ĐỀ TÀI BI KỊCH “HAMLET” CỦA SHAKESPEARE Để hiểu tất cả sự sâu sắc của tấn bi kịch mang màu sắc lịch sử này - tấn bi kịch mà Shakespeare đã ấp ủ trong tâm trí mình trong một đoạn đời khá dài - cũng cần nhắc lại vài nét về kỷ niệm cá nhân của Shakespeare. Theo Longworth Chambrun trong “Shakespeare tìm lại được” (1) thì Hamlet là tên của một người bạn chí thân cùng học một trường với Shakespeare, Hamlet Saddler, và về sau này khi Shakespeare mất, người bạn đó đã ngồi rất lâu bên giường ông. Hamlet cũng là tên mà Shakespeare đã lấy tên của người bạn đó đặt tên cho cậu con trai duy nhất của ông, cậu Hamnet Shakespeare, không may đã chết khi mới lên 12 tuổi. Hamlet còn là họ của gia đình người thiếu nữ Katherine (Katherine Hamlett) sống cạnh nhà Shakespeare, người thiếu nữ này đã bị chết đuối trên dòng sông Êvơn, nơi có cả một rừng liễu rủ, mà về sau, Shakespeare đã thi vị hóa trong hình tượng Ophelia trong bi kịch Hamlet của ông.
Do những kỷ niệm riêng tư sâu sắc đó, Shakespeare đã lấy tên Hamlet đặt cho nhân vật chính trong vở kịch của mình. Không phải bi kịch “Hamlet” hoàn chỉnh ngay khi nó vừa ra khỏi đầu óc của người sáng tạo ra nó mà từ vở kịch được trình diễn lần đầu tiên ở nhà hát Shoreditch cho đến vở cuối cùng mà chúng ta hiện đang có là cả một quá trình suy nghĩ và đổi thay sâu sắc của Shakespeare.
Cũng theo Longworth Chambrun, nếu trong lần diễn đầu tiên, một nhà văn có phần ganh tỵ với Shakespeare đương thời, Thomas Lodge, đã phát biểu rằng bóng ma trong vở kịch đã kêu thét lên như một anh bán sò: “Hamlet, hãy trả thù!” thì đến vở kịch cuối cùng, người ta thấy một sự uyên bác có tính chất triết học sâu sắc của một thi sĩ ở giai đoạn chín muồi mà tư tưởng đã tiến gần đến Montaigne (2).
Để có thể khẳng định được sức mạnh của thiên tài Shakespeare đã mang lại cho nhân vật của mình một tâm hồn và một trí tuệ kỳ diệu, ta hãy xem nhà nghệ sĩ đã tìm cảm hứng của mình từ trong các nguồn gốc sơ khai của câu chuyện thuở xưa như thế nào.
Ba thế kỷ trước, một giáo sĩ, Saxo Grammaticus, đã thu thập trong kho tàng truyện dân gian Đan Mạch câu chuyện về chàng Amleth và biên soạn lại. Đó là chuyện thái tử Amleth phải giả điên để báo thù cho cha là Horwindille, vì người chú ruột là Fengon đã âm mưu ám hại cha chàng là vua Đan Mạch để cướp ngôi và lấy Géruthe, mẹ chàng.
Vào khoảng năm 1572, nhà văn Pháp Francois de Belleforest dựa vào đó mà viết “Câu chuyện bi thảm thứ 5” trong tập truyện của ông. Belleforest không mang lại những đổi thay gì quan trọng so với truyện của Grammaticus, tuy vậy, nhà văn cũng có lồng vào một vài tư tưởng và tâm lý mới hơn. Cũng có một vở kịch “Hamlet” có lẽ do Thomas Kyd (1558-1594) viết, trong đó tư tưởng trả thù chiếm ưu thế.
Và năm 1601, “Hamlet” của Shakespeare ra đời.
Với Grammaticus, Amleth bằng sự dũng cảm của mình “đã trở thành một con người có thể sánh được với thần thánh và làm được những việc phi thường hơn cả Hercule” (Gallancz - “Những nguồn gốc của Hamlet”) (3). Ở đây, tư tưởng trả thù của Amleth đã gắn liền với những tham vọng cá nhân. Sau khi giết được tên chú, Amleth lên ngôi vua và trị vì cho đến ngày chết trong một cuộc chiến tranh mở rộng bờ cõi về sau đó.
