trong cõi người ta” thì cái “giống” (chuẩn) là: cõi trời, cõi trên, cõi Phật, cõi trần gian … theo kết cầu cụm từ tiếng Việt, chứ chưa ai nói “cõi người ta” như Nguyễn Du cả.
Khi Tố Hữu viết: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ”, thì cái “giống” (chuẩn) là: “từ đó, từ ngày ấy” chứ chưa ai nói: “từ ấy”cả. Gần đây, Hoàng Nhuận Cầm viết: “Hạ chưa về nhưng nắng đã Côn Sơn” thì thiệt là “quá đã”. “Khác” (lệch chuẩn) là: sau phó từ “đã” và trước danh từ chỉ địa danh lẽ ra phải là một động từ chỉ sự di chuyển: Không thể nói “đã Sài Gòn, đã Biên Hòa”, mà phải nói: “đã đi Sài Gòn, đã về Biên Hoà”. Nhưng ở đây
Hoàng Nhuận Cầm
lại nói được, mà người đọc thơ không những hiểu, chấp nhận mà còn thích nữa: “đã Côn Sơn”, thế thì có “đã đời” không? Cái “giống” (chuẩn) là
Hoàng Nhuận Cầm
vận dụng quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ dựa trên điệp kết cấu các vế trong câu và nghĩa “hàm ngôn” của từ “nhưng”: “Hạ chưa về (1) nhưng nắng đã Côn Sơn”(2). Hai vế câu đều có chủ ngữ là biểu tượng thiên nhiên (Hạ và nắng), thành phần vị ngữ đều có hai phó từ chỉ thời gian đối lập nhau (chưa, đã), quan hệ từ “nhưng” biểu thị quan hệ hai vế tương phản nhau về ý, vậy thì vế (1) là “chưa về” thì vế 2 theo logic câu phải là “đã về, đã tới Côn Sơn”, câu thơ do vậy đọc mới “sướng”! Nếu như họ viết “Trăm năm trong số người ta”, “Từ đó, trong tôi bừng nắng ha”ï, “Hạ chưa về nhưng nắng tới Côn Sơn” thì chưa chắc ngày nay chúng ta có thi hào Nguyễn Du, nhà văn hóa lớn của thế giới, Tố Hữu là thơ lớn, lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng suốt ba thập niên rưỡi – (1930 -1975) và
Hoàng Nhuận Cầm
, một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca VN hiện đại.
Cả tuần nay giới thơ ca đang xôn xao về bài thơ dài “Trăng ca” của tác giả trẻ Võ Thị Phương Thúy đăng trên diễn đàn: nguyentrongtao.org. Thành công của bài thơ do nhiều yếu tố hợp lại: điêu luyện-

cách tân- tứ thơ mới- cảm xúc cái nhìn lạ lẫm về trăng…
Nhưng có một yếu tố quan trọng đã biến câu lục bát thành thơ lục bát mà tác giả vận dụng rất có tay nghề là: ngôn ngữ thơ “lệch chuẩn” một cách rất có ý thức.

Thứ ba là Tứ. Tứ thơ là một khái niệm có vẻ rất khái quát và trừu tượng nên rất khó diễn giải. Theo tôi, “tứ” được hiểu như là một phương thức nào đó để tổ chức liên kết các ý trong bài thơ và hệ thống các ý đó với “tình” của nhà thơ và biểu hiện chúng bằng yếu tố ngôn ngữ (từ). Cả ba yếu tố đó tổng hòa trong một thể thống nhất gọi là bài thơ – tác phẩm. Như thế, chất trí tuệ, năng lực hư cấu văn học và trí tưởng tượng của nhà thơ được vận dụng hết công suất để xây dựng tứ thơ mà giới chuyên ngành gọi là “cấu tứ”. Chính tứ thơ làm cho văn bản trở thành bài thơ, là yếu tố không thể thiếu của một bài thơ, nhất là thơ hiện đại. Thơ tứ tuyệt đường luật chỉ ngắn bốn câu, nhiều bài ta thuộc lòng mà vẫn thích đọc lại, thích ngâm vì tứ thơ quá hay, quá bất ngờ. Thơ Hai-ku của Nhựt Bổn, chỉ có ba câu, ta chỉ đọc qua bản dịch mà vẫn cảm được vì tứ thơ quá lạ, quá “siêu”.
Bài thơ hai câu của Phan Thị Thanh Nhàn: “ Người tôi yêu ở rất xa – Người yêu tôi ở gần nhà, chán không?” được rất nhiều người Việt Nam yêu thích vì tứ thơ quá thiệt, quá quen mà quá lạ. Ngày nay, nhiều bài thơ văn xuôi dài ngoằng, gần như không vần, không luật, rất khó nhớ mà có người vẫn thuộc lòng vì tứ thơ quá độc đáo. Dù có vần, có điệu mà không có tứ thơ thì không thành bài thơ mà chỉ là vè, văn vần, là khẩu hiệu tuyên truyền cổ động… mà thôi. Không quan niệm thế, không chú trọng yếu tố “tứ” trong thơ, một quan niệm khá phổ biến hiện nay, mà tiêu biểu là trong một số sách giáo khoa, giáo trình … là thay thế yếu tố “tứ” bằng yếu tố “tính nhạc” của thơ. Ai làm thơ cũng biết câu: “ Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc”, vậy thì tính nhạc nằm đâu trong 3 T? Xin thưa: Nó nằm trong “từ” (ngôn ngữ thơ). Ngôn ngữ thơ có hai mặt: ngữ nghĩa (có thể coi như thuộc về phạm trù tinh thần) như đã nói qua ở trên và tính nhạc (có thể coi như như phạm trù vật chất).
Tính nhạc trong thơ bao gồm 4 yếu tố: âm, thanh, vần, nhịp của thơ, trong đó, theo tôi thanh (nhóm thanh bằng, nhóm thanh trắc, nhóm thanh cao, nhóm thanh thấp) và nhất là nhịp (tiết tấu ) là hai yếu tố quan trọng nhất, thiếu nó văn bản không thể thành thơ, Chính chúng đã góp phần làm cho thơ văn xuôi hội đủ điều kiện thành thơ, vì bài thơ có thể không vần, không cần có sự hài âm, nhưng không thể thiếu yếu tố hài thanh và tiết tấu. Ngoài ra còn phải kể thêm nhạc điệu nội tại của bài thơ toát ra từ tình và tứ của bài thơ. Cũng có người ngược lại, coi nhẹ yếu tố nhạc tính trong thơ, vì xem đó chỉ là yếu tố hình thức, mà quên rằng: Hình thức trong thơ nói riêng và trong văn học nghệ thuật nói chung là hình thức đã được “nội dung hóa”, nói thẳng ra: hình thức thơ, trong đó có tính nhạc, cũng chính là nội dung thơ…

