Vừa rồi, nhà thơ X vừa cho xuất bản một tập thơ, nghe bè bạn nói là rất đáng đọc, tôi liền ra các hiệu sách chung quanh phố Tràng Tiền Hà Nội để tìm mua một cuốn. Có đến hàng chục cửa hàng tư nhân và nhà nước, la liệt sách, đủ các chủng loại, đủ các chủ đề, to nhỏ, dày mỏng. Nhân viên tiếp thị có thể giới thiệu cho ta từng khu vực sách. Và bất cứ lĩnh vực nào của đời sống cũng có thể tìm được hàng chục đầu sách tham khảo. Chưa bao giờ sách in đẹp và phong phú chủng loại như vậy! Nhưng sau gần nửa buổi đi khắp các cửa hàng sách, lục tìm không được tập thơ nọ, tôi liền nhờ trợ giúp của những người bán sách thì mới vỡ nhẽ: từ lâu lắm rồi không có cửa hàng sách nào còn dám nhận bán thơ vì không có người mua! Tôi trở thành một kẻ kém thức thời, nếu không muốn nói là khốttabit trong con mắt những nhân viên cửa hàng sách! Biết không thể mua được, tôi nghĩ cách đến thư viện mượn rồi đi photo, nhân viên thư viện của một cơ quan chuyên ngành nọ cũng cho biết lâu nay thư viện hầu như không mua thơ!.
Như vậy, gần như bó tay, hình như thơ đang mất chỗ đứng trong ồ ạt của cạnh tranh thị trường và thế cũng có nghĩa đang mất chỗ đứng trong đời sống xã hội, cũng có nghĩa đang đứng trước một thảm hoạ của sự rẻ rúng, ghẻ lạnh, thờ ơ của công chúng, sự lãnh cảm mang tính cộng đồng. Điều đó rất đáng để bàn luận.Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng này? Hãy bắt đầu từ nguyên nhân chủ quan.
Thơ ca ai cũng biết là hoạt động tinh thần của con người, bắt nguồn từ những trạng thái tâm hồn của người viết. Một tâm hồn biết cảm nhận thật sâu sắc, thật phong phú những ba động của cuộc đời, rồi biết tự lắng lại, tự chắt lọc trước khi bằng lao động ngôn ngữ nghệ thuật của mình, cho ra đời những câu thơ đầy sức gợi cảm, đủ sức lan toả và từ đó tìm đến sự đồng cảm trong tâm hồn người đọc… Thơ ca cũng như bất kỳ hình thức nghệ thuật nào, nếu là cái cần cho con người như cơm ăn, như nước uống, như khí thở thì không bao giờ bị con người chối bỏ. Người ta chỉ chối bỏ những gì không cần cho họ.
Từ lôgic trên, xuất hiện một câu hỏi: thơ ca Việt Nam hôm nay có còn cần thiết cho người đọc không? Sự mất chỗ đứng của thơ tại các cửa hàng sách, tại các thư viện... như trên ta đã thấy, do thơ đã phạm những lỗi gì để dẫn đến tình trạng đáng buồn này?
Theo tôi chất lượng thơ là yếu tố cần phải được xem xét đến đầu tiên. Ai cũng phải thừa nhận kể từ sau đổi mới, chưa bao giờ thơ được in nhiều như vậy. Nhiều người cho rằng thơ đang lạm phát, đang không kiểm soát được, đang như một con đập tràn bờ, nắm bắt thơ hôm nay khó như nắm bắt một mục tiêu di động đang bay trên trời...Người ta ước tính mỗi năm có khoảng trên bảy trăm tập thơ được in… Có tác giả tên tuổi còn khá lạ với công chúng nhưng đã có gần một chục đầu sách thể loại thơ… Những nhà thơ chuyên nghiệp cũng đôi khi dễ dãi cho ra tập. Thật lạ, ngày trước giấy má khó khăn, ba bốn tác giả in chung một tập mà những tập ấy bây giờ vẫn còn nhiều người nhớ và tìm đọc… Ở đây cần xác định rằng không ai ác cảm với số lượng, số lượng nhiều mà hay thì đó là phúc nhà chứ.Chỉ đáng phàn nàn là hội chứng chạy theo số lượng mà bỏ qua chất lượng! Có thể nói chưa bao giờ việc in thơ lại thoải mái như lúc này. Nếu nhẩm tính từ khi đổi mới đến nay đã có thể có vài ba vạn tập thơ ra đời. Một cuộc đua tranh về số lượng. Với số lương khổng lồ như vậy, cần tìm hiểu, để đọc hết là một điều không thể.