Với Belleforest, Amleth là người “có sức chiến thắng được số mệnh nhờ đức tính kiên trì nhẫn nại, nêu được một tấm gương vĩ đại và dũng cảm”.
Còn Shakespeare, thì đúng là ông đã dựa vào câu chuyện về chàng Amleth trên (Theo Chambrun thì Shakespeare đã dựa vào câu chuyện của Belleforest), câu chuyện mà đề tài là sự trả thù trong đó bao gồm sự ám sát vua, cướp ngai vàng, sự phản bội, loạn luân và nhiều người chết, nghĩa là một đề tài điển hình của loại “bi kịch đẫm máu” phổ biến trên sân khấu Ý và Anh thời bấy giờ. Nhưng với Shakespeare, đề tài đó đã mang nội dung hoàn toàn mới và một cách hiểu hoàn toàn khác. Dưới ngòi bút của ông, Hamlet trở thành một con người có khả năng trí tuệ to lớn, có tấm lòng nhân đạo cao cả, đau khổ và bất bình trước một xã hội tàn ác và bất công, hy sinh cho nhiệm vụ cao cả là trừng phạt kẻ có tội và dựng xây lại thời đại tan hoang này. Shakespeare đã thay đổi tính cách của Hamlet ở những nét cơ bản nhất, đó là ông đã tạo cho nhân vật của mình một sự hấp dẫn công chúng đương thời bằng một động cơ hành động vô cùng cao thượng và bằng phẩm chất tốt đẹp của một người anh hùng chứ không phải là tham vọng của một hoàng tử đối với chiếc ngai vàng.
Do đó những cách lý giải đề tài bi kịch Hamlet theo quan điểm xã hội học hay cơ hội chủ nghĩa (opportuniste), dựa vào lịch sử và những vấn đề chính trị và nhà nước của thế kỷ XVI và XVII mà cho rằng Hamlet của Shakespeare là “bi kịch của ngai vàng” và câu “to be or not to be” (“Hamlet”, III, 1) có nghĩa “là hay không là... vua”, hoặc chỉ thấy thuần túy cơ hội trong cách mà mặt này hay mặt khác Shakespeare nêu chủ đề của mình mà khẳng định rằng Shakespeare xây dựng tác phẩm của mình trên một đề tài truyền thống là “bi kịch của sự trả thù”, đều là sai lầm và vô căn cứ.
Còn một cách lý giải khác, theo quan điểm thuần túy tâm lý, chỉ nhìn thấy trong đề tài Hamlet sự biểu hiện của một dục vọng đặc biệt, hay một tính cách đặc biệt, từ đó quy định một cách giả tạo tính cách nhân vật Hamlet: đó là một con người “kém ý chí”, “một con người có khả năng hiểu biết mà không có khả năng hành động” (Schlegel), một tâm hồn mơ mộng và quên sống với ảo tưởng (Hyppolite Taine), hay một tâm hồn quá yếu đuối buộc phải đảm đương một công việc khá lớn lao ví như “Cây sồi trồng trong chậu cảnh” (Goethe)... Người ta thường dẫn câu nói của Hamlet trong một đoạn độc thoại: “Chính ta cũng chẳng hiểu tại sao ta còn sống để nói: “Việc này cần làm”, trong khi ta có đủ lý do, đủ chí khí, đủ sức mạnh, đủ phương tiện để làm việc đó...” (hồi IV, 4) và cho rằng đó là lời của một người không cố gắng tự giải thích chính tình hình, tâm trạng của mình, và không phải những cái đó là của một người mà những điều kiện khách quan bên ngoài ngăn cản họ đi đến đích. Người ta cho rằng, không có gì bắt Hamlet phải xoay lưng lại với cái điều mà chàng phải làm, và sự cản trở duy nhất cho việc ám sát tên vua là chỉ đơn thuần về vật chất. Lý giải như vậy là không thấy được tính chất đa dạng và toàn diện của nhân vật mà Shakespeare xây dựng. Nhân vật Hamlet của Shakespeare bộc lộ toàn bộ bản chất con người, toàn bộ sức mạnh tinh thần của nó, chứ không phải chỉ có ở một khía cạnh nào đó của bản chất này hay một dục vọng nào khác của con người. Vả chăng dục vọng hay tình cảm của chàng có mãnh liệt đến đâu đi nữa cũng không ngăn cản chàng suy nghĩ, đắn đo. Nhất là không ai có thể chối cải rằng khía cạnh tư duy, suy tưởng sâu sắc, là một cái gì quán xuyến trong con người Hamlet. Mặt khác, dục vọng trong nhân vật Hamlet cũng không phải là cái nét nảy sinh ngay từ đầu, nhất thành bất biến và cố hữu, mà nó xuất hiện trong quá trình hành động thể hiện cái yêu cầu tất yếu của sự phát triển tự do cá nhân con người trong sự xung đột với một xã hội xấu xa, đen tối.