3. Làm sao tránh được tình trạng… lạm phát thơ như hiện nay?

“Cái không phải thơ” nhưng lại “giống thơ” đã gây bao ngộ nhận. Công chúng ngộ nhận là thơ, còn người làm thơ ngộ nhận về tài làm thơ của mình. “Cái giống thơ” lại dễ làm. Khi học cấp 2 đã được học các thể thơ rồi, bây giờ lập trình, ráp chữ, đúng luật bằng trắc thì thành “cái giống thơ” thôi. Nên có rất nhiều người làm thơ, in ra hàng loạt để …. tặng và để…'thành' nhà thơ. Do đó, người làm thơ phải tự kiểm định thơ mình trước khi đưa thơ ra mắt công chúng, nhưng mà khó lắm, vì “văn mình, vợ người” mà. Xin mượn câu nói của nhà thơ Inrasara để tạm kết luận: “Nhà thơ cần biết sợ thơ… để người đọc còn cần đến thơ” (*).

LÊ THIÊN MINH KHOA


Đầu trang
  
Có 8 thành viên đã cảm ơn Cao Nghiêm cho bài viết này:
Trần Thị Lợi (20-10-2011, 05:12 am), HuyDungPro (20-10-2011, 10:26 am), Tường Vi (20-10-2011, 06:43 pm), ngà (22-10-2011, 09:21 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:41 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:08 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:12 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:03 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 20-10-2011, 10:46 am 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 
*

Tất cả thi hữu vnthidan chúng ta, ai mà không có tâm huyết với thơ

Nhưng phải dân dần biết SỢ thơ để tiến lên làm ra được những bài

có thơ hơn mãi, chết dần đi những bài giống thơ nhưng phản thơ

gây lạm phát thơ, có hại cho nền thơ của thi đàn và của xã hội. Vậy

nên cần không ngừng tự học để nâng mãi mặt bằng kiến thức thực

tế về xã hội và nhân học. Và nhất là kiến thức tối thiểu & thực tế về

thơ, ví dụ như qua các bài trên đây do Cao Nghiêm sưu tầm về.

Rất bổ ích, nhưng cần nghiền ngẫm và thử nghiệm dài dài suốt đời

thơ mỗi người.

.


Đầu trang
  
Có 9 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
Cao Nghiêm (20-10-2011, 10:47 am), Tường Vi (20-10-2011, 06:43 pm), Trần Thị Lợi (20-10-2011, 08:47 pm), ngà (22-10-2011, 09:22 am), suongsuong (24-10-2011, 02:42 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:41 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:02 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:12 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:03 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 21-10-2011, 11:00 am 
HuyDungPro
Đi tìm thuyết dung thông...
<img src='http://img99.imageshack.us/img99/7665/vipv.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 16-03-2010, 04:58 pm
Lần ghé thăm trước: 15-04-2012, 07:55 am
Tuổi: 81
Bài viết: 1593
Đến từ: Trường và Bệnh viện Đại học Y Dược tp HCM
Giới tính: Nam
Mình đang: Happy
Đã cảm ơn: 5398 lần
Được cảm ơn:
7476 lần trong 1505 bài viết
 
*

HẸN GẶP LẠI

Đến hôm nay, với v/đ này

xin đa tạ công phu cập nhật tin tức kèm đưa ý kiến riêng

của CAO NGHIÊM, NGUYENQUOC, TRẦN THỊ LỢI

cùng sự hưởng ứng của QTV Tường vi, của Suongsuong

chúng ta tạm chia tay nhau ở đây

và hy vọng gặp lại trong những v/đ bổ ích khác cho thơ.

Cảm ơn,

huy dung


Đầu trang
  
Có 8 thành viên đã cảm ơn HuyDungPro cho bài viết này:
Trần Thị Lợi (21-10-2011, 11:29 am), ngà (22-10-2011, 09:22 am), Tường Vi (23-10-2011, 06:50 pm), suongsuong (24-10-2011, 02:43 am), Lính thuỷ (26-10-2011, 12:42 am), Bách hợp (30-10-2011, 09:02 am), Trần Việt Phong (09-11-2011, 06:13 am), Nguyễn Thanh Tùng (18-03-2012, 05:02 pm)
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 12 bài viết ] 


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Chuyển đến:  
News News Site map Site map SitemapIndex SitemapIndex RSS Feed RSS Feed Channel list Channel list
Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ
Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
[ Time : 1.388s | 56 Queries | GZIP : Off ]