Nhưng số lượng chưa phải là điều đáng nói, cho dù với một số lượng lớn khác thường như vậy đã gây choáng cho rất nhiều người. Chất lượng mới là điều cốt tử. Nhiều bài thơ nhợt nhạt, quanh quẩn, ngô nghê, viết lấy được, cho đủ số bài, để khi in ra cái gáy sách không quá mỏng, được viết với một trạng thái vô cảm...vội vàng tập hợp lại để đi in, thành tập, thành tuyển tập nom thật oách, để kịp tặng bạn bè. Nhạt là căn bệnh phổ biến của thơ hôm nay. Các biên tập viên ở các nhà xuất bản thường chỉ bắt lỗi chính trị, quan điểm, lập trường, còn bệnh nhạt rất dễ được thông cảm. Vậy là tập thơ ra đời sau khi nộp cho nhà xuất bản một khoản lệ phí. Nhạt là căn bệnh nan y của văn chương và đặc biệt đối với thơ. Tưởng vô thưởng vô phạt, tưởng không chết ai, nhưng nhạt là cách giết chết thơ nhanh nhất. Người đọc có thể có đủ kiên nhẫn đọc một chục tập, một trăm tâp, nhưng không đủ kiên nhẫn và độ lượng đọc cả nghìn tập mà không tìm được những bài thơ họ thích. Nhưng ở đời, không một tác giả nào dám thừa nhận thơ mình nhạt. Đồng nghiệp biết, các nhà phê bình biết, biên tập viên có thể biết, nhưng không một ai nỡ vạch ra cái nhạt ấy, vì vô vàn lý do. Kết quả thơ nhạt, thơ dở ngang nhiên tồn tại, cái làm qua chuyện có khi lấn át cái tâm huyết, ít ra là làm hoa mắt người đọc, thách thức lòng kiên nhẫn của họ. Người xưa vẫn luôn nhắc câu chuyện thôi xao Giả Đảo, vẫn khuyên nếu một chữ viết ra không làm rung động được ai thì tốt nhất đừng viết ra. Đằng này hình như không một ai trong số những tác giả tập thơ nhạt nhẽo ấy nhớ lời người xưa, cứ vô tư, thản nhiên ghép vần, không hề tính đến tâm trạng của người tiếp nhận, trong khi không một thứ hàng hoá nào được làm ra không cần tính đến người tiêu thụ, mà có thể mang lại sự cần thiết cho họ. Thơ ca cũng vậy, không hiểu, không biết đến cái gì người đọc đang cần, rất dễ bị người đọc ngoảnh mặt đi. Thơ nhạt, thơ dở làm thể loại thơ chết một cách thật êm ái!
Không phải trong vô vàn những tập thơ được in ra đều là thơ nhạt. Có điều thơ hay, thơ sâu sắc thường rất hiếm.Thơ hay hôm nay vừa hiếm lại vừa bị chen lấn, bị khuất lấp, bị đánh đồng với thơ dở. Nó tựa nụ hoa tí xíu trong đám cỏ rậm rạp của những phế liệu. Rất cần những con mắt công tâm và tinh tường của nhà phê bình, gạn ra tinh tuý từ những phế liệu ngổn ngang kia. Hãy tưởng tượng, thơ mới nếu không có Hoài Thanh, không ai tin những tài danh kia còn lại đủ mặt cho đến hôm nay. Thơ lúc này cũng vậy, chắc chắn không hiếm những tập hay, bài hay, nhưng ai có đủ tài năng và dám bỏ công sức để làm cái việc tối ư cần thiết và quá đỗi phức tạp, để nhặt ra từ gò đống kia những hạt bụi vàng như K.Pautôpxki ao ước! Như vậy, bạn đọc quay lưng lại với thơ vì họ bị tra tấn bởi quá nhiều thơ dở, thơ nhạt, vì họ không được những nhà phê bình thơ mách bảo những gì cần đọc, trong khi họ còn quá nhiều việc phải làm.
Nhưng phê bình thơ một mặt hình như bất lực trước tình trạng lạm phát của thơ đương đại, mặt khác nhiều cây bút phê bình, đọc sách đôi khi lại quá dễ dãi trong việc khen chê, thẩm định. Có những bài phê bình, đọc sách không tiếc lời ca ngợi một tác giả, một tập thơ mà thực chất không đáng được như vậy. Công chúng đọc bài phê bình rồi đối chiếu, suy ngẫm về tập thơ mà họ được đọc và họ nhận ra không phải thế. Hoá ra là trò bốc thơm nhau, viết để trả ơn, trả nghĩa nhau. Ví dụ cho điều này không khó tìm trên báo chí hiện nay. Nếu ai chịu khó đọc báo, đọc mạng, sẽ không khó nhận ra tình trạng tháng trước nhà thơ nọ có bài khen hết lời nhà thơ kia, vài tháng sau lại thấy có bài của nhà thơ kia đáp lễ bằng cách khen lại cũng không kém phần mùi mẫn nhà thơ nọ. Trên một trang mạng nào đó tôi không còn nhớ, có người còn cho biết, có tác giả nọ lấy tên khác viết bài phê bình tập thơ của mình rồi đem đăng báo. Nếu điều này có thật thì văn chương đang lâm nguy ngay bên cạnh mình chứ không phải ở nước tây, nước tàu xa xôi nào! Tôi cho rằng im lặng không đáng sợ bằng cách lên tiếng theo kiểu này. Nếu phê bình không lên tiếng, có thể đó chỉ là một khuyết điểm, nhưng nếu phê bình lên tiếng tâng bốc nhau một cách quá đáng, thì đó sẽ là một việc làm khó có thể chấp nhận. Người đọc sẽ nhận ra mùi xôi thịt dù chỉ qua một vài dòng viết… Đến đây, các nhà phê bình thơ cũng không thể chối bỏ trách nhiệm của mình về việc làm cho thơ mất chỗ đứng trong đời sống!
Một lỗi khác, phải chăng thơ ca Việt đã chậm đổi mới, không theo kịp nhu cầu cảm thụ thẩm mỹ của người đọc, hoặc những đổi mới chưa làm bạn đọc hưởng ứng?
Từ ngọn nguồn cho đến hôm nay, thơ đều phải tuân thủ một nguyên tắc bất di bất dịch là khát vọng vươn tới những bài thơ ý sâu, lời đẹp. Lời trong thơ chính là ngôn ngữ nghệ thuật, là chữ dùng của nhà thơ. Ý trong thơ chính là nghĩa trong quan hệ chữ và nghĩa mà một tác phẩm nghệ thuật cần vươn đến. Ở những bài thơ hay ý và lời luôn ở trong một liên kết thống nhất. Ý dù sâu sắc đến bao nhiêu nhưng lời lẽ thô thiển, câu cú vụng về, không thể hiện tối đa lao động ngôn từ của tác giả, thì cái ý sâu ấy cũng khó lòng có sức lan toả với người đọc. Nếu chỉ chú ý đến nghĩa thì thơ bị bỏ mất một mặt hết sức quan trọng của ngôn ngữ. Đó là bóng của chữ, tức là mặt nghệ thuật của ngôn từ. Ngược lại nếu lời lẽ bay bổng, ngôn từ mượt mà nhưng ý tưởng nông cạn, xoàng xĩnh thì thơ ấy cũng không gây được xúc động thật sự đối với người đọc. Ở đây nội dung và hình thức bao giờ cũng đến với người tiếp nhận trong một chỉnh thể.
Cần phải lưu ý một đặc điểm của tâm hồn người Việt. Đó là xu hướng duy tình hơn duy lý, nặng tình hơn nặng lý, chuộng cảm xúc hơn lý trí...và vì vậy, trong ca dao, dân ca cũng như trong văn học thành văn thường đề cao tình cảm, và như một vô thức, đôi khi như duy cảm. Không thiếu những bài thơ bộc lộ lai láng cảm xúc của tác giả, nhưng lại phân tán ý tưởng, nhợt nhạt suy nghĩ. Thơ mới, một thời đại huy hoàng trong tiến trình thơ Việt cũng nghiêng về cảm xúc, tình cảm. Các nhà thơ thời kỳ chống Pháp rồi thời kỳ chống Mỹ phần lớn cũng viết theo cảm xúc. Cảm xúc dâng tràn, thậm chí có tác giả viết trong niềm say, trong cơn hứng khởi, trong cảm xúc tột độ...Ai cũng hiểu bất cứ thể loại văn chương, nghệ thuật nào cũng bắt đầu từ tình cảm, cảm xúc của người nghệ sỹ. Cảm xúc, tình cảm là ký hiệu của tâm hồn để lan toả sang những tâm hồn đồng điệu.