Ngoài ra, cũng cần thấy trong quan niệm của khán giả đương thời, mỗi nhân vật phải là một con người hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất của nó, một con người mang tính trọn vẹn và toàn thể trong tính cách, có ý thức về cá nhân mình, hoàn toàn tự nhiên và được phát triển tự do theo quan niệm nhân văn chủ nghĩa của thời đại Phục hưng. Mối quan tâm của quần chúng đối với những nhân vật trên sân khấu là số phận của họ sẽ ra sao nếu họ là những con người chân chính và những nguyên lý tốt đẹp về điều thiện, về sự tự do và cá nhân con người có được thực hiện hay không, cũng như cái ác trong cuộc đời có bị trừng phạt, có bị hủy diệt hay không? Đương nhiên, nhà nghệ sĩ chân chính Shakespeare không thể nào xoay lưng lại trước những mối quan tâm ấy của quần chúng, và chính là trên cơ sở tư tưởng nhân văn chủ nghĩa tiên tiến nhất của thời đại, Shakespeare đã tìm nguồn cảm hứng cho vở kịch của mình. Cũng từ trong ý tưởng đó mà Pushkin đã diễn đạt ý nghĩa cơ bản của tác phẩm Shakespeare trong câu “Số phận của con người, số phận của nhân dân”.
Thời đại Phục hưng đã làm nảy sinh ra ý thức về giá trị cao cả và khả năng vô tận của con người. Sự “phát hiện ra con người” ở buổi bình minh của kỷ nguyên tư bản chủ nghĩa đã bừng thức trong tâm hồn người nghệ sĩ lòng tin tưởng mãnh liệt vào bản chất tự nhiên tốt đẹp của con người và sự phát triển tự do của cá nhân, không hề có sự kìm hãm của tôn giáo hay của một lực lượng xã hội nào cả. Đã từng có lúc Shakespeare để cho Hamlet nói lên những lời hào hùng và kiêu hãnh về niềm tin tuyệt đối của mình vào con người: “Con người là một công trình tuyệt mỹ biết bao! Lý trí con người mới cao quý làm sao, năng khiếu con người mới vô tận làm sao! Hình dung và cử chỉ con người mới ý vị và đẹp đẽ làm sao! Trong hành động giống như thiên thần, về trí tuệ ngang tài thượng đế! Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài!” (Hamlet, II, 2)
Như vậy là, thấm nhuần những giá trị tinh thần to lớn và mới mẻ của chủ nghĩa nhân văn, Hamlet cũng đã có lúc say sưa và hào hứng với những triển vọng tốt đẹp về con người và cuộc đời chẳng khác gì Othelo hay Taimơn ở hồi đầu. Nhưng lúc phát hiện ra khả năng to lớn và kỳ diệu về con người thì cũng là lúc bắt phải từ chối vẻ đẹp của con người, bởi vì những con người chân chính như vậy không có được. Cuộc đời đã thủ tiêu họ, bắt họ thôi không còn là họ nữa. Cái chướng ngại do chủ nghĩa cá nhân ích kỷ cực đoan của giai cấp tư sản mới sinh ra đó đã làm sụp đổ hoàn toàn niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan của chủ nghĩa nhân văn và đang đầy nó vào con đường khủng hoảng.
Giữa buổi giao thời lịch sử này, Hamlet của Shakespeare ra đời nêu lên hình ảnh một con người mới, con người băn khoăn đau đớn trước những đổ vỡ của những giá trị tạo thành ý nghĩa cuộc sống, luôn luôn muốn nhận thức và đánh giá lại mọi vấn đề xã hội, cố gắng đi tìm một thái độ và một hành động đứng đắn trong cuộc đấu tranh cho một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn. Điều mà Hamlet luôn luôn suy nghĩ là làm thế nào để có thể hành động như một con người, (tiếng con người ở thời đại Phục hưng tự nó đã chứa đầy đủ ý nghĩa chân chính của nó) một con người như Hamlet đã từng quan niệm về cha mình: “Phụ thân tôi đúng là một con người, về mọi phương diện” (“Hamlet”, I, 2). Chàng từ chối tiếng: “Điện hạ”, mà yêu mến tiếng “bạn” hơn trong việc xưng hô với bạn chàng. Khi Horatio nói: “Thưa Điện hạ, chính đây là kẻ bề tôi lúc nào cũng trung thành cùng Điện hạ”, thì chàng trả lời ngay: “Bạn hiền chứ, tôi xin cùng bạn đổi trao cái danh hiệu ấy đấy” (“Hamlet”, I, 2). Cho đến trước khi chết, Hamlet còn giành lại cốc rượu độc mà Horatio định uống để cùng chết theo chàng: “Nếu bạn là một con người, xin hãy đưa cho tôi cốc rượu” (“Hamlet”, V, 2).
Và lẽ ra, theo thường tình như trong bất cứ một vở kịch lịch sử nào, mối quan tâm lớn nhất của một vị hoàng tử mà vua cha bị sát hại là nghĩa vụ trả thù cho cha và quyền hạn của mình đối với ngôi vua, thì ở đây, ta lại thấy không phải như vậy. Hamlet ít khi nghĩ đến trách nhiệm trả thù cho cha (dĩ nhiên chàng có nghĩ đến trong phạm vi một người con có cha bị sát hại, chứ không đứng ở cương vị một hoàng tử để trả thù), mà lại băn khoăn day dứt vì một sứ mệnh lớn lao, cao cả hơn nhiều: đó là nhiệm vụ thủ tiêu mọi điều ác trong xã hội và “dựng xây lại thời đại trật khớp” này. Mặt khác, ta thấy hầu như chàng không nghĩ đến ngai vàng, bởi vì suốt vở kịch có một lần người ta nhắc đến ngai vàng thì chàng làm ra vẻ có quan tâm đến nó, nhưng thực ra đó chỉ là một cách che đậy tư tưởng thật của mình, không cho những tên bạn - thám tử của chàng dò la ra niềm uẩn khúc; còn một lần cuối cùng khi sắp tắt thở chàng có lời trối trăng trao ngôi báu lại cho Fortinbras, thì đó hoàn toàn không có nghĩa là tham vọng cá nhân.
Đối với Hamlet, con người và cuộc đời lẽ ra phải kỳ diệu, phải tốt đẹp, phải được tự do và hạnh phúc, nhưng ngược lại, tội ác, sự xảo trá và sự bất công lại lên ngôi thống trị toàn xã hội. Cuộc đời trở thành “biển khổ đau”, ở đó chứa chất “những roi vọt và nhạo báng”, những “sự bất công của kẻ áp bức, sự khinh khi của kẻ kiêu căng, những nỗ dày vò của tình yêu tuyệt vọng, sự trì trệ của công pháp, sự bạo ngược của cường quyền, sự đả kích của kẻ bất tài đối với đức tài nhẫn nhục” (“Hamlet”, III, 1). Những giá trị đạo đức và luân lý mà chàng tôn trọng giờ đây đã hoàn toàn đổ vỡ, bởi vì “trong cái thời đại xấu xa, phè phỡn này, chính đức hạnh lại phải cúi mình xin lỗi tội ác, phải khom lưng, uốn gối cầu xin để được mang lại điều hay cho nó: (“Hamlet”, III, 4). Và nhìn rộng ra trong xã hội, chàng đã chua chát mà thốt lên rằng: “Phải hàng vạn người mới nhặt ra được một người lương thiện” (“Hamlet”, II, 2).
Hamlet đã phát hiện ra rằng lại có một loại người khác hẳn với con người mà chàng đã từng quan niệm. Chàng đau đớn vì sự bội bạc của mẹ chàng, chàng kinh sợ về cái bản chất độc ác của chú chàng, một người có tâm địa đen tối xấu xa, giờ đây lại đang thống trị xã hội. Chàng ghê sợ sự phản bội trong tình bạn của Rosencrantz và Guildenstern, và không thể đặt lòng tin vào Ophelia, người mà chàng yêu dấu, bởi vì nàng đã biến thành con rối trong những âm mưu bỉ ổi của tên vua.Trong con mắt của chàng, mọi thứ tình cảm, mọi mối quan hệ đều tan vỡ. “Thật là một thời đại trật khớp” (“Hamlet”, I, 5).
Triều đình Đan Mạch cùng với những quy tắc của chế độ chuyên chế mới được biểu lộ qua ý niệm “Nhà vua - Mặt trời”, qua sự bợ đỡ, nịnh hót, xun xoe của lũ thị thần Polonius, Osric, Rosencrantz, Guildenstern, thù địch sâu sắc với chàng. Chàng cảm thấy ngột ngạt khi phải sống giữa bộ máy khổng lồ của nhà nước chuyên chế Đan Mạch và chàng không thể nào công nhận sự tồn tại của cái ý niệm nhà nước là tất cả này bởi vì chàng chưa biết đến sự hạn chế của chế độ chuyên chế, chưa nhận thức được “khái niệm công dân” của thế kỷ XVII phân biệt phạm trù quốc gia và xã hội với phạm trù đời sống riêng tư và nghĩa vụ đối với nhà nước chuyên chế. Đúng như Arnold Kettle - nhà nghiên cứu Anh - đã nói: “Cái mang lại tính chất cách mạng cho thế giới quan của Hamlet, đó là chàng xem sự độc tài, sự giết chóc, và sự vô nhân đạo không phải như những sự lạm dụng đáng tiếc, mà như là đặc trưng cơ bản của cung đình Đan Mạch, - không phải như những vết nhơ trong một xã hội mà chàng có thể chấp nhận được, mà như một bộ phận được tạo thành không thể tách rời được của một lối sống giờ đây chàng xét rằng không thể nào tha thứ được nữa” (4).
Những biến cố trong gia đình Hamlet cùng với những sự việc xẩy ra xung quanh làm đảo lộn những ý nghĩ thông thường của chàng về cuộc sống. Một câu hỏi lớn đặt ra trong óc chàng là vì sao cái tốt đẹp lại bị hủy diệt mà cái xấu xa, độc ác lại tồn tại? Hamlet hỏi mẹ chàng: “Quỷ ác nào đã bịt mắt đánh lừa bà?” (“Hamlet”, III, 4). Chàng có thể phát hiện ra nhưng chàng không thể nào hiểu nổi cái “nguyên lý ác quỷ” đó trong con người. Và chính điều đó đã gây nên niềm đau đớn sâu sắc và nỗi thất vọng lớn lao cho chàng. Nếu như Marcellus, người võ quan canh gác cho sự an ninh của cái quốc gia này, sau khi thấy hồn ma hiện về đã phát biểu: “ Có cái gì thối nát trong đất nước Đan Mạch này” (“Hamlet”, I, 4), thì rồi đây, cái điều nhận xét bằng cảm tính về thực trạng xã hội đó sẽ quán xuyến trong suốt toàn bộ vở kịch. Những gì Hamlet phát hiện ra về thế giới quanh chàng là thực, chứ không phải là ảo giác hoặc sự ngờ vực, càng không phải là sự phản ảnh của một trạng thái tâm hồn bệnh hoạn. Ngay từ hồi đầu vở kịch, khi nhà vua và hoàng hậu thuyết phục chàng nên xem cái chết của cha chàng là “luật chung của tạo hóa” và cần “vứt bỏ màu sắc ảm đạm kia đi”, đừng để “những áng mây buồn vấn vương trên vầng trán” thì chàng trả lời: “Đúng thế, tâu Lệnh bà, đó là luật chung”, nhưng khi hoàng hậu xem như Hamlet cố làm cho khác thường, nói: “Đã thế, sao con vẫn coi hình như là chuyện lạ lùng?”, thì con người có “con mắt tâm linh” và “tâm hồn tiên tri” đó, bằng kinh nghiệm sống của mình, trong hình thức chơi chữ, đã nắm bắt ngay cái ý đó ném trả lại mẹ: “Hình như” ư, tâu Lệnh bà? không, “thực” chứ, con nào có biết chuyện “hình như”! Mẹ hiền ơi, chẳng phải có tấm áo khoác ngoài đen như mực này, bộ tang phục trọng thể con mặc theo tục lệ này, cũng chẳng phải tiếng thở dài não nuột, nhọc nhằn, không, chẳng phải những dòng suối lệ tràn đầy, chẳng phải bộ mặt sầu bi, cũng như những hình thức, những kiểu cách, những bề ngoài thảm thương kia, tất cả đều chẳng nói lên được tâm trạng thực của con. Những điều đó, quả thật là chuyện “hình như” vì người ta rất có thể đóng kịch ra như thế. Nhưng còn những điều chứa chất trong đáy lòng con đây, biểu lộ ra ngoài sao được. Những biểu hiện ấy toàn là những tấm áo ngụy trang của niềm đau thương mà thôi (“Hamlet” I, 2).
Sự trái ngược giữa “hình như” và “thực” (“seems” và “is”) là điều Hamlet đã nhận thức được qua kinh nghiệm bản thân và đó chính là vấn đề cách sống như thế nào cho xứng đáng với giá trị con người. Có lưu ý đầy đủ những vấn đề mà Hamlet nêu ra ở đây, mới thấy hết cái ý nghĩa sâu sắc của đoạn độc thoại “Sống hay không sống” sau này.
Trên cùng một dòng suy nghĩ về sự trái ngược giữa bề ngoài và thực sự bên trong, Hamlet đã thốt ra những lời đắng cay chua chát: “Một thằng đểu có thể tươi cười, tươi cười thơn thớt, nhưng vẫn cứ là thằng đểu. Ít nhất, đó cũng là điều chắc chắn đã xảy ra trên đất nước Đan Mạch này” và “Trên khắp đất nước Đan Mạch không bao giờ có thằng đểu nào mà lại không là môt đồ bịp bợm trắng trợn” (“Hamlet” I, 5). Thế nhưng, những điều đó, chàng lại không thể nào biểu lộ ra bên ngoài được, cho nên chàng đã tự nói với mình trong một niềm khổ đau đến tuyệt vọng: “Ôi! Ước gì thịt da rắn chắc, quá rắn chắc này chảy ra, tan đi, biến thành một giọt xương! Mong sao đấng bất diệt kia đừng trừng phạt kẻ tự hủy hoại mình. Ôi! Trời hỡi trời! Bao nhiêu sự việc trên đời này đối với ta sao mà ngao ngán, chán chường, nhạt nhẽo và vô vị đến thế...” (“Hamlet”, I, 2)
Trong ý nghĩ của Hamlet, sự bội bạc của mẹ chàng, cùng với sự sa đọa trụy lạc của tên chú mà chàng đã từng ví với lũ xa-tia, nhất định là sẽ “không tốt đâu, trước sau chẳng thể nào tốt được!” Nhưng chàng sẽ phải có thái độ và hành động ra sao đây! Thật là một điều khó xử, vì vậy, chàng đã thốt lên: “Nhưng tim ta ơi! Hãy nổ tung ra đi, vì ta buộc lòng phải câm miệng” (“Hamlet”, I, 2).
Mặc dầu qua màn độc thoại “Sống hay không sống” ở đầu hồi III, Hamlet đã tin rằng thái độ “cao quý” ở đời là phải “vùng lên cầm vũ khí chống lại biển khổ đau mà tiêu diệt chúng”, đã thấy là cần phải hành động, nhưng mối băn khoăn dằn vặt lớn nhất của chàng là phải có thái độ và hành động như thế nào cho thích hợp với thực tế đang diễn ra trước mắt chàng bấy giờ.
Chúng ta biết rằng màn kịch trong kịch ở hồi III đã cho phép Hamlet khẳng định tội ác của Claudius và thực sự nhận mặt kẻ thù. Tuy vậy, cho đến giữa hồi IV, mặc dù “có đủ lý do, đủ chí khí, đủ sức mạnh, đủ phương tiện”, Hamlet vẫn do dự, chần chừ, chưa giết tên vua: “Sao mà mọi việc đều nhằm chống lại ta, thúc giục chí phục thù đã nhụt trong ta!...”. Chàng phải đem cái gương Fortinbrat ra để tự khích lệ mình: “Thật sự vĩ đại thì không hành động khi không có lý do vĩ đại, nhưng khi danh dự bị xúc phạm thì chỉ cần một việc như cái rơm, cái rác cũng ra tay”. Cho nên “Từ giờ phút này ý nghĩ ta phải đẫm máu, nếu không sẽ chẳng có giá trị gì” (“Hamlet”, IV, 4).
Cần thấy rằng không phải là Hamlet không có khả năng hành động. Shakespeare đã nhiều lần chỉ cho ta thấy Hamlet đã từng hành động dũng cảm như thế nào? Chàng đã đi theo hồn ma trong đêm khuya rùng rợn, đã giả điên một cách nguy hiểm trước những kẻ luôn luôn rình mò, theo dõi mình, đã dựng cảnh trong kịch để dò xét tên vua, đã cắt đứt mối tình với người chàng yêu thắm thiết, đã dùng giọng lưỡi cay độc để thức tỉnh mẹ, đã giết tên cận thần gian ác và xảo trá nghe trộm, đã xông xáo khi gặp cướp biển và thay chiếu chỉ cũng là đổi cái chết của mình cho hai tên tay sai độc ác, bất lương.
Thế nhưng, rõ ràng Hamlet có do dự trong việc giết nhà vua. Phải chăng chàng cho rằng làm việc đó là phạm một trọng tội? Thật ra, chưa bao giờ Hamlet nghĩ như vậy. Nhất là sau chuyến đi Anh về, sau bao nhiêu suy nghĩ, dằn vặt, khổ đau, tuyệt vọng. Hamlet thấy rõ sự cần thiết phải hành động. Chàng trở về Đan Mạch trong tư thế hiên ngang: “Ta đây, Hamlet của Đan Mạch đây” (“Hamlet”, V, 1) với mục đích “dùng cánh tay này để trả nợ máu” (“Hamlet”, V, 2), vậy mà, rồi chàng lại tiếp tục chần chừ, trì hoãn trong một niềm tin thụ động: “Thời gian trong tay tôi. Đời một con người không kéo dài hơn cả tiếng đếm một” (“Hamlet”, V, 2).
Nếu như ở trên ta thấy cái băn khoăn lớn nhất của Hamlet không phải là việc trả thù cho cha mà là cái ý nghĩ “dựng xây lại triều đại trật khớp này” thì ở đây ta có thể hiểu vì sao chàng lại chậm trễ trong việc giết Claudius. Chàng không nghi ngờ gì về việc chàng phải làm vì chàng đã nhận rõ kẻ gây ra không những niềm đau buồn riêng tư của chàng mà cả cái tình trạng mục ruỗng trong đất nước Đan Mạch này là tên tiếm ngôi Claudius tàn ác, bỉ ổi và trụy lạc. Nhưng chàng hiểu rằng tất cả những cái xấu xa trong xã hội không thể gột sạch được, trật tự xã hội hiện tại không thể thay đổi được vì cái chết của một người, dầu người đó là tên vua Đan Mạch. Bởi vì, Hamlet không thể biết được sau khi giết tên vua rồi thì làm gì nữa? Làm thế nào cho con người được tự do? Làm thế nào để tạo nên sự hài hòa trong xã hội? Hamlet đã tuyệt vọng đối với cuộc đời. “Chàng nghi ngờ lý tưởng về con người như là một kẻ tự do sáng tạo ra vận mệnh của bản thân mình” (5). Chàng cảm thấy rằng chỉ giết tên vua là không đủ, tức là “thực hiện cái tối thiểu trong những hình thức trả thù”, và “chàng lâm vào một hoàn cảnh mà trong đó chàng gần như không thể nào giải quyết được một cách thỏa mãn bằng hành động” (6).
Chính điều này giải thích vì sao Hamlet lại đau buồn sâu sắc đến nỗi muốn tự hủy diệt trước khi biết rõ vụ ám sát kinh tởm vua cha, cũng như vì sao chàng do dự, băn khoăn, trì hoãn việc trả thù, không hành động.
Shakespeare miêu tả Hamlet như một người anh hùng bởi tầm tư tưởng lớn lao và động cơ hành động cao thượng của chàng. Cái mà Hamlet chiến đấu chống lại không phải chỉ là một vấn đề nhằm trong khuôn khổ quan hệ cá nhân, mà là một vấn đề của cả một xã hội, một thời đại. Nhưng chàng đã chiến đấu trong một sự bất lực vì những điều mà chàng phát hiện ra và nhận thức được trong xã hội lúc bấy giờ chưa thể nào giải quyết triệt để được. Vả chăng, một người như Hamlet thấy được những mâu thuẫn trong một xã hội có giai cấp, liệu có thể làm gì hơn được khi ở đầu thế kỷ XVII này lịch sử chưa tạo ra những tiền đề thực tế cho một cuộc cách mạng xã hội như 50 năm sau (50 năm sau khi “Hamlet” của Shakespeare ra đời, đầu vua Charles I bị chém rơi trước điện White Hall). Sự bế tắc đó đã tạo nên tình trạng chần chừ không hành động trong nhân vật Hamlet và dẫn đến cái không khí ít nhiều có màu sắc định mệnh ở cuối vở kịch, cũng như hành động giết tên vua Claudius không phải xuất phát từ một ý thức tự chủ hoàn toàn mà lại do một cơn xúc động và phẫn nộ đột ngột.
Như vậy là từ trong cái đề tài chủ yếu bao trùm lên văn học nghệ thuật thời đại Phục hưng - đề tài miêu tả con người trong bản chất chân chính của nó - Shakespeare đã sáng tạo nên đề tài của bi kịch “Hamlet” bộc lộ sự khủng hoảng của chủ nghĩa nhân văn ở hậu kỳ Phục hưng trong vấn đề xác định một thái độ sống rõ ràng, một hành động tự do và có hiệu lực của con người trước thực tế xã hội đương thời. Đề tài “Hamlet” của Shakespeare tuy chưa xuất hiện một cách trực tiếp như một đề tài xã hội lịch sử - bởi vì chính trong đó Shakespeare đã dựng lên bi kịch của tình cảm con người - nhưng chúng ta thấy sự quan tâm sâu sắc của nhà nghệ sĩ đến những xung đột vật chất, đến những vấn đề thuộc đời sống và xã hội của thế kỷ này.
Bi kịch “Hamlet” mở đầu cho hàng loạt bi kịch khác của Shakespeare, miêu tả sự đổ vỡ của ý thức và lương tâm con người trong giai đoạn cuối cùng của giấc mơ Phục hưng và những hy vọng của nhân dân.
Shakespeare miêu tả sự thật của thời đại ông, nhưng vì tầm vóc bi kịch của Shakespeare tương ứng với những nguyên nhân có tầm vóc lịch sử toàn thế giới cho nên nó đã trở thành sự thật của mọi xã hội có áp bức và bất công. Và chính nhờ sức mạnh đó của chủ nghĩa hiện thực mà Shakespeare đã có thể thay đổi những đề tài cũ của Grammaticus, của Belleforest, của Kyd... thành một đề tài hoàn toàn mới mẻ như ta đã thấy. Về vấn đề này, Arnold Kettle có viết: “Chính cái khuynh hướng phê phán có tính chất cách mạng sâu sắc và mạnh mẽ, đầy tinh thần quyết liệt và bất phục tùng đó [ý nói chủ nghĩa hiện thực của Shakespeare trong “Hamlet” luôn luôn kèm theo một khuynh hướng phê phán không thương tiếc - N.H.T] khiến cho Shakespeare có khả năng thay đổi một cách cơ bản những nguồn gốc của câu chuyện “Hamlet” (7).
Xuất phát từ khả năng của con người tự do được lý tưởng hóa trong tinh thần Phục hưng, liên hệ với sự khủng hoảng của chủ nghĩa nhân văn ở giai đoạn cuối cùng của nó, đề tài “Hamlet” nêu lên rõ ràng hơn tất cả những bi kịch khác của Shakespeare vấn đề ý nghĩa của hành động tự do, một vấn đề trọng đại của con người trong bước ngoặt lịch sử này. Đề tài đó thể hiện rõ rệt tính chất đặc thù của đề tài hiện thực chủ nghĩa của Shakespeare. Do ý nghĩa mở đầu của nó, bi kịch “Hamlet” chiếm một vị trí trung tâm trong sáng tác của Shakespeare cũng như trong toàn bộ nghệ thuật của giai đoạn hậu kỳ Phục hưng.
Nguyễn Hoàng Tuyên
Trần Thị Thanh Liêm đăng tin
Web: tiengtrungdainam.com
Chú thích: (1) Longworth Chambrun: “Shakespeare retrouvé”. Librairie Larousse, Paris, 1947, tr.40 và 293. (2) Sách đã dẫn, tr.287.(3) Sách đã dẫn, tr.37. (4) Arnold Kettle: “De Hamlet á Lear”, trong “Recherches internationales”, số 43, 1964, tr.63. (5) Pinsky: “Chủ nghĩa hiện thực thời Phục hưng”. Moscow, 1961 (tiếng Nga), tr.41. (6) Arnold Kettle. Sách đã dẫn, tr.71. (7) Arnold Kettle. Sách đã dẫn, tr.68.