Tên thành viên:   Mật khẩu:   Đăng nhập tự động  Ẩn danh 



Tìm kiếm với từ khoá:


Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 19 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:11 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 

Truyện ngắn, ký - Đinh Viết Bảo


Tại đây tôi sẽ đăng những truyện ngắn, bút ký của ông tôi viết. Ông tôi vừa viết văn vừa làm thơ vừa nghiên cứu sưu tầm. Nói chung là đa thể loại nên tập trung văn xuôi vào 1 topic cho dễ tìm. Hì...
Mở đầu là một số truyện ngắn in trong cuốn "Vượt Dòng Sông Lửa" - Tập truyện ngắn, bút ký mà ông tôi mới in tháng 9 năm ngoái (2009). Mong được sự quan tâm góp ý của mọi người:

Vượt Dòng Sông Lửa
Đường đời như sông lửa
Luôn thử thách con người
Vàng thật hay vàng giả
Qua lửa là biết thôi

Mục lục

Choang!..
Vượt Dòng Sông Lửa
Đứng Giữa
Bắt Rắn Độc
Đoạn Đường Chết
Hạt Thóc Vàng Qua Vành Đai Lửa
Trận Chiến Ác Liệt
Gặp Nhau Trên Núi Hận
...


Sửa lần cuối bởi Phương Đông vào ngày 08-05-2011, 01:48 pm với 4 lần sửa trong tổng số.
Lý do sửa: Cập nhật mục lục truyện


Đầu trang
  
Có 2 thành viên đã cảm ơn soitocnao cho bài viết này:
Phương Đông (06-03-2010, 08:33 pm), Người lính (06-03-2010, 10:42 pm)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:13 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Choang!..


Đinh Viết Bảo



- Ô…ông! … Chi…ính Ô…ông!...
Choang!...
Không thể ngờ Hoàng lại đến nông nỗi này. Hắn say! Say quá! Say mềm người. Say thật hay say giả có trời mà biết. Đã hơn một năm nay, ngày nào hắn cũng say, cũng đập phá một cái gì. Hình như cứ phải đập, phải phá, phải gào thét lên hắn mới hả. Mẹ hắn cũng bất lực đành tủi phận bỏ nhà đi. Đi đâu? Hắn không biết! Chẳng cần tìm! Còn nhớ gì nữa mà tìm. Những lúc say, hắn còn biết ai là mẹ, là vợ, là con nữa. Chửi tuốt! Đuổi tuốt! Đập phá tuốt!...

*


* *

Bà Phát ( gọi theo tên chồng ) thật tủi hổ với dân làng.
Chồng bà ở chiến trường B về, làm nhân viên văn phòng huyện rồi cứ vù vù mà tiến. Chẳng mấy chốc lên tới chức Phó chủ tịch Tài mậu rồi lên tỉnh. Là người nắm túi tiền của một huyện, ông càng có dịp vùng vẫy tung hoành. Nhà bà cứ vui như tết, cứ lên như diều gặp gió. Ngày giỗ, ngày tết khách ra vào tấp nập. Toàn những người sang, những cô gái đẹp, trẻ măng. Họ nhận là anh em kết nghĩa, là em nuôi, con nuôi … Có người hơn ông cả chục tuổi cũng gọi ông là anh, xưng em và ngược lại. Bà có vất vả phục vụ khách đôi chút nhưng cũng hởi dạ.
Ngày chồng bà đi bộ đội mới vọc vạch lớp ba, lớp bốn gì đó. Vậy mà nay ông khoe: có đến hai bằng đại học, hai ba bằng trung, sơ gì đấy. Thế mới tài chứ! Bà nghĩ: Ở làng này nhiều người phải nể bà. Chị em cùng lứa tuổi, chỉ bà là danh giá nhất! Xem ra chỉ có vài bà vợ ông giáo là có vẻ coi thường bà. Kệ! Thói đời, thấy người ta hơn thì ghen ghét. Làng có vài người đậu “Chiến sĩ” ( Tiến sĩ ) nhưng cũng chẳng có gì. Mỗi lúc về làng chỉ cưỡi chiếc xe máy xanh lét, ngũng ngoẵng như bọ ngựa chạy: Bạch bạch! Bạch bạch!… Chồng bà đi đâu hoặc về làng có ô tô, có người lái hẳn hoi. Mẹ chồng ốm mới sướng chứ. Sâm quy họ biếu ăn không xuể. Nhiều người còn biếu quà bằng phong bì. Có lần ông nói với bà:
- Giá mỗi năm, cụ cứ ốm vài lần thế này thì phải.
Lúc mẹ chồng chết mới danh giá làm sao. Khách tỉnh, khách huyện về viếng rất đông. Nhiều người cũng chảy cả nước mắt ra cơ chứ. Họ viếng bằng cả một cái phong bì to tướng và dày cộp. Xe máy nườm nượp. Vòng hoa chật nhà. Ông mặc áo tang mà cứ tươi roi rói. Ông chỉ có nhiệm vụ là bắt tay, lắc lắc hoặc đứng từ xa, bắt chéo hay bàn tay vào nhau, giơ lên trước mặt rung rung! Đầu gật gật! Miệng lắp bắp: “ Cảm ơn! Cảm ơn!”. Rất mốt! Rất thời thượng!... Sau đám ma người ta kháo nhau hàng tuần. Người thì khen: “Cụ già ngày xưa khổ mà nay chết sướng quá! Lắm con nuôi đến thế! Toàn người sang cả”. Người lại chê ông: “Hợm hĩnh, phô trương, coi thường dân làng”. Có người tặc lưỡi: “Không buôn bán gì lãi bằng đám ma này”. Vân vân và vân vân…
Đêm hôm ấy, ông và cô con nuôi cưng nhất vào buồng kiểm tiền viếng, vẻ rất mãn nguyện. Ông lấy sổ tay đánh dấu cộng những người viếng nhiều; dấu trừ những người viếng ít và dấu gạch chéo những người không viếng. Chẳng hiểu để làm gì? (!)
Thế nhưng, ngay chiều hôm sau ông và người anh cả lại to tiếng với nhau. Ông cả nói:
- Chú giỏi ở đâu thì giỏi chứ về nhà giỏi cả với tôi à?! Chú chê tôi là cổ hủ. Thật chẳng coi ai ra gì. Mẹ chết ai đến viếng, đến chia buồn đều phải coi trọng. Người làng thì chú hờ hững bỏ qua, chỉ xán đến những ông to bà lớn. Có lúc chú cướp cả lời tôi đáp từ. Nào là: “Tôi xin trịnh trọng…” rồi ông này bà nọ, chức nọ tước kia, rồi: “ Mẹ tôi băng hà” rồi “Mặc dù rất bận công tác chỉ đạo, cũng bớt chút thì giờ vàng ngọc” rồi “ Trầm hương tưởng niệm” lại còn “ Tổn thất của dân làng” nữa chứ. Chú nhấn mạnh chức tước, tâng bốc họ, đề cao mình. Nhưng thế nào là : “Băng hà” “Tưởng niệm”? Chữ với cả nghĩa. Vậy mà tôi nói : “Thân mẫu tôi quy ẩm tổ tiên” hoặc “hai năm mươi…” thì chú chê là cổ hủ. Chú không sợ các cụ già, nhất là mấy cụ đồ nho, mấy ông giáo cười cho à?
- Hừ! Giờ mà bác còn sợ mấy ông đồ ngậm bút lông cổ hủ và mấy tay giáo viên quèn. Chả trách… Mà tôi giới thiệu vậy thì mẹ càng danh giá chứ sao!
- Tôi hỏi chú: Mẹ có đi chiến đấu hi sinh, có phải là lão thành cách mạng hay đẻ ra cả làng đâu mà chú nói: “Tổn thất của dân làng”. Chú xem mọi đám ma, cả làng đi đưa. Đám ma mẹ có được một phần ba làng không? Phần đông chỉ là con cháu, họ hàng với khách thiên hạ. Chú sống với làng hay với thiên hạ. Mai ngày chú mất thì dân làng đưa hay dợi thiên hạ đến đưa? Tôi đang nẫu ruột vì chuyện đó thì sáng nay chú mở băng Vi-đê-ô quay lại cảnh đám ma mẹ. Hai chân chú gác lên thành ghế vắt vẻo. Chú cười hô hố, vỗ đùi đen đét cứ như xem đấm bốc hoặc chọi gà.
Hai anh em còn đấu khẩu với nhau nhiều chuyện lắm. Sau buổi đó, người anh cả mất ngủ mấy đêm liền. Trước đây ông vẫn nuôi mẹ. Hồi còn bao cấp, gia đình rất khó khăn nên mẹ cũng khổ. Lúc đó nó chẳng nhận nuôi. Bỗng nhiên mấy tháng trước đây nó khẩn khoản xin nuôi mẹ. Đâu phải vì hiếu thảo. Chẳng qua nó biết mẹ già quá rồi sẽ ốm đau và sẽ mất nên nhận nuôi để được nhiều quà cáp, biếu xén. Quả vậy, sau một tháng về ở với nó, mẹ ốm. Chỉ riêng quà biếu, nó cũng vớ một món lớn. Bây giờ mẹ chết nó lại bàn: “ Thôi mẹ mất ở nhà em thì tổ chức tang ma mẹ ở đây. Sau này cải cát hãy rước mẹ về bên bác thờ phụng”. Ai ngờ! Nó tính từng hạt muối. Mình là con trưởng phải chịu phần hơn. Lợn làm ma mẹ, theo ông biết do Hợp tác xã cho nhưng nó vẫn tính tiền. Tiền viếng, nó cũng chia luôn. Nó nói: “Để cho tiện, bác nhận tiền viếng của họ hàng, làng xóm. Khi họ có công việc thì bác đi trả nợ. Còn khách cơ quan, xã, huyện em nhận để sau này đi trả nợ cho tiện. Bốn chín, một trăm ngày, cải cát cũng thế nhé”. Hắn nói vậy để vơ nhiều tiền chứ đâu phải đi trả nợ. Thế là, gánh đầu ma thì mình chịu nặng. Tiền viếng thì hắn phỗng. Chỉ một lần mẹ ốm và lúc mẹ chết hắn đã vớ hàng đống tiền lại còn được tiếng là hiếu thảo nữa. Hừ! Thằng này thật là láu cá! Láu cá cả với anh ruột. Hắn cướp công mình và bán cả xương thịt mẹ để lấy tiền.
Từ đó anh em bất hòa với nhau.


*


* *

Bà nghĩ: Dù sao thì chồng bà cũng hãnh diện. Không có ông thì đám ma mẹ sao được sang như thế và nhà bà sao được như bây giờ. Hiếm hoi bà chỉ được một mụn con trai. Thuở nhỏ nó ngoan lắm. Đi học về, nó sà vào lòng mẹ khoe điểm chín, điểm mười. Đêm đêm, nó huyên thuyên kể chuyện cô giáo và bạn bè rồi ngủ như *** con. Từ ngày ông về, làm lớn, cưng chiều nên nó lêu lổng, học kém và hư hỏng. Cô giáo trao đổi với bà, yêu cầu gia đình phối hợp giáo dục. Bà nói lại với chồng, ông bĩu môi, cười xì:
- Ở đời, ăn nhau là cái tài ngoài cuộc sống chứ đâu mấy chữ. Bà xem mấy giáo viên lắm chữ làng này đã hơn ai? Khối thằng đại học, kỹ sư xin làm nhân viên cho tôi còn chưa được. Cần gì học!
Được bố nuông chiều, nó càng ngang ngược, ngông cuồng khiến bà nhiều lúc tưởng đứt ruột, vỡ tim. Hôm ấy, đang kì sương muối gió bấc, bà vừa phun thuốc chống cà chua thun lá thì có xe trên huyện về. Chú lái xe vội vã nói:
- Bác trai cho cháu về đón bác lên huyện ngay để đi nông trường Than Uyên nuôi cậu Hoàng. Nghe đâu cậu bị đánh đau lắm đang cấp cứu ở bệnh viện. Bác mau sắp áo quần đi ngay kẻo muộn.
Bà khuỵu xuống không sao lấy nổi quần áo. Chú lái phải vào buồng vơ vội vài chiếc quần áo lòng thòng ở mắc vo tròn lại rồi dìu bà ra xe. Tới nơi, bà rụng rời chân tay khi nhìn thấy con nằm bất động, đầu quấn băng trắng. Người ta úp vào mũi nó một hộp gì, dây rợ lằng nhằng trông phát khiếp. Bà khóc rống lên:
- Con ơi! Sao lại thế này?!
Nó vẫn nằm ngay như cây gỗ. bà cuống cuồng túm lấy chồng:
- Ồng ơi! Nó chết mất! Hu hu… Hu hu!...
Ông Phát ứa nước mắt, lặng người, thở dài nhưng cố bình tĩnh an ủi bà. Đàn ông vẫn thế mà. Thì ra, nó mạo chữ ký rút trộm tiền của bạn gửi ở ngân hàng rồi đổ cho người khác xui. Người mất tiền đe chị nhân viên ngân hàng nếu không đền số tiền đó sẽ kiện, chị sẽ bị mất việc. May mà chị cán bộ nhớ rất rõ mặt kẻ đã rút tiền nên yêu cầu đội sản xuất cho vào nhận mặt. Trước hàng trăm công nhân của đội chị chỉ đúng Hoàng. Hết đường chối cãi, hắn phải công nhận đã giả mạo chữ ký để rút tiền nhưng lại đổ cho người khác xui hắn làm như vậy. Tức quá, người công nhân bị đổ vấy đến nhiếc móc hắn. Hai bên cãi nhau rồi thách thức đánh nhau. Đều là thanh niên mới lớn, nổi máu anh hùng rơm lên nên sẵn sàng đưa nhau ra chiếc cầu gỗ tỷ thí. Tưởng mình to con sẽ quật ngã đối phương và giã cho Oắt hột ( biệt hiệu của hắn chỉ đối phương ) một bữa no đòn. Ai ngờ Oắt hột ưỡn bụng cho Hoàng đấm trước hai quả mà vẫn đứng như trời trồng. “Tao cho mày đòn nữa” – Oắt hột nói vậy rồi lên tấn. Hơi rợn người một chút nhưng Hoàng lùi lại mấy bước rồi lao đầu như một chiếc xe tăng húc thẳng vào bụng Oắt hột. Hoàng tưởng rằng cú húc đó Oắt hột không vỡ dạ dày thì cũng đổ ngửa đập đầu xuống cầu vỡ sọ. Nhanh như cắt, Oắt hột né mình tránh sang bên, dậm mạnh chân xuống cầu. Lao quá mạnh, lại giật mình vì vì tiếng giậm chân như trời giáng, hoàng vấp vào đá, mất đà đạp đầu vào cột mốc thành cầu và phải vào viện trong tư thế bất tỉnh nhân sự
Thấy tình cảnh con như vậy, ông Phát định kiện cho Oắt hột rũ tù. Nhưng sau khi xem giấy chứng thương ở bệnh viện: không có dấu hiệu nào do bị đánh. Sau khi hỏi công nhân về sự việc giả mạo chữ ký lấy cắp tiền của con, đặc biệt là đôi tình nhân đã chứng kiến cảnh Hoàng lao vào đánh Oắt hột tối hôm đó, ông thấy mọi sự sai trái đều thuộc về con mình. Vả lại đây không phải là mảnh đất huyện nhà để đổi trắng thay đen, ông đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Thứ nhất là mạo chữ ký của người gửi tiền để rút tiền của bạn. Tội này nếu cô nhân viên ngân hàng không tìm ra thì phải đền tiền và bị kỷ luật. Thứ hai là đổ lỗi cho người khác xui. Đó là tội vu cáo. Đã thế còn hùng hổ thách đấu và xông vào đánh trước và đánh những đòn rất hiểm, rất mạnh. Nếu Oắt hột không phải là con một gia đình có truyền thống võ nghệ thì chắc chết rồi. Hoàng phải nằm viện sáu tháng. Sau khi xuất viện, ông Phát xin cho con về, xin ban giám đốc miễn kỷ luật và ghi lời nhận xét tốt đẹp vào lý lịch cho Hoàng. Nhờ vậy sau khi phục thuốc sáu tháng nữa, ông lại xin cho con đi nghĩa vụ quân sự tình nguyện và làm công vụ cho vị đại tá phụ trách tài vụ - bạn ông. Chẳng biết bằng cách nào Hoàng lấy cắp chìa khóa mở két bạc lấy trộm tiền của đơn vị. Việc tày đình này lẽ ra phải xử ở tòa án binh nhưng nể tình ông Phát là bạn từ thuở thiếu niên nên ông đại tá cho xuất ngũ. Tất nhiên ông chẳng nỡ nào ghi lý lịch về tội ăn cắp của hắn. Bản chất ngang ngược, lưu manh trộm cắp nhưng được bố che chở, chạy tội nên về nhà hắn càng ỷ thế làm càn. Ngày mới xuất ngũ, một đêm đi xem Văn công, hắn cùng bạn bắt cóc một cô gái ra đồng hãm hiếp bị thanh niên làng đó đánh gần chết. Hoàng phải nằm viện mấy tháng, hỏng một mắt, đi tập tễnh. Vậy mà ông xào nấu, biến hóa thành vụ nó bị chấn lột. Ít lâu sau, với lý lịch sạch sẽ, tốt đẹp mọi nhẽ ông xin cho hắn vào thuế vụ ở một của khẩu miền núi lắm lộc nhiều màu. Phải nói là ông rất tài. Có lần ông khoe với bà:
- Bây giờ tôi làm lãnh đạo ngành nào cũng được!
Bà thán phục: “Giỏi thật! Mấy cô con nuôi, lúc đầu chỉ làm cấp dưỡng vớ vẩn thế mà ông xoay sở cho làm việc nhàn hạ lại ở gần ông. Bố con sớm tối có nhau. Lúc ốm đau có chúng cơm cháo, đấm bóp, bà chẳng phải lo. Chẳng sướng à! Nhà khác có con gái cũng không bằng. Sau này lúc bà trái nắng trở giời chắc chúng cũng chăm bẵm như ông. Lo gì mình không có con gái”.
Duy chỉ một điều bà hơi ngại nhưng giữ kín trong lòng. Đó là mấy lần bà thấy ông âu yếm vuốt ve và hôn cô con nuôi. Bà sững lại, nổi cơn ghen. Nhưng nó vội bỏ ông ra, chạy đến nũng nịu: “Mẹ! Mẹ!...”.
- Mẹ gì mày! – Bà cáu kỉnh nói
Tức quá! Nhưng bà cố ghìm lại giữ giá cho chồng. Những lần như vậy thì ngay đêm đó bà được ông đền bù, cưng chiều hơn. Bà buồn rầu nói:
- Ông ạ! Thằng Hoàng hồi này chẳng coi tôi ra gì. Càng ngày nó càng ngông ngáo xem thường mọi người. Rượu nó uống hàng chai. Rượu vào là lời ra, cứ như ông tướng ấy.
Bà thở dài:
- Lại còn cả gái gẩm nữa. Ông không dạy bảo thì hỏng mất.
- Ồ là là! Bà quả là quê mùa. Nó mới là một thằng đàn ông thực thụ. Đàn ông có tài thì gái vây quanh là phải.
Hứng lên ông còn véo véo vào cái chỗ ấy của bà và nói:
- Chỉ tiếc là bà không tòi cho tôi vài thằng như nó nữa
- Vậy nên ông mới thèm của lạ, tìm người để thay cho tôi chứ gì?
- Ấy! Ấy! Bà lại ghen nữa rồi. Tôi đã nói mãi với bà: con Hoa nó mồ côi từ nhỏ, thiếu tình thương của cha mẹ. nó nhận tôi là bố nuôi. Tôi âu yếm như vậy là để nó đỡ tủi phận. Vậy mà…



*


* *

Lâu dần thành quen, bà chẳng để ý đến chuyện vặt ấy nữa. Ông ngày càng sung mãn. Người cứ trẻ phây phây. Đi đứng oai vệ. Giọng nói ra vẻ sang lắm. Bà rất mãn nguyện.
Đùng một cái, như sét đánh bên tai, tiếng đồn xấu về ông nổi như sóng cồn. Ông bị kỷ luật với đủ thứ tội: Nào là ông trần như nhộng với cô con nuôi ở ngay trong phòng làm việc. Rồi chính con bé ấy đổ cho ông cưỡng bức, nó buộc phải chiều. Thế là dậu đổ bìm leo, những kẻ “tâm phúc” trước đây quay lại phản giáo. Một số cô gái khác cũng tố cáo ông giở trò ong bướm. Cô nào chịu “chiều” thì ông nâng đỡ. Cô nào “không chịu” thì ông gây khó dễ, tìm cách dập vùi. Lại có tin đồn ông dùng gái lập kế: “Mê hồn trận” đánh đổ đối phương. Rồi tin hồi làm giám đốc công ty vật tư, ông thấy ông chủ tịch làm nhà, ông bèn sai người chở xi măng, sắt thép đến giúp rồi ngầm cho người tố cáo lật đổ. Bây giờ, ông chủ tịch đã nghỉ hưu, nghe tin này mới giật mình về thủ đoạn gắp lửa bỏ tay người. may mà hồi đó ông chủ tịch bắt người lái xe chở cái “của quý” ấy về. Cả chuyện mỗi lần bầu cử, ông cho chân tay, vây cánh đi nói xấu người khác, vận động bỏ phiếu cho mình. Ông hứa với họ sẽ giúp đỡ vào chức này, việc nọ… Rồi chuyện móc ngoặc với gian thương tranh mua, ép bán, lợi nhuận bẻ đôi; chuyện tiền đầu tư xây cầu, đào mương, xây dựng các công trình, chế đọ PAM cho trẻ em, xây nghĩa trang liệt sĩ… cứ đi vòng vèo, vòng vèo rồi tàng hình chui vào túi ông và đồng bọn. Ngày nước nhà thống nhất, ông mượn cớ vào Nam học tập kinh nghiệm, thăm thú thị trường, đi tìm đối tác… thực chất là những chuyến dạo chơi kỳ thú “nhất dạ đế vương”, ném tiền qua cửa sổ, tận hưởng khoái lạc để đem về một cái bụng tròn như trống và một cái đầu rỗng tuếch.
Những câu chuyện xấu ấy cứ rỉ rả lọt vào tai rồi như mũi kim vô hình đâm vào tim gan bà. Chẳng hiểu thực hư thế nào, nhưng rõ ràng là ông phải về nhà và rầu rĩ. Thương ông! Bà chẳng dám hỏi gì. Nhưng cứ nghĩ đến cái tin họ nói: cấp trên có quyết định đình chỉ công tác để kiểm điểm và tìm đủ chứng cứ thì khai trừ Đảng rồi đưa ra tòa. Nếu ông phải tù thì bà rất lo sợ và thương cho ông vô cùng. Trước đây ông coi thường dân làng, nay không dám đến chơi với ai và cũng chẳng ai đến chơi với ông. Vậy nên, ông càng trầm uất: có lúc lạnh như băng, có lúc nổi khùng như lửa. Đã thế thằng con lại hư đốn, nghiện nập, say nhè quậy phá đủ điều. Bố say! Con say! Quay ra đấu khẩu. Cùn lên nó đốp lại:
- Tôi say đấy! Tôi hư đấy! Ông cũng chẳng ra gì. Buồn vì ông mà tôi uống! Uống cho say đấy.
Thế là lại “loảng xoảng”, “loảng xoảng” đập phá. Bà như con trạch bỏ giỏ cua. Nó cứ nhè vào bố mà đổ lỗi. Nó có biết đâu chính ông đã gỡ cho nó biết bao nhiêu tội lỗi và đưa nó đến chỗ sung sướng.


*

* *





Sau những cơn say , ông tự thoại với mình. Ông nhớ lại ngày là Đảng ủy, Bí thư xã đoàn. Thuở ấy trai làng ra trận cả. Các bí thư chi đoàn đều là những cô gái trẻ mười chín, đôi mươi vừa bén hơi chồng. Ông mới ngoài ba mươi tuổi, trở thành “mì chính cánh” của các cô. Những lúc trao đổi công tác riêng, ông biết khêu gợi nỗi khát khao mong nhớ của từng cô gái trẻ xa chồng. Khi lửa tình bùng cháy không kìm nén được, một số cô đã ngả vào vòng tay ông. Thế là… Ngọn lửa ái tình vụng trộm đã hai lần suýt thiêu cháy sự nghiệp của ông. Lần thứ nhất, ông đánh liều nhờ người bạn thân là trạm trưởng trạm y tế xã giúp phá thai. Nể quá! Bạn đã giúp ông trót lọt. “ Hừ! Có bạn làm ở ngành y mà hay”. Lần thứ hai, người bạn tin cậy ấy kiên quyết chối từ. Anh ta nói:
- Tôi đã làm một việc trái với luật pháp, trái đạo đức giúp anh rồi. Nạo thai! Nạo thai! Trời ơi tôi cũng là kẻ giết người. Giết một đứa trẻ vô tội, không cho nó được làm người. Anh đừng bắt tôi làm việc ác nữa, kẻo tội này tôi trả mấy đời không xong.
Người bạn nói như muốn khóc. Bí quá! Ông liều đưa thuốc cho cô uống tẩy thai ra. Chẳng ngờ cho uống nhiều quá, cô ả chết. May mà mọi người chỉ tưởng cô chết vì cảm. Thật hú hồn! Chiến tranh ác liệt, ông xung phong nhập ngũ, vừa được tiếng hăng hái vừa chạy được tội lỗi.
Tất cả quá khứ như một cuốn phim. Ông nhớ lại có lần vớ được quả tang Sếp đang “ấy, ấy” cô nhân viên. Ông lờ đi. Từ đó Sếp tin cậy và nâng đỡ. Biết Sếp đang bí về “quả bom” trong bụng cô bồ đã có ngòi nổ, ông nghĩ ngay: Phải Cứu Sếp! Lập Công! Thăng Tiến! Vậy là ông chắp mối tơ duyên cho cô với ông trưởng cửa hàng lương thực, vợ vừa bị *** dại cắn chết. Ai dè việc môi giới nhanh ***ng, đẹp đẽ đến thế. Ngòi nổ “quả bom” như được tháo ra. Cái thai trong bụng cô bồ của Sếp cứ yên chí mà lớn để ra nhận một ông bố mới. Đẹp cả bốn nhà. Sếp và cô bồ thoát gánh nợ đời. Sếp vẫn là người trong sạch, đứng đắn. Cô bồ vẫn trinh trắng lên xe hoa. Ông trưởng cửa hàng lương thực góa vợ vớ cô vợ trẻ đẹp kém mình gần hai chục tuổi. Nếu cô không có quả bom hẹn giờ trong bụng, chắc ông nằm mơ cũng chẳng được. Còn ông như chuột sa chĩnh gạo, cứ thoăn thoắt mà tiến, mà leo lên những nấc thang quyền lực và danh vọng. Thật không có cách thăng quan nào nhẹ nhàng nhanh ***ng đến thế, không có buôn bán nào không mất vốn mà lãi cao đến vậy.
Ông nhớ lại những ngày thịnh mãn, cha con vui vẻ. Ông tổng kết và truyền những kinh nghiệm leo thang, giữ ghế, những thủ đoạn lừa dưới dối trên, đổi trắng thay đen, tranh công đổ lỗi, những vụ ápphe chính trị, ápphe kinh tế v.v… ( xin được không viết những thủ đoạn đó ra đây. Vì rằng biết đâu kẻ xấu sẽ áp dụng và bổ sung thành “học thuyết lưu manh” tì hại cho dân cho nước vô cùng )
Trước đây ông từng nghĩ: mình thật tốt số, có quý nhân phù trợ, làm gì cũng được. vậy mà bỗng chốc sự nghiệp tiêu tan. Cũng tới lúc thân bại danh liệt, ông mới thấy được những việc làm lừa dối độc ác của mình. Cũng tới lúc này ông mới thấy sự cưng chiều, chạy tội cho con đã đẩy nó vào con đường hư hỏng, tội lỗi. Ông nhớ lại những lần Bí thư, Chủ tịch nhắc nhở phê bình. Tất cả họ đều chân thành kéo ông ra khỏi vũng bùn. Nhưng ông vẫn cố tình che giấu, biện bạch và tìm cách lật đổ họ. Trời ơi! Lòng tham, ích kỷ, tiền và gái, quyền hành và bổng lộc đã hủy hoại sự nghiệp và cuộc đời ông. Mỗi lúc nghĩ tới những cái nhìn khinh bỉ, những lời đàm tiếu giễu cợt ông không chịu được, không dám ra đường. Phải uống cho say, cho quên đi. Nhưng càng uống lại càng tỉnh. Tỉnh mà say. Có lúc ông nghĩ tới tự sát. Trầm uất quá, ông uống rượu liên miên. Rượu thiêu đốt tâm can, sấy khô giòn mạch máu. Ông bị cảm não, nằm liệt và cấm khẩu. Cái bệnh chết tiệt này lại ăn rất khỏe và sống dai. Mọi việc ăn uống, vệ sinh đều do bà phục vụ. Bà phải khoét lạch giường để ông nằm trần, chỉ che bằng một miếng vải mỏng ở thân giữa. Mọi sự hôi thối, bẩn thỉu bà phải gánh chịu. Bạn bè, chiến hữu cùng cánh làm ăn trước đây với ông lảng dần rồi lặn mất tăm. Dân làng, các đồng chí ở tỉnh, huyện trước đây phê phán, đấu tranh, giúp đỡ ông, nay vẫn đến thăm hỏi, động viên bà. Những lúc như vậy ông cảm động ứa nước mắt, hối hận muốn xin lỗi, cảm ơn mà không nói được. Hơn bốn năm thì ông qua đời. với lòng vị tha, dân làng vẫn tổ chức tiễn đưa ông chu đáo.


*


* *



Còn Hoàng, vốn dựa bố, ỷ thế làm càn, no ăn dửng mỡ lao vào cờ bạc, ma túy, gái gẩm… Bọn gian thương mua chuộc, lôi kéo vào các ổ nghiện ngập, mại dâm biến hắn thành “con ***” giữ hàng cho chúng. Cơ quan nhiều lần nhắc nhở, phê bình nhưng tật nào chứng ấy, hắn cố tình che giấu bằng những thủ đoạn rất tinh vi. “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí!”. Bố chết, mất chỗ dựa, ô dù, hắn lại liên tiếp thua bạc, phải bán cả đồng hồ, xe máy, tủ chè, sập gụ… Thế mà vẫn thiếu hụt tiền thuế hai ba chục triệu đồng và nợ ngoài chồng chất. Vợ hắn làm thủ kho cho công ty vật tư phải sàng xê, món nọ xọ món kia, móc ngoặc với gian thương tuồn hàng tốt ra ngoài, đưa hàng phế thải vào trong kho để lấy tiền trả nợ cho chồng khỏi bị đuổi việc. Thế là vợ hắn cũng bị thải hồi. Gia đình ngày càng sa sút nhưng hắn vẫn không chừa. Để có tiền ăn chơi, hắn thông đồng với bọn buôn lậu chuyển hàng qua cửa khẩu. Mỗi lần trót lọt, hắn được ăn chia, nhậu nhẹt, hút chích và chơi gái miễn phí. Cứ thế hắn như con thiêu thân lao vào lửa, bất chấp luật pháp và sự giúp đỡ của cơ quan. Cuối cùng hắn bị sa thải. Cảnh nhà túng quẫn, hắn càng khùng, càng lao vào cờ bạc, rượu chè… Mẹ hắn đành bó tay. Có lần bà nức nở kêu lên:
- Mày muốn cho tao sống hay chết đây?
Hắn lờ đờ, giương đôi mắt trắng dã:
- Thì bà chết đi! Bà chết được rồi đấy! Bà sống chỉ làm khổ tôi thôi. Lúc nào cũng rầu rĩ. Sống với chả chết! Tôi không chịu được nữa. Bà đi đi!
Rồi hắn lảm nhảm:
- Ì hì! Của bố tôi, tôi bán. Gán tuốt!
Uất quá bà chu chéo:
- Thế rồi mày gán cả vợ, cả mẹ mày nữa!
- Gờ hán! Ì hì! Ghán!
Bất lực, bà bỏ nhà đi. Hắn chẳng tìm. Vẫn say! Vẫn lèm bèm và trở thành nỗi đau đớn, nỗi kinh hoàng của vợ. Nhiều đêm hắn như con thú, giày vò thể xác cô. Hơi rượu tỏi nồng nặc đến buồn nôn. Cô phải nín thở, nằm yên! Chịu trận!... Nếu không hắn có thể bóp cổ chết. Khi cần tiền hút chích, hắn giơ dao bắt vợ phải đưa tiền hoặc các thứ để bán. Mỗi lúc say hắn lại đập phá. Ai đến khuyên can, hắn đuổi tuốt! chửi tuốt! Giờ đây, không ai muốn giây vào nữa. Vậy nên cô kinh hãi vô cùng.
Một lần, hắn đang say, say mê mẩn thì ba gã đàn ông to lớn như con gấu, đen sì, đầu tóc bù xù, mặt mày gớm guốc bước vào. Ngực đứa nào cũng xăm hình một con đàn bà “tất cả” tồng ngồng. Một thằng hất hàm:
- Thế nào? Có chửa? Nếu không thì gán.
- Gờ hán…thì hán! hờ…hán! Đêết gì!
Vợ hắn cuống cuồng:
- Em xin các anh thư cho ít ngày. Em sẽ trả dần – vừa nói cô vừa mời chúng vào nhà
- Hừ! Trả…ả dần! Trả bằng cái gì?
Thằng thứ hai, nhìn chòng chọc vào cô. Mắt nó như có lửa đốt, thiêu cháy áo ngực, như có bàn tay luồn vào da thịt. Người cô nổi da gà, gai ốc. Cô cúi xuống, tránh cặp mắt cú vọ đó mà vẫn cảm thấy bủn rủn, trên da thịt như có giun bò.
- Hừ! Con vợ mày trông được đấy. Hay gán quách nó cho chúng tao. Chịu không? Mày vẫn có nhà. Nó vẫn ở với mày. Thỉnh thoảng cần, chúng tao đến “dui dẻ” (vui vẻ) nghe chưa?
Chúng cười khả ố. Hoàng – hắn vẫn say mềm ú ớ:
- Gờ hán! Đêết gì! Ghán!
Cô rợn người! Lạnh gáy! Run lên! Cả ba thằng nhìn xoáy vào ngực cô ha hả cười man rợ:
- Được! Được!
Tưởng chúng chỉ ra oai trêu chọc cho mà sợ. Hóa ra thật. Cô chưa kịp kêu lên thì chúng đã bịt miệng, lôi tuột vào buồng, ấn xuống giường. Chốc lát, cô như con gà mái bị vặt trụi lông nằm run rẩy trước những cặp mắt cú, vằn lên từng tia máu đỏ ngầu. Rồi chúng thi nhau nghiến ngấu , tưởng như nghiền nát con mồi một cách man dại. Hoàng – chồng cô vẫn say mềm, lảm bảm “gờ hán! Gh hán” ở ngoài sân. Cô giãy đạp yếu ớt rồi bất lực… nằm im… uất ức chịu nhục… Nước mắt đầm đìa.
Chúng ra về, cô rã rời, rũ rượi thổn thức:
- Ới cha mẹ ơi! Cha mẹ ơi! Sao đời con nhục nhã thế này?
Cô tìm đến cái chết. Vớ được con dao rọc dầu của mẹ chồng cạnh đấy, cô đặt lưỡi dao ngang mạch máu nơi cổ tay. Chỉ còn ấn mạnh khía xuống một cái là xong. Cô rung mình run lên.
- Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Đứa con gái mới hai tuổi ngủ dậy khóc váng lên gọi mẹ. Cô giật mình đánh rơi dao xuống đất – Bàng hoàng! Hoảng hốt chạy đến ôm con vào lòng như sợ có ai cướp mất nó. Cô nức nở nựng con trong nước mắt:
- Ơi! Mẹ thương! Mẹ thương! Mẹ không chết nữa đâu! Mẹ thương! Mẹ sống để nuôi con ! Ôi mẹ thương!
Con bé lấy làm lạ, tròn xoe đôi mắt còn dểu dảo nước nhìn mẹ.
Từ đấy, cô chịu đựng tất cả. Liều phí tất cả… của mình… để trừ nợ cho chồng. Để nuôi con và mong có ngày chồng cô tu tỉnh làm lại cuộc đời.
Nhưng rồi, số phận nghiệt ngã không buông tha. Cô lại như điên như dại khi biết tin chồng đã nhiễm HIV dương tính. “ Thế là mình cũng nhiễm rồi!”. Cô kêu lên như vậy. “Trời ơi! Còn sống làm gì con ơi! Mẹ chết mất”. Rồi cô cười gằn rít lên độc ác: “Ba con quỷ đực kia đã làm nhục tao cũng sẽ bị bệnh như tao”. Cô lại giật mình kinh hãi khi nghĩ tới những người vợ, những cô gái khác đã ăn nằm với chúng sẽ bị lây nhiễm căn bệnh quái ác này. Thật là thảm cảnh. Cô đau đớn nghĩ tới cảnh gia đình tan nát. Bố chồng bị kỷ luật, trầm uất mà chết. Mẹ chồng biệt tích. Chồng hư hỏng, tâm thần nặng, mắc bệnh Si đa. Cô cũng đang bị tử thần bắt đi. Đứa con nhỏ dại sẽ ra sao? Ôi xã hội! Ôi cuộc sống đẹp như mơ mà cô sắp mất nó. Xã hội đã đem lại cho gia đình cô nhiều thứ. Từ thân phận nghèo hèn dưới chế độ cũ, bố chồng đã thành một cán bộ lãnh đạo của huyện rồi tỉnh. Chồng cô là một cán bộ thuế lắm lộc nhiều màu. Vậy mà chính bố chồng và chồng cô không biết giữ, tự gây họa cho mình, cho gia đình và xã hội. Thật là tội lỗi! Tội lỗi!
Cô rít lên như điên dại. Phải kêu! Phải xé và kêu lên! Gào lên! Thét lên! Người cô như có kiến bò lửa đốt. Cô như đang rơi xuống vực thẳm đen ngòm, ngột ngạt. Trên bờ vực, con cô như sắp rơi xuống. Cô cố bay lên với con nhưng vực sâu cứ hút xuống, hút xuống. Cô hốt hoảng kêu lên:
- Cứu!... Cứu con tôi!... Cứu! Cứứu!...
Mọi người chạy tới, thấy coo thật thê thảm… đầu tóc rũ rượi!... áo quần rách mướp!... Lộ liễu!... Họ xô đến, ôm cô, dìu cô vào nhà. Còn hắn – Hoàng – chồng cô vẫn say, đang cầm ảnh thờ của bố lảm bảm:
- Ôông!… Chiính ôong!…
Choang!...
Hắn đập ảnh thờ của bố và kêu lên như vậy.




Sửa lần cuối bởi soitocnao vào ngày 06-03-2010, 06:17 pm với 2 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
  
Có 1 thành viên đã cảm ơn soitocnao cho bài viết này:
Trần Vi Thông (28-04-2010, 10:58 am)
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:21 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Vượt Dòng Sông Lửa
(Một bài thơ bằng văn xuôi. Mọi người cứ thử đọc diễn cảm thử xem. Tôi đã được ông tôi đọc cho nhiều lần bài này và quả thực tôi có cảm giác như đang được nghe một bài thơ chứ không phải là một bài ký)


Đinh Viết Bảo
Ký (ghi chép)





Chúng tôi vừa tới Đống Cao ( Nam Định ) thì “ào” một tiếng, con thuyền của tôi chồm lên, dập xuống như con ngựa bất kham muốn hất tung tất cả những gì trên mình nó. Những tiếng nổ lọng óc xung quanh. Lửa bùng lên từng đám. Chớp nhoang nhoáng. Tim yôi như bị ép lại, hồi lâu mới giãn ra thở được.
- Có ai việc gì không?
Tôi hét to giữa trận mưa bom, mưa đất đá mấy lần.
Không ai trả lời. Tôi lo đến thót tim.
- Thuyền tôi vẫn an toàn!
- Thuyền tôi cũng an toàn.
Có tới hơn chục câu trả lời như vậy.
- Tốt rồi! Hãy ghìm thuyền cho chắc để nhận hàng.
Phía thành Nam lại bần bật sáng. Cao xạ pháo tung lên ngàn vạn cục than hồng. Bom gầm rung! Pháo cũng gầm rung. Bên ấy trời đêm đang bị xé!
Chúng tôi chưa kịp neo thuyền thì hàng loạt thanh niên nam nữ đã vác những bao tải gạo to tướng đứng đợi. Một số người sốt ruột bỏ gạo xuống đó, đến giúp chúng tôi. Gạo được vác xuống thuyền ùn ùn. Một cảnh tượng sôi động giữa đêm đen, lửa cháy. Phía trong có tiếng giục:
- Nhanh lên các đồng chí ơi! Kẻo chúng lại đến cắn trộm đấy.
Một vài căn nhà bốc cháy ngùn ngụt. Người ta hò nhau dập lửa, cứu nạn nhân. Có tiếng gọi con. Cả tiếng người khóc nữa. Tôi hỏi một cô gái:
- Kho thế nào? Có ai việc gì không?
Cô gái hổn hển:
- Kho bị sạt một chút. Nhưng gạo không việc gì. Trong làng mấy nhà bị trúng bom. Chắc có người chết. Cháu ở bộ phận chuyển gạo ngoài này nên không rõ lắm. Ở đó đã có đội cứu thương cứu hỏa rồi.
Tôi buột miệng chửi tục:
- Quân *** má! Cắn trộm cả ban đêm, không cho trẻ con ngủ ngon giấc.
- Ôi bác! Thằng giặc nào chẳng ác. Hôm nọ, đang đêm chúng ném bom tọa độ, hàng chục nhà sập đổ. Có gia đình chết cả ba mẹ con.
Kiểm tra xong mọi việc. Tôi hạ lệnh rời bến, nhanh ***ng thoát ra khỏi điểm chết này. Đi được chừng 3Km, giặc lại đánh Đống Cao. Xung quanh tôi vỏ đạn rơi bùm bũm. Ghê người! Tôi vẫn bình tĩnh, vì mui thuyền được bện một lớp rơm dầy tránh các mảnh bom. Xung quanh người lái xếp các bì gạo che chắn. Trong thuyền có hố tránh đạn rơi.
Đoàn thuyền lặng lẽ đi trong đêm tối. mỗi thuyền một người lái, hai người kéo dây. Có lúc họ cúi rạp xuống, gò lưng tôm hoạc gấp khúc lại. Ngồi trên thuyền vừa lái vừa chống choải với nước chảy, bèo trôi và bãi ngầm. Gió đẩy người về phía sau. Sóng đấm vào ức thuyền thùm thụp. Đêm tĩnh lặng chìm trong bong tối. Làng xóm hai bên bờ lúc mờ mờ, lúc đen đặc tưởng xắn được từng miếng. Thỉnh thoảng vài tiếng chim lợn kêu, chim cú rúc nghe rờn rợn, lạnh tanh. Cực nhất là phải qua các làng sát bờ sông. Mặt nước bị cây to bưng kín. Họ phải mò mẫm lội trên bùn đất đầy vỏ sò, hến, gai góc và dây leo. Mắt căng ra, khoan thủng đêm đen rạch lối mà đi. Ếch nhái uôm uôm. Côn trùng rