|
|
Truyện dài KÝ ỨC TUỔI THƠ
KÝ ỨC TUỔI THƠ
Tác giả: Phạm Tú Uyên
PHẦN I
Tôi sinh ra ở một vùng quê Phú Yên. Làng Phú Thứ nằm dọc theo Con mương dẫn thủy của đập Đồng Cam, tưới khắp cánh đồng Tuy Hoà trù phú. Làng quê yên ả, hiền hoà ấy bị cày xới, sôi sục trong chiến tranh. Chẳng một mảnh vườn, một tấc đất nào không khét mùi thuốc súng. Tuồi thơ được trộn chung với đạn bom và xác người.
Cha tôi làm đủ thứ nghề, mặc dù nghề của ông là dạy học. Ban đêm đi dạy “học trò tổng hợp” - mỗi lớp vài người, dưới ánh đèn dầu đặc biệt được làm bằng chai thuốc đủ chủng loại có lò xo quấn bao lấy bấc đèn. Mỗi khi đang thắp mà nghe kẻng báo động có máy bay, chỉ cần vặn nắp đậy lại là xong. Dù bom vùi, dù đạn lấp miễn đừng có trái đạn nào trúng vào, nó chẳng bao giờ rơi một giọt dầu và, cũng đặc biệt như lớp học của ông: “Điểm danh mà vắng trò nào quá ba bận thì có nghĩa là người đó đã ra đi vĩnh viễn”
Ban ngày, ai cần hớt tóc - có ngay! Ai cần may quần áo - có ngay! Ai cần sửa cái nồi, thùng xách nước - có ngay! Người trong thời chiến tranh làm gì có nhất nghệ tinh! Có những cái chết mà trong làng chỉ có khóc chứ không kèn trống và khiêng ma! Và cũng có những cái chết mọi người chỉ đứng quanh cúi đầu chứ không khóc! Bởi lẽ một quả bom rơi thẳng xuống nhà hoặc một quả đại bác “ùng” ngay giữa mâm cơm! Tìm được gì đâu mà đem chôn, có còn ai đâu để mà khóc. Chị Hai tôi làm nghề may nhưng lại đi bán muối! Không ngồi may chuyên nghiệp được, trẻ con chúng tôi và cả người lớn nữa lấy vải dù pháo sáng, dù máy bay thả đồ ăn may áo quần!. May xong nhúng vào bùn vài lần cho đổi màu để dễ mặc và máy bay địch khỏi trông thấy. Mà vải dù bền vô kể, chỉ đứt đường chỉ chứ rất khó rách. Thế là nghề may được chuyển sang cho cha tôi. Dạo nọ tôi dược một chú bộ đội cho tấm vải dù trắng còn mới tinh, tôi săm se mãi, ướm vào người và nghĩ ra một cách, bèn đến bên cha:
- Ba ơi ! ba may cho con một cái áo mới đi. Một cái áo sơ mi có cổ cứng hẳn hoi đấy ba nhá, con để dành mặc tết!
- Ừ! Ba sẽ may. Con đem ra ao ngâm vào bùn mai đem phơi khô rồi ba may cho.
- Ba cứ may đi. Con ngâm sau cũng được.
Áo ba may xong đẹp lắm, trắng tinh, có cả cổ nữa. Mặc dù cổ mềm xèo nhưng vẫn đẹp vô cùng. Tôi chưa bao giờ sở hữu một cái áo nào đẹp như thế. Áo tôi (hầu hết bọn trẻ chúng tôi) đều loại áo không cổ và đặc biệt không có màu trắng!. Tôi tự hào về nó và tuyệt đối giữ bí mật không ngâm vào bùn.!
1. Một việt làm táo bạo
Anh ba Sơn có một tiệm sửa xe đạp. Gọi là tiệm cho oai chứ thực ra chỉ dăm cái săm lớp, vài cái vành đã cũ mèm, một khung xe sơn màu xám xịt và thùng đồ nghề lỉnh kỉnh những cờ-lê mỏ-lếch. Tiệm của anh nằm ngay chợ Phú Thứ. Má kể mấy năm trước tiệm buôn bán cũng đỡ lắm, nhưng từ khi chiến tranh về, làm ăn trở nên khó khăn. Vả lại anh Sơn năm ấy đã mười lăm tuổi, thích ngồi nghe những chú bộ đội kể chuyện hơn là sửa xe. Có lúc anh ngồi nhìn bộ đội đi ngang qua – nhìn say sưa, chẳng biết anh nghĩ gì. Nhưng chắc cũng giống như tôi nhìn say sưa chiếc xe đạp anh dựng ngoài hiên. Chiến tranh bắt đầu ác liệt anh vắng mặt ở tiệm nhiều hơn, có khi vài giờ, một buổi hoặc đôi khi cả ngày. Anh đi tôi trở thành cậu chủ nhỏ, tiệm của anh trở thành thế giới của tôi. Anh Hà là anh thứ tư, lúc đó mười hai tuổi, cùng tôi trông coi tiệm. Môt buổi tối, đúng hơn là vừa chạng vạng chưa kịp đỏ đèn, chị Hai đi bán muối trở về tóc tai rối bời, dép đằng dép chân đằng chân, tất ta tất tưởi, kéo theo sau chừng năm người có cả trẻ con:
- Má ơi! Thằng Sơn bị bọn lính bắn chết rồi...!
Mẹ tôi đang cho heo ăn hốt hoảng chạy lên:
- Con nói cái gì? Sao lại bắn chết nó hả trời, nó sửa xe đạp mà!
Mẹ tôi khóc bù lu bù loa. Tôi không khóc như mẹ nhưng nước mắt của tôi chảy dài nóng ran cả đôi má, tôi thương anh vô chừng, anh Sơn ơi!
- Con làm sao mà biết được, hồi xế thấy bọn lính trói dẫn đi, gặp con, nó ra hiệu con đừng có lại, nó bị trói vầy nè, con đi một đoạn tự nhiên nghe hai phát súng , sảng quá chạy lại thì đúng là nó bị bắn quăng xuống mương dẫn thủy mất xác rồi!
Vừa nói chị Hai vừa đưa hai tay bắt chéo trước bụng. Tôi chân tay bủn rủn, đứng thẩn thờ nhìn bộ đồ anh mắc trên vách, nhìn chiếc giường kê gần cửa ra vào mà hằng đêm tôi với anh ôm nhau ngủ. Giờ anh nằm đoạn mương nào hay còn đang trôi theo con nước… Suy nghĩ miên mang, mẹ sai anh Hà chạy tìm ba về. Ba chưa kịp về đã thấy anh Sơn quần áo dính bùn đất, đầu tóc rối bời, ướt mem lao vô nhà. Chưa nói gì anh đã cười toe toe:
- Làm gì tụi nó bắn con được!
Chị Hai tìm áo quần đưa anh Sơn, mẹ lấy khăn vo khô đầu và anh kể lại chuyện xãy ra trưa nay. Tôi, anh Hà ngồi há hốc mồm, đôi khi cười ré lên sung sướng, thích thú. Mẹ, chị Hai thì xít xoa, cứ lạy trời, lạy phật còn cha tôi trầm ngâm không nói gì. Tôi biết cha rất hài lòng vì ánh mắt ông nhìn anh kể, nhìn một cách triều mến. Quả thật anh Sơn của tôi rất cừ, trong mắt tôi anh là một anh hùng. Tôi ngưỡng mộ anh quá sức. Như tôi đã kể ở trên, thời gian sau này anh Sơn hay vắng mặt ở tiệm. Anh lân la theo các chú bộ đội (anh nghĩ phải làm được một việc gì đó để chứng tỏ mình là người đã lớn, can đảm) thế là hôm đó anh xuống Phú Lâm mua phụ tùng xe đạp. Trên đường về tới ga Gò Mầm, thấy lính Cọng hoà đi càn về đang ngồi nghỉ, đánh bài. Có tốp nằm ngủ dưới gốc cây. Anh men lại làm quen, tên lính ngồi gần gốc cây đang thiu thiu ngủ, anh lén lấy khẩu “cạc bin” nhét vô cái hầm ếch bé tẹo được moi sâu dưới gốc cây mà bọn trẻ con chúng tôi hay đào chơi trò đánh giặc giả và cũng để làm hầm tránh đạn, tránh máy bay. Bé bằng cái lỗ mũi, muốn vào phải nằm trường như con rắn mối! Nhét khẩu súng vô hầm xong anh giả bộ uể oải đứng dậy về. Không tên lính nào nghi ngờ, đi được một đoạn bọn chúng phát hiện mất súng nên rượt theo anh. Lẽ ra, rời khỏi chỗ bọn lính anh phải chạy nhanh hoặc trốn đâu đó (mà nếu làm điều này thì chắc khi bắt bọn chúng sẽ bắn anh ngay!). Anh cứ đi lơn tơn, vừa đi vừa xiết mía nên khi bọn chúng rượt tới cũng không thể nói anh lấy súng được. Bọn chúng bợp anh mấy bạt tai, đạp ngã nhào xuống vũng nước gần đó và trói lại. Chúng dẫn anh về quận.
Năm đó anh mười lăm tuổi, ốm nhom và đen nhẻm. Cao lêu đêu như một cây củi khô, giống như đứa giữ bò hơn là cậu chủ tiệm xe đạp. Tóc anh loăng quăn cháy vàng! Màu tóc của tuổi thơ bom đạn, của chiến tranh và cơ cực. Tôi thích nhất ở anh không phải mái tóc, tôi cũng có mái tóc như vậy. Bởi vì mỗi lần mẹ hôn lên đầu tôi người luôn bảo “tóc của thằng Hà em hôi giống mùi chó con của mẹ quá!” Khi đó tôi không thích thế. Tôi rất thích đôi mắt và cái miệng của anh, cái miệng khi nào như cũng muốn cười, kể cả những lần bị cha cho ăn roi mây!. Nếu không có những giọt nước mắt lăn trên má lúc khóc thì tôi cứ tưởng là...anh cười!. Có một bận tôi lén lấy chiếc xe đạp của anh tập đi. Tôi chỉ đi được một kiểu là để chân lên bàn đạp rồi lấy chân kia đẩy cho xe chạy! Và tôi đã cho xe chạy luôn xuống mương dẫn thủy! Bị anh la một trận tơi bời, nhưng lúc đó tôi vẫn thấy…miệng anh như cười! Tôi không sợ nhưng thương anh lắm. Và cũng nhờ chuyện anh lặn xuống mương (gọi là mương nhưng thật ra rất rộng. Ngày ấy tôi đã phải dùng hết sức mới bơi qua được bờ bên kia. Phải rộng hơn một thân tre và sâu thì bằng cả hai thằng tôi chắp lại). Lặn từ chỗ tôi quăng xe, đoạn cầu Phú Thứ đến ga Gò Mầm mất một buổi trời. Chiếc xe bị miếng chắn của ga cản lại và chính cái thùng thiếc rỗng cột sau “ba ga” đã lôi chiếc xe đi xa như vậy. Tại đây anh đã phát hiện ra một hầm bí mật bỏ hoang, sạc lở, hư hỏng khá nhiều, ăn thông qua đường cái dẫn đến một cửa nữa nằm phía dưới bụi tre, lề trên.
Khoảng hai giờ chiều hoặc hơn, bóng ngã đã hai sải chân, trời còn đang nắng chang chang, bọn lính đứa xô, đứa đạp lên người, thúc anh đi nhanh (có lẽ không tìm được súng và cũng không có cơ sở bảo rằng anh lấy nên bọn chúng trút bực bội lên anh) thỉnh thoảng anh lại bị đạp ngã nhào. Lề đường phía trên có nhiều bóng cây, phía dưới là con mương dẫn thuỷ. Gần đến ga Gò Mầm mùi hôi xông lên nồng nặc. Rác, xác súc vật chết, đủ thứ trên đời bị ga cản nên kết lại một mảng lớn. Còn hơn hai trăm mét chợt nhiên anh nhớ đến... cái hầm bí mật!. Anh mừng không tả nỗi, anh mừng phát run lên, và cũng lúc này anh gặp chị Hai, sợ rầy rà cho chị và nhất là sợ...qua khỏi ga! Làm trở ngại ý đồ của anh, may mà chị đi luôn, anh cố đi chậm để chị đi thật xa. Thấy anh đi chậm quá một tên lính xô mạnh vào lưng – anh chỉ đợi có giây này. Thực ra anh có thể nhảy ùm xuống mương, nhưng nếu vậy bọn lính sẽ bắn theo ngay và có thể sẽ bị trúng đạn. Anh chờ một cú đạp, cú đẩy vào người, anh sẽ ngã - cố ngã làm sao thật tự nhiên. Và rồi anh ngã thật, ngã thật...đẹp! rơi “tòm” xuống mương! Phía trên mặt nước là một dề rác rưởi dày cả tấc, anh chìm nghỉm không thấy tăm hơi. Tên lính xô anh rơi xuống nước hốt hoảng chưa biết phải làm sao thì mấy tên gần đó:
- Đ.m. cho nó chết luôn, vớt làm gì!
Lúc đó trên bờ không có người dân nào, chứ nếu có ai nhảy xuống cứu thì phiền to!. Một tên có vẻ là chỉ huy, chỉa súng xuống nước định bắn, ai đó nói:
- Không cần bắn nó cũng chết, ga nước chảy thế này mà bị trói cả hai tay nữa. Chắc chắn nó bị hút kẹt dính vô mấy lỗ của tấm thép chắn ga, chầu Hà Bá rồi.
Tên chỉ huy ngứa tay ấn vào cò súng “đoàng, đoàng”. Hai phát súng khô khốc chìm trong mênh mông biển lúa đang thì con gái. Bọn chúng lại tiếp tục lên đường, dững dưng như chưa hề có chuyện gì xãy ra. Còn về phần anh Sơn khi ngã “ùm” xuống mương, anh lặn một mạch đến hầm bí mật, chui ra khỏi bụi tre. Nương theo bờ ruộng. Những đám lúa sắp làm đòng che chở , bảo vệ anh thoát ra khỏi vùng nguy hiểm.
Từ đó, trong mắt bọn trẻ chúng tôi và cả người lớn nữa - anh không còn là thằng Sơn ốm nhom như que củi! Đi đứng ra vẻ người lớn lắm! Cây súng lấy được anh đem nộp cho mấy anh xã đội. Với công trạng này, anh bị mấy chú trên huyện phê bình cho một trận vì tội liều lĩnh, nguy hiểm nhưng sau đó về được tuyên dương trước toàn đội thiếu niên xã. Tôi sung sướng và tự hào cứ như công trạng đó là của tôi vậy.
Tiệm sửa xe được giao lại cho cha. Vậy là ông kiêm luôn thợ sửa xe, anh Hà giúp việc, còn tôi vẫn chạy long nhong. Anh Sơn được mấy bác ở trên huyện giao công tác liên lạc, oai không chê vào đâu được. Anh nói khi nào đủ mười bảy tuổi, các bác sẽ giao súng và anh dặn cả nhà nếu ai hỏi thì bảo là anh đã mười sáu!
2.Cây da làng
Trong nhà, anh Hà là người giống tính cha - trầm tỉnh, ít nói. Anh hơn tôi năm tuổi, dáng người thấp nên chỉ nhỉnh hơn tôi chút xíu, ấy thế mà tôi lại sợ anh nhất nhà. Anh cũng chưa bao giờ đánh tôi, cứ thấy miệng anh mím lại không hiểu sao tôi lại chẳng dám ho he. Có một điều lạ, là anh luôn biết tôi thích gì và, với tôi, anh là người tôi vừa thích vừa sợ.
Năm đó, tôi học lớp năm (lớp một bây giờ). Những năm đầu của chiến tranh, làng quê còn yên ả, lâu lâu có một chiếc máy bay Bà già (L19) bay ro ro tít trên cao. Bé tí như dấu phẩy trên bầu trời. Cỡ nó tôi dùng ná thun bắn cũng rớt! Trong lưng quần tôi luôn lận sẵn một bọc sạn giàng ná thun quàng trên cổ, không chỉ để bắn chim đâu, để...bắn ma và bắn máy bay nữa đấy! Lớp năm của tôi đứa nào cũng vậy cả, ngoài giờ học là đi đánh giặc giả.Thấy máy bay...cũng bắn! Gặp ma cũng bắn! Ma ở đây nhiều vô cùng, bờ dứa, bụi tre cũng có ma, mương nước, giếng lạng (giếng bỏ hoang) cũng có ma. Mà đặc biệt, gần nhà và trường của tôi - nghĩa là mỗi ngày đi học tôi đều phải đi qua một nơi mà ai nghe cũng rùng mình - “cây da”! Từ cầu dưới Phú Thứ đến cầu trên cây da nằm quãng giữa, Từ đường cái dọc mương dẫn thuỷ đến đường liên thôn bên trên, cây da cũng nằm...ở giữa!. Nói chung, nếu “con ma cây da” xuất hiện thì chỉ cần”phoóc” một cái là...đứng sát chúng tôi ngay nên chúng tôi trang bị ná thun để... phòng thân!
Nhà tôi có một đám ruộng sào rưỡi nằm gần cây da, do phải thường xuyên đào chuột, đuổi chim phá lúa cùng với cha tôi và anh Hà nên...”con ma cây da” có vẻ cũng thân thiện với tôi hơn! Và điều này làm bọn trẻ con cùng lứa phục tôi sát đất. Rất nhiều lần tôi cam đoan với bọn chúng rằng “con ma cây da” đồng ý để bọn chúng đến...sờ vào thân cây!
- Thật đấy, mình đã từng...leo lên cây mấy lần!
- Bạn có bắn trúng con ma nào không?
- Mà nó không có bàn chân chớ gì!
Tôi giải thích :
- Ma quen chớ có bắn! Mình chỉ niệm nam mô a di đà Phật “họ” sẽ không làm gì đâu. Mẹ bày thế, y chang!
Dù có nói cỡ nào, dù cam đoan ra sao bọn chúng cũng chỉ lao nhao lấm lét đưa mắt nhìn cây da.
- Eo ui! Chưa tới cây da, đi ngang qua giếng lạng đã rùng mình. Có lần mẹ mình nhìn xuống giếng thấy có một con ma...xanh lè! Đang nhe răng trắng ỡn cười...với mẹ!
Con Vân là đứa nhát gan nhất trong bọn. Vừa nói nó vừa len vào đứng giữa nhóm. Thằng Ngọng lên tiếng:
- Uị...ụi...ụi mình quề...quề nhà i...! Ao...ao ợ dắm.
Thằng Ngọng nói chưa dứt, chợt từ rất xa có tiếng gì kêu ro ro, nó vển tai, hốt hoảng:
- B..à...b...à bà bà g..i...à !
Không ai bảo ai cả bọn chúng tôi cùng chạy thật nhanh tìm chỗ núp. Cái con bà già này mắt như mắt cú vọ, các chú bảo thế, nó không biết bắn nhưng biết kêu canh nông thả “ùng”xuống nhà mình! Bọn tôi núp dưới gốc cây thật kín đáo, không còn lo nữa. Đứa nào cũng sẵn sàng ná thun trong tay, đạn đã...lên nòng! Chỉ còn kéo căng dây thun...bụp! Là máy bay rơi các...”đồng chí” ạ!
Dường như nó sợ hay sao mà bay thật cao rồi tự nhiên đổi sang hướng khác, xa tít tắp mất hút vào trong mây. Bọn tôi thở phào, quàng ná thun vào cổ. Tôi đứng sát nhỏ Vân, mặt nhỏ bổng tái méc ú ớ như bị trúng gió, tay chân quơ quơ, lào khào:
- M...ì...n...h... Ơ...ơ…!
Bọn tôi hốt hoảng chưa biết phải làm sao thì “thằng Phú con
thầy Tàu” giọng lơ lớ:
- Chời ơi! Ma cây-zzzzaaaa !
Vừa nói nó vừa đưa bàn tay run rẩy chỉ lên cây da. Hoá ra vì lo chạy núp máy bay mà bọn tôi không để ý, ma xui quỉ khiến thế nào lại chui vào núp dưới cây da! (thật ra, tôi cũng sợ lắm nhưng như kể ở trên, tôi vẫn thường đuổi chim ăn lúa ở đây cùng cha hoặc anh Hà nên hơi quen, vả lại ở đây đang đông người và, hơn thế, tôi không muốn...mất mặt với nhỏ Vân! Tôi không muốn Vân...cười tôi!)
- Làm gì mà các cậu cuốn lên thế. “Ma cây da”...quen mình...! mình ở đây hoài mà, có sao đâu.
Tôi cầm tay nhỏ Vân cho nó bớt sợ (tôi nghĩ thế). Định nói thêm gì đó với các bạn và Vân thì anh Hà từ xa phía bên, đường trong làng đi tới. Nghe bọn tôi kể chuyện vừa rồi, anh cười:
- Tụi bây sợ gì! Anh với thằng Hà em ở đây hoài, buổi trưa nóng không muốn tắm mương lại múc nước giếng lạng tắm nữa là.
Tôi dựa hơi anh:
- Có bữa làm rớt gàu em còn khiều lên nữa anh hè!.
Tôi chạy lại dưới gốc da.
- Các bạn tới đây chơi đi!
Không hiểu sao, khi đó tôi hăng như một chú gà choai. Bám vào rễ da to bằng bắp chân lòng thòng xuống đất, leo thoăn thoắt lên cháng ba. Bọn bạn có vẻ bớt sợ khi anh Hà xuất hiện. Lúc thấy tôi ngồi vắt vẻo trên cháng ba cây da bọn chúng mới men lại gần. Máu nóng trong người tôi chạy rần rần, tôi nhìn xuống Vân:
- Leo lên đây chơi các bạn ơi!
Chưa dứt lời thì có tiếng mẹ Phú kêu về, Phú chạy tới chỗ mẹ, các bạn chạy theo. Tôi hốt hoảng mặt mày tái méc, luống cuống không biết đường nào xuống. nhìn lên tán cây đen sì những hình thù quái gỡ, tôi đâm chột dạ
- Bạn xuống đi, từ từ coi chừng té
Tôi hoàn hồn nhìn xuống, Vân vẫn còn đứng bên dưới
Anh Hà ngồi trên bờ đám ruộng, nhe răng:
- Còn chờ gì mà không xuống hở ông tướng!
3. Trò chơi
Thằng Phú bằng tuổi tôi, nhưng nó trắng trẻo phốp pháp, lại cao nên nỗi bật lên trong nhóm bạn đen cháy và còm nhom! Nhà nó giàu nhất làng. Cha nó là “Thầy Tàu” chính gốc. Anh Hà bảo “ ông Thầy Tàu giống y chang Tôn Sĩ Nghị”. Anh đưa cả hình Tôn Sĩ Nghị ở trong sách truyện tranh lịch sử cho tôi xem nữa, giống thật!
- Tôn Sĩ Nghị là giặc Tàu, còn cha thằng Phú là ông Thầy Tàu bán muối với lại nước mắm mà sao hai người giống nhau ghê anh hén, trong làng này đâu ai giống thế!
Anh Hà giảng giải một hồi nhưng tôi chả hiểu gì, chỉ láng máng một điều rằng ông ta ở xa tít tắp tận đâu đâu.
Trước đây trong nhóm bạn không có Phú, mà bọn tôi cũng chẳng thích chơi với nó. Con trai gì mà y cục bột! Quần áo tươm tất, đi đứng như...con gái! Nhưng đổi lại, tính Phú hiền lành, nhút nhác và, đặc biệt vườn nhà Phú rất rộng, trồng nhiều cây ăn trái. Cứ mổi tháng đôi lần, cha Phú xuống thị xã Tuy Hoà chở hàng, nguyên hai xe lam đầy ắp muối và nước mắm. Cứ mỗi lần thế là bọn trẻ chúng tôi lại kéo đủ bộ đến nhà Phú, trèo tót lên cây. Nào xoài, ổi, mận. Đứa nào đứa nấy ăn cành hông, tuơ cả miệng, ních thêm mỗi đứa gáo nước trong ảng, bụng phành lặc lè, kéo cả lũ ra đường cái quan, đu xe ngựa xuống ga Gò Mầm chơi trò đánh giặc giả với bọn xóm dưới. Bọn chúng tôi dân xóm trên nên tụi Gò Mầm gọi là “Việt Cọng” còn chúng xưng là “Quốc Gia”, nhưng chúng đích thị là bọn Nguỵ! Gọi thế bởi nhiều lẽ - qua khỏi ga Gò Mầm có một cái đồn lính Cọng Hoà, sáng bọn chúng đóng quân tại đây chuyên soát đàn bà con gái đi chợ qua lại. chẳng biết là soát cái gì, chỉ thỉnh thoảng nghe bọn chúng cười tô hố, còn các mẹ các chị thì chạy tán loạn.
Trong khi chờ tụi "Gò Mầm" tới để chia phe đánh giặc giả. Bọn chúng tôi cùng túa xuống đám ruộng vừa mới gặt xong. Mùi rạ mới thơm nồng. Những gốc rạ chỉa lên tua tủa, cọng nào cọng nấy to bằng ngón tay út, láng cháng đâm lủng chân như chơi. Cào cào châu chấu bay loạn xạ, những chú sâu róm mập cui, mủm mỉm, đen mềm như nhung, đu trên ngọn lúa gặt sót, cung vòng. Lúa được mùa nên bông nào bông nấy vàng óng, hạt nằm sắp lớp đều tăm tắp trông mê tơi. Tôi đưa mắt quanh đám ruộng, những bông lúa rơi lại nhiều ghê! Chỉ cần nhặt mấy đám quanh đây cũng đã non phần giạ lúa. Có lẽ cùng nghĩ như tôi nên thằng Ngọng cúi xuống lượm ngay hai bông to bằng cái liềm gặt, mặt hí hững. Tôi nói mà không như lòng mình đang nghĩ:
- Không thèm lượm! Ta đi "đánh giặc" không thèm lượm lúa...của nó!
Ngọng chưng hửng, Phú "thầy Tàu" nhanh nhẩu:
- Mình pắc cào cào, châu chấu thôi, pắc cho chim ăn!
Đức "lì" lên tiếng:
- Đen về tối rang ăn!
Khi Đức "lì" vừa nói xong, cả bọn như chùng tay. Ngọng nhìn mấy bông lúa trên tay tiếc rẻ, quăn xuống trước mặt, đám cào cào được dịp bay tứ tán. Cào cào, châu chấu là những món "nhấm nháp" khoái khẩu của bọn tôi, nhất là những khi mùa gặt về. Thường là khi xong một "trận" giặc giả, hoặc đem cơm, xách nước ra đồng cho ba mẹ. Trên đường về, với một bao nilông trên tay vừa đi vừa bắt, về tới nhà cũng bộn cào cào nhảy rào rạo trong bao. Lấy một cọng tre xiên qua từng chú, huơ huơ trên ngọn lửa tan tành những áo xanh áo đỏ. Vác "chiến lợi phẩm" ra đường uơ uơ vài tiếng là cả bọn tập trung. Không hẹn nhau nhưng hầu như đứa nào cũng một xâu cào cào trên tay! Quơ đâu đó một nắm rơm với dăm cục phân bò khô, thế là ngồi xây quanh đống lửa nhấm nháp. Cào cào được nướng đều trên lửa rơm, vàng sém, thơm phức. Bỏ vào miêng...bụp một cái dòn tan, béo ngậy lại ngọt bùi, thơm lựng.
Tất nhiên lượm lúa thì tốt hơn rồi. Nhưng khi nghe tôi nói có lý nên tụi bạn...đành quăng đi. Từ đầu mùa gặt đến giờ, bọn tôi kiếm được cũng bộn lúa. Mẹ tôi giữ để khi nào đủ thì may cho...Đức "lì" một cái áo, mua mấy tập vở. Với lại cho nó...làm vốn sau này! Thực ra, Đức "lì" hồi đầu năm nó chỉ là Đức không thôi. Chỉ tội ít nói, còn tính nó hiền như củ khoai. Dạo đầu năm, nó đi học,cha mẹ đi làm đồng, bồng theo đứa em kề nó, lên ba tuổi vì để ở nhà không ai trông. Gặp buổi giặc đi càn, cha mẹ nó sợ quá bồng luôn đứa em chui vô hầm "ếch" đào để tránh máy bay núp. Xe tăng giặc chạy băng qua ruộng, chạy băng qua chổ hầm cha mẹ và đứa em đang núp. Thế là chẳng người nào còn sống, và cũng không ai biết cả. Chỉ thấy tối không về. Tưởng là bị giặc bắt đi xuống quận. Mọi người xuống quận dò hỏi khắp nơi nhưng không ai biết. Năm ngày sau, những người làm đồng gần ruộng của nó nghe mùi...xác người! Tìm và phát hiện ba, mẹ và em nó trương phình. Thế đấy! Từ đó, nó đã ít nói càng ít nói hơn. Nó không còn ai người thân, bị bom đạn chết hồi còn ở trong Phú Nhiêu. Nhà nó dời ra Phú Thứ chừng hai năm nay. Gìơ thì trơ trọi chỉ mình nó trên đời! Bọn chúng tôi thương nó nhiều hơn...là ghét "lì" của nó. Đang hăm hở bắt cào cào thì xung quanh ào ào như giặc dậy:
- Tấn cô ô ô ô ô ô ô ô ô ông!
Sự phản xạ trong chiến tranh nó đã trở thành "xương máu" cho những đứa trẻ thơ chúng tôi, những đứa trẻ còn đang giữ...cức trâu trên đầu. Nên sau tiếng hô tấn công của bọn "Nguỵ" Gò Mầm (tên gọi tôi vừa chợt nghĩ ra) thì năm đứa bọn tôi, tất cả đều nằm rạp xuống ruộng, bất kể là những "chông rạ" chỉa lên tua tủa. Súng trong tay đạn đã lên nòng, Ngọng nằm bên cạnh khều khều: - Tao..tao...tao rớt đạn khi...khi nhảy...nhảy...nhảy xe ngựa...!
Tôi móc trong cạp quần hai viên bi đất đưa cho Ngọng, mắt gườm gườm:
- Liệu hồn, bắn cho trúng nghe chưa. Thôi, để dành đi, để dành...phòng thân!
Một tên “địch” cầm túm lá trên tay như tấm khiêng che đạn, tay kia xách một bị đất cục, liều lĩnh xáp gần chỗ Phú "thầy Tàu". Phú là "lính mới" nên vừa thiếu kinh nghiệm "trận mạc" lại vừa chưa được...đào tạo sử dụng vũ khí chuyên nghiệp. Nó lóng cóng thế nào mà giàng ná thun đã nổ "phạch" một tiếng nhão nhẹt, còn hiệu quả thì như mây như khói. Khôi nằm bên cạnh gắt um:
- Bắn...như lỗ đít! Chưa nhét đạn mà bắn...
Phú định nói gì đó lại thôi. Nó tiếp tục làm động tác bỏ bi vào miếng da ná thun, thằng địch móc một hòn đất trong bị, chắc là định "câu" canh nông vào Phú. Tôi kéo căng sợi dây thun "phựt" tên địch nhảy loi choi như đỉa phải vôi, quăng cành lá cùng bị đất, quay lui chạy thục mạng. không bỏ lở cơ hội, tôi vùng dậy:
- Xung phoooooooong!
Thực ra trận địa chưa biết kẻ ăn người thua, nhưng bỗng dưng phe nhà đang có người chạy có cờ, đối phương lại tràn lên như bão lũ, bọn Gò Mầm đội hình tự nhiên rối loạn, mạnh ai nấy chạy, mà chẳng biết vì sao. Phú không quen chạy, nhất là chạy trên ruộng mới gặt. Không có kinh nghiệm chẳng dễ gì chạy, phải đưa bàn chân xiên xiên với gốc rạ, gốc rạ mới chịu nằm xuống. Còn Phú thì chạy như...con kiến càng trên chảo lửa, như chú ngựa đóng móng bị sai, cà thọt cà thọt, cà nganh cà nganh không nhịn cười được. Kể ra cũng không trách nó, nó bị té lia chia. Mặt mũi, thân hình vằn vện những bùn đất, bộ dạng càng "quái chiêu". Mà dường như càng chạy nó càng hăng: - Pắc lấy bọn nó...chém đầu "tế cờ" anh em ơi...!
Chẳng ai hình dung được tình huống này. Bọn Gò Mầm thấy bộ dạng và nghe Phú nói như thế lại càng chạy hăng. Chúng chạy tán loạn. Leo lên tới bờ mương, đứa nhảy ùm xuống nước, đứa chạy qua đường ga. Tôi hét Phú “Thầy Tàu” đừng rượt nữa. Trận đấu chưa đánh đã thắng, công đầu phải kể đến Phú. Chúng tôi tập trung lại bên ga, nhìn Phú bê bết bùn đất, mặt mày tái méc: - Công nhận cậu “chiến” thật đấy.
Khôi gầm gừ nhìn Phú:
“Chiến” nhưng bắn ná thun như...củ khoai từ!
Đức “lì” góp lời:
- May thằng Hà “em” “đớp” một phát vào giò chớ không là mày tiêu dên rồi!
Sự hung hăng, can đảm của Phú biến đâu mất. Bộ mặt nhút nhát, hiền lành lại về với nó:
- Ngộ...ngộ...pắn mà không có...lạn, lạn pị dớt lâu dồi, ngộ dã pộ cho nó tin!
Bọn tôi cười như nắc nẻ. Những chiếc xe ngựa lên Phú Thứ quãng nữa buổi đã lóc cóc tới ga Gò Mầm. Tôi lội xuống bàu bẻ một lá súng ụp lên đầu, rủ cả bọn đu xe ngựa về cầu Phú Thứ, chợt thấy bên bót gác có mấy người dân, kẻ ngồi, người đứng. Một chiếc xe ngựa chạy lên, chúng tôi hờm sẵn. Xe qua khỏi bót gác là a lê hấp! Đứa nào đu được thì đu.
Bọn tôi kéo đến gần bót gác núp nắng. Mấy người dân bị lính Cọng Hòa thu mất giấy căn cước ngồi tụm quanh bót gác. Có vẻ như hôm nay mấy chú lính không bình thường, không chọc ghẹo đám con gái đi chợ nữa, mặt mày người nào cũng ra vẻ lầm lì, quan trọng. Chợt từ hướng Phú Lâm chạy lên một chiếc xe “ríp” Mỹ. Ba người lính Cọng Hòa nhảy ra khỏi xe, phía sau có một người mặc đồ “sơ vin” đeo gương đen to tướng, cùng đi lại bót gác. Ngọng thầm thì vào tai tôi:
- Hình…hình…như…
Tôi gắt:
- Cậu im xem. Lính đuổi đi bi giờ!
Tôi chưa dứt lời, có tiếng quát:
- Mấy ông nội oắc con ra kia chơi!
Cả bọn lùi dần ra, Phú cố bám chút bóng mát của bót gác, bị tên lính đi đầu đá vào mông, nó nhảy loi choi:
- Ối! chời lấc ơi...lâu quá...lâu quá!
Tên lính nổi khùng tưởng Phú chọc, xách tai cậu ta đứng dậy:
- Mày dám chọc ông đấy hả, ôn con?
Mặt Phú xanh dờn, lắp bắp:
- Ngộ...ngộ...lâu ngộ lâu lít mà...
- Nó là dân ba Tàu đó, tao biết!
Tôi đứng mé sau bót gác nhìn xéo ra người mặc đồ “sơ vin”: “Đúng là người này thấy quen quen, không biết gặp ở đâu. Ông ta đeo gương đen to, tràm nửa mặt khó nhận, nhưng...cái sẹo…!”
Ngọng ghé sát tai tôi:
- Hình…hình…như…
(Còn tiếp)
|
|