Nhưng nếu chỉ nghiêng về tình cảm, thậm chí chỉ duy cảm, trong thơ chỉ có tình cảm thì thơ ấy còn thiếu một phẩm chất quan trọng nữa của nghệ thuật. Đó là tư tưởng của cảm xúc, phần rường cột cùng với cảm xúc làm nên ngôi nhà nghệ thuật. Hải Thượng Lãn Ông từng nói, thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Ngẫm trong tiến trình văn học Việt Nam, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi tiếp sau thơ Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, rồi nhìn ra ngoài thơ R. Tago, P. Neruđa, Uýtman, N. Hitmet, E.Eptusencô...đều hài hoà giữa cảm xúc và tư tưởng, chinh phục người đọc đồng thời về cảm xúc và tư tưởng . Như vậy tính thống nhất biện chứng giữa hai mặt cảm xúc và tư tưởng, cảm xúc cao độ và tư tưởng sâu sắc làm nên phẩm chất của thể loại. Nếu chỉ chú ý một phía sẽ không đạt đến tính hài hoà nghệ thuật.
Và điều đáng nói là nếu chỉ sáng tác theo cảm xúc thuần tuý , sẽ không còn phù hợp với đòi hỏi hôm nay của công chúng nữa, bởi vì ai cũng biết tri thức của công chúng hôm nay đã rất khác xưa. Một khi thơ không nắm bắt được điều này, món ăn tinh thần tuyệt diệu ngày nào là thơ, sẽ không còn hợp khẩu vị nữa. Như vậy có phải chậm đổi mới cũng là một trong những nguyên nhân làm thơ mất chỗ đứng như ta đã thấy!
Nhưng đổi mới thơ bằng cách nào là một ẩn số đang có nhiều nhà thơ tìm lời giải. Thơ Việt đang có sự thay đổi làm nên sự chuyển động khá quyết liệt thuộc về bản chất. Hiện đang có nhiều cách đổi mới thơ. Nào là thơ ngôn ngữ, thơ vụt hiện, thơ cấu trúc lỏng, thơ viết để cái tôi ngoài bản thể theo lối hậu hiện đại. Cần tôn trọng sự khác biệt, cũng như cần tôn trọng những thể nghiệm. Nhưng từ những thay đổi của thơ hôm nay, có thể gom lại trên ba hướng chính.
Một là những tìm tòi thay đổi nghiêng về mặt hình thức, cụ thể là nghiêng về ngôn ngữ biểu hiện. Đó là những năm tám mươi của thế kỷ XX, một số nhà thơ đã tạo ra một kiểu thơ rất khác lạ với thơ truyền thống. Nhiều bạn đọc đã từng bị sốc khi đọc kiểu thơ ngôn ngữ này. Có thể nói đó là
thứ trò chơi ngôn ngữ, không quan tâm đến ngữ nghĩa. Thơ ấy tất nhiên không hợp với số đông công chúng, và theo quy luật những gì không hợp với khẩu vị của số đông, nó phải tự biến mất. Nó tự biến mất, như kiểu tự mất của thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập trước đây, chứ không phải công chúng chưa có sự chuẩn bị tri thức đọc và không phải các nhà phê bình thơ không cổ vũ kịp thời như có người nói!
Nhưng ở đây cần có một mở ngoặc về trường hợp Lê Đạt, người có luận điểm nhà thơ là phu chữ nổi tiếng.Với quan niệm nhà thơ là phu chữ, Lê Đạt đã lao động chăm chỉ trên cánh đồng chữ của mình và khác với quan niệm thơ là trò chơi ngôn ngữ trên đây, Lê Đạt đã tạo ra trong thơ ông những nghĩa mới khác lạ, khá bất ngờ, khá thú vị, bởi lẽ Lê Đạt rất có ý thức đặt cạnh nhau những ngộn từ rất khác nhau về nghĩa, thường không có sẵn trong phép đặt câu, tạo nghĩa của ngôn ngữ Việt. Một thứ cấu trúc bất ngờ theo một kiểu triết lý xáo trộn, gián đoạn, tạo nghĩa bằng sự liên tưởng của người đọc, thơ Lê Đạt mở ra những chiều kích mới của thơ Việt ở khía cạnh tạo nghĩa mới cho ngôn từ, kích thích suy nghĩ của sự tiếp nhận. Như vậy cũng hướng về ngôn ngữ, nhưng thơ Lê Đạt không mang ý nghĩa là trò chơi, ngược lại là lao động ngôn ngữ. Phần lớn người đọc đồng tình với hướng đi của Lê Đạt, chỉ không thích những khi ông đứng chênh vênh giữa bờ vực của những đổi mới, tìm tòi và sự lập dị, cầu kỳ mà chút xíu nữa ông sẽ biến ngôn ngữ thành thứ trò chơi ít người xem!
Hai là, những cố gắng đổi mới thơ về mặt giọng điệu. Thơ Việt truyền thống luôn chú ý điệu ngâm, thâm chí điệu hát (hát thơ) cho phù hợp với cảm xúc, tình cảm. Một số nhà thơ hướng đến tư duy thơ hiện đại bằng cách
đưa vào thơ điệu nói, đưa vào thơ chất văn xuôi. Đương nhiên đây là điệu nói, chất văn xuôi nghệ thuật. Đây là khuynh hướng muốn
khắc phục tình trạng duy cảm xúc hoặc sự gò bó vần điệu của thơ truyền thống. Quả thật nếu duy tình cảm, lại lệ thuộc quá đáng về vần điệu, tự trói buộc bằng
những niêm luật bằng trắc, đăng đối.. thơ đã gây ra những
nhàm chán của cảm giác bằng bằng không một đột biến mang ấn tượng sáng tạo, và điều đáng nói là không còn phù hợp với
tâm lý của thời đại công nghiệp. Đưa vào thơ điệu nói, chất văn xuôi, bài thơ
mở rộng biên độ câu chữ, mở rộng trường liên tưởng, đôi khi như suối tràn bờ, diễn đạt thoải mái tư tưởng, tung thả gần như tuyệt đối...Trong một bài, một tập rất dễ nhận ra ngồn ngộn những ý qua ngồn ngộn những từ. Một sự vâm váp thậm chí rậm rạp những ý và từ rất khác với sự đèm đẹp trong thơ cử tử, trong thơ ngâm vịnh điền viên. Nếu phải trình bày trước công chúng loại thơ này chắc chắn nhà thơ phải lựa chọn chất giọng chính luận, hùng biện, gây ấn tượng bằng những trùng điệp ngôn từ và dồn dập những ý tưởng. Những ai đã từng quen với thơ điệu ngâm hẳn có thể sẽ không quen với kiểu thơ này, cho dù đây vẫn là một xu hướng
hiện đại hoá thơ Việt, nếu muốn suy nghĩ theo chiều hướng, cần
bỏ điệu ngâm, cần bỏ những duy cảm, cần tăng cường tư tưởng trong thơ. Có thể khẳng định, cho đến hôm nay có những người thích và cũng còn không thiếu những người chưa thích kiểu thơ này. Có thể còn
phải chờ thêm thời gian, cũng có thể cần phải gia công nghệ thuật nhiều hơn nữa. Dù sao những cố gắng thay đổi này cũng rất cần thiết đối và đáng ghi nhận đối với thơ Việt hiện đại.
Ba là xu hướng đưa vào thơ
những câu nói thường (thơ điệu nói) đã có từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp trong thơ Nguyễn Đình Thi và sau đó là là thơ Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Chính Hữu và những nhà thơ khác, đang được tiếp tục trong thơ số đông hôm nay. Chế Lan Viên cũng từng chủ trương đi từ hát sang nói trong thơ.Họ chủ trương không lệ thuộc vần,
nếu cần thì bỏ vần để câu thơ tự do hơn. Có điều trong thơ họ
ngôn ngữ tự do trong chọn lọc, điệu nói mang nhạc điệu, nhịp điệu nghệ thuật, nhịp điệu tâm hồn, vần có khi không cần thiết
để ưu tiên cho ý. Đưa vào thơ những câu nói thường, vậy mà sao thơ họ
vẫn lắng đọng, vẫn quyến rũ, vẫn có thể được ngâm ngợi,
vẫn dễ thuộc, dễ nhớ. Nhưng khi mới xuất hiện, thơ Nguyễn Đình Thi không phải đều được đa số ủng hộ. Có nhà thơ lúc ấy còn đòi đuổi thơ ông ra khỏi nền thơ Việt (!), nhưng rồi thời gian đã chứnh minh Nguyễn Đình Thi đúng. Đến đây cho phép chúng ta nghĩ rằng mạch thơ của Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Quang Dũng, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Chính Hữu và nhiều nhà thơ khác nữa không hề lạc mốt, là một hướng đi cần được tiếp tục và đã phần nào được các thế hệ nhà thơ đương thời tiếp tục .Cho đến hiện nay, xu hướng bỏ vần đang được nhiều nhà thơ sử dụng. Tuy nhiên thơ điệu nói này
cũng cần được hiện đại hoá để phù hợp với tâm lý đương thời của người đọc. Có thể
ngắn hơn, lắng đọng hơn, nhiều ý tưởng, triết lý và suy tưởng hơn chăng?...
Mấy năm qua, những thay đổi về mặt hình thức truyền đạt cũng là những cố gắng của thơ. Ta thấy xuất hiện thơ sắp đặt, thơ trình diễn. Đây là một cách thay đổi cách đọc thơ truyền thống. Có thể cách đọc lật từng trang đã không còn phù hợp với một bộ phận công chúng nên họ đã tìm đến cách đọc này. Ở nước ta, vì mới xuất hiện nên
thơ sắp đặt, thơ trình diễn đang gây sự hiếu kỳ của công chúng (Ở đây công chúng đang
xem người biểu diễn thơ). Những ngày hội thơ ở sân thơ Văn Miếu, nếu chú ý quan sát sẽ không khó nhận ra những người trẻ thì say sưa háo hức, những người có tuổi thì không mấy mặn mà. Hình như đa phần người Việt còn xa lạ với những nhập cảng cách đọc thơ như thế này. Mà những gì còn xa lạ thì không thể nói đó là món ăn của số đông công chúng!
Thơ không thể tồn tại mà không cần đến công chúng nhưng công chúng hôm nay còn cần thơ nữa không? Nếu nói không cần thơ nữa, thì không thể giải thích tại sao vẫn
còn nhiều người làm thơ như vậy, không thể giải thích tại sao
ngày thơ Việt Nam những năm qua đông đúc như vậy! Nhưng nếu nói công chúng vẫn cần thì tại sao trong một xã hội trên 80 triệu dân, một tập thơ chỉ in vẻn vẹn 300, 500 bản cũng không biết bán cho ai và tại sao trên thị trường sách thơ lại mất chỗ đứng như vậy? Mặt khác
nhà thơ hình như không còn là một danh hiệu cao quý nữa, mà thật sự đã bị xuống giá trong cuộc sống hiện tại đôi khi vẫn là đối tượng để chế nhạo của thiên hạ.
Lôgic thông thường cho phép chúng ta nghĩ rằng càng cao về dân trí thì xã hội càng cần những giá trị của sáng tạo tinh thần, mặt khác càng căng thẳng về cường độ lao động để kiếm sống của con người trong xã hội công nghiệp thì càng cần có thơ ca nghệ thuật để làm cân bằng những trạng thái tâm hồn. Nhưng ở
xã hội chúng ta hôm nay, hình như mọi thứ đang diễn ra ngược lại.
Những xuống cấp đạo đức, những lối sống cằn cỗi, bạo liệt, mất hết tình thương yêu giữa những con người hình như đang diễn ra mỗi ngày một trầm trọng. Có phải một bộ phận không nhỏ dân chúng
đang đề cao một cách quá đáng cuộc sống vật chất, khuyến khích một cách quá đáng làm giàu và những quy luật của giá trị đang bị xâm phạm, những giá trị tinh thần vì thế đang bị hiểu nhầm, đang bị xếp sai thang bậc, đang bị rẻ rúng? Và thơ vì thế trở nên mất chỗ đứng giữa cái ngổn ngang , bề bộn của cuộc sống hôm nay…
…Trở lại với vai trò của thơ, của người đọc thơ hôm nay. Không ai nói rằng ngày trước dân trí cao hơn lúc này. Cũng không ai nói rằng cuộc sống vật chất ngày trước khá hơn lúc này, nhưng ai cũng có thể nói ngày trước thơ được trân trọng hơn lúc này. Trong thời kỳ chống Mỹ cũng vậy, càng gian nan thơ ca càng bay bổng. “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng / Nở hoa vàng dọc suối để ong bay” là theo quy luật ấy.Trong ba lô của người ra trận không thiếu những cuốn sổ tay chép những bài thơ họ thích.
Điều này như một nghịch lý khó cắt nghĩa trong thời hiện tại.
Mà không chỉ ở Việt Nam thể loại thơ đang mất chỗ đứng, số phận của thơ ca các nước trên thế giới cũng giống như ta. Trong thời đại đa phương tiện như hiện nay thơ đang chống chọi quyết liệt để giành độc giả. Có lần trong một cuộc gặp gỡ với bạn đọc Việt Nam tại trung tâm khoa học xã hội và nhân văn, nhà văn trẻ Nhật Bản M.Onô cho biết ở nước ông thơ cũng đang rất khó tồn tại. Một nhà thơ đoạt giải Nôben thơ họ cũng chỉ được in với số lượng ít ỏi, nghĩa là tira dăm ba trăm gì đó và bán cũng không dễ! Một hội chứng mang tính toàn cầu, mang tính nhân loại cho thấy chưa bao giờ thể loại thơ đang đứng trước một câu hỏi lớn của nhân loại: tồn tại hay không tồn tại? Lịch sử đã từng chứng kiến sự biến mất của nhiều thể loại nghệ thuật, khi chúng không còn phù hợp nữa với thời cuộc. Với thơ, câu hỏi tồn tại phải / chưa phải đặt ra lúc này, nhưng cũng không phải ngoại lệ. Thơ chỉ tồn tại khi xã hội còn người đọc thơ.
Vậy những ai còn đọc thơ hôm nay? Trước hết chúng ta hãy quan sát. Một ngày một người Việt hôm nay dành được bao nhiêu thời gian cho việc đọc. Có lẽ rất khiêm tốn. Công việc ở cơ quan, ở công ty, ở thị trường, ở đường phố, ở quán bia, quán cà phê...chiếm hầu hết thời lượng trong ngày của một người. Sau thời gian đó là tivi đa kênh, đa hệ, máy tính có đủ các loại thông tin và trò giải trí. Có bao nhiêu phút trong ngày dành đọc sách, và có bao nhiêu tập thơ được bạn lựa chọn để đọc trong một ngày, một tuần, một tháng, hay một năm? Một câu hỏi khó và trả lời chắc chắn sẽ buồn!
Mặt khác, hình như nếp quen đọc sách đang thay đổi. Ngồi đọc sách theo kiểu cổ điển một lúc đã thấy mệt, ngồi máy tính cả buổi dừng lại vẫn còn hưng phấn. Thực đơn tinh thần đang thay đổi rõ rệt, thơ đang mất chỗ đứng trong lựa chọn từng ngày trên bàn tiệc của từng người và vì thế đang mất hiệu ứng xã hội. Một xã hội không còn người đọc, thư viện không còn sách hay, đêm đêm nhà hát không sáng đèn, khắp nơi là những quán bia, quán nhậu, những nhà nghỉ, những quán ghêm. Một sự thay đổi mang tính thời đại, và không biết bao giờ cho đến ngày xưa!
Bạn có thể đặt câu hỏi, ngày xưa cũng đâu có nhiều người ham đọc sách? Xin thưa, ngày xưa hoc sinh các trường trung học, sinh viên các trường đại học, những người lính (ở Việt Nam lính trẻ như trẻ con, còn trẻ con thì đông như lính – B. Đimitrôva), những người công nhân...chăm đọc sách hơn bây giờ, thích văn thơ hơn bây giờ.
Thang giá trị thay đổi, những tiện ích của đời sống vật chất hôm nay đã tạo nên tâm lý tự giác và không tự giác, chán học văn, chán học sử, chán học toán...chỉ vì những môn học này không có tương lai, không mang lại sự bảo đảm cuộc sống cho mỗi người. Điều này ai cũng biết và phải chăng nhà thơ, nhà văn trong con mắt của nhà buôn, nhà kinh tế, nhà doanh nghiệp không hơn gì một kẻ thất nghiệp tội nghiệp, nhất là nhà thơ, nhà văn kia đang định cầu cạnh xin tài trợ để in tác phẩm! Ai đã gây ra những biến cải đáng buồn như vậy? Có phải đó là mặt trái của cơ chế thị trường và tình cảnh của một xã hội đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển?
Nhưng trong tình hình như vậy mà tại sao thơ lại đang khủng hoảng thừa (như ta đã biết) còn người đọc thơ đang khủng hoảng thiếu. Một nghịch lý rất trớ trêu.
Có phải lúc này nhiều người chỉ yêu thơ mình, chỉ thích đọc thơ mình, khoe thơ mình chứ không quan tâm đến thơ người. Bởi vì nếu không thì không thể giải thích được tại sao thơ bị ế ẩm đến như vậy. Người ta ngoảnh mặt đi với thơ người khác, còn chăm lo vun vén cho thơ mình chăng? Làm thơ là công việc dễ dàng và thú vị chăng? Quả thật làm thơ thật dễ (nhưng làm thơ hay thì không dễ chút nào). Và thơ đúng là trò chơi thú vị làm con người dễ ngộ nhận. Một nước thơ như Việt Nam ai cũng có thể gieo đôi ba vần, tức cảnh sinh tình đôi ba câu. Lối nói vần vè của ca dao tục ngữ như một trò chơi ngôn ngữ như những bước đi đầu tiên của con đường vào thơ, cách tạo vần sáu tám của lục bát thường khi vẫn là lời ăn, tiếng nói của mọi người. Từ nói vần vè đến gieo đôi ba vần, đến cho ra một tập, vài ba tập chỉ là khoảng cách không quá sức mình. Thế là in thơ, thế là sản xuất thơ liên tục (có người đã cảnh báo nạn phá rừng bắt đầu từ kiểu in ấn này), tự nhận là nhà thơ cho dù danh hiệu này đang xuống giá, cho dù việc in ấn không ít hao tổn tiền túi của mình Thời buổi in ấn dễ dàng, được thấy tên mình trên những tập sách dày cộp có tốn một tí nhưng có ai không mãn nguyện. Hoạ chăng chỉ có những nhà thơ chuyên nghiệp bị chen lấn, bị đánh đồng, bị khuất lấp là kém vui. Nhưng chỉ kém vui thôi chứ có ai làm được gì!
Vậy thì còn những ai đọc thơ? Một nhà thơ chuyên nghiệp, Inraxara, khá chăm đọc sách, khi được hỏi đã cho biết: Trong số hơn 300 hội viên thơ, tôi chỉ đọc 15 người. Khoảng 15 người nữa tôi có đọc nhưng đã quên... 270 nhà khác, tôi hoàn toàn chưa đọc. Vì không có cơ hội đọc. (Báo Văn hoá - Thể thao ngày 20-5-2011). Không có cơ hội đọc, phải chăng Inraxara cũng rơi vào tình trạng như nhiều người vì không thể tìm mua ở đâu được. Nhưng không phải ai cũng còn sở thích mua sách đọc như vậy. Rất nhiều người được biếu sách nhưng vẫn không đọc, khi được hỏi đến vẫn lúng túng như chưa hề biết mình đã được tặng. Tất nhiên có thân thiết người ta mới làm một việc không mấy tế nhị là hỏi lại như vậy, còn ngoài ra ai cũng biết thơ mình khi ra khỏi nhà là đi vào chỗ không người, là đi vào cõi vĩnh hằng của sự quên.
Từ cây gỗ đến tờ giấy, đến tập thơ, đến cát bụi, một chu trình ngắn ngủi, và vô nghĩa. Một tình cảnh thật đáng sợ! Người đời vốn không thích những ai hay tự quảng cáo lộ liễu cho thơ của họ, nhưng quả tình không còn cách nào khác, hệt như phải hô lên trong trường hợp khẩn cấp (đuối nước, hoả hoạn...) như vậy, cũng là điều dễ hiểu.
Ai cũng biết những năm gần đây có những câu lạc bộ thơ cấp làng, phường, khóm vẫn sinh hoạt đều đều. Họ đa phần là những ông, bà hưu trí. Những buổi sinh hoạt là để nghe thơ bạn và đọc thơ mình cho bạn bè nghe. Một làng như Làng Chùa xã Sơn Công, huyện Ứng Hoà ,Hà Nội (Quê của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều) có 280 hộ thì hộ nào cũng có người làm thơ, có hộ ba thế hệ ông, cha, con đều làm thơ và được giải của câu lạc bộ thơ làng (Truyền hình H1 ngày 18-9-2011). Mục đích của họ rất sáng rõ là dùng thơ để giáo dục con em mình. Chẳng phải như thế tốt hơn nhiều lần ở nhà nằm khoèo, tốt hơn là ngồi tụ họp nhận xét thời cuộc, tốt hơn là trầm ngâm bên quán bia hơi...Những câu lạc bộ thơ như vậy được xã hội khuyến khích, vẫn cần thiết tồn tại, chỉ có điều không chắc họ có đóng góp gì nhiều làm số lượng các tập thơ của các nhà thơ chuyên nghiệp tăng lên.
Những học sinh phổ thông hoặc sinh viên có còn đọc thơ? Một câu hỏi khó. Nhưng có thể trả lời ngay. Họ còn đâu thì giờ. Chương trình học nặng, thi cử nặng đã làm các em nhiều khi như mụ mị, chưa kể không ít các bậc bố mẹ vẫn dùng mọi cách để hướng con em mình không đi theo con đường không gắn bó gì với kinh tế như văn-sử. Tình hình thi cử vào các khoa ngữ văn, lịch sử, triết học... của các trường đại học những năm gần đây cho thấy khoa học xã hội đang bi đát như thế nào!
Thơ ở trong tình trạng như vậy thử hỏi tìm cho mình một chỗ đứng ở đâu, và thử hỏi mấy ai còn quan tâm đến không phải chỉ lúc này mà sẽ còn như vậy về sau, nếu các nhà hoạch định xã hội không có những chính sách thay đổi.
Lê Thành Nghị
Trích đăng, in nghiêng, chỉnh lý in sai: do Huy Dung vnthidan
Nguồn: Tham luận tại Hội thảo Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung diễn ra trong hai ngày 8 và 9 tháng 10 năm 2011 tại Thanh Hóa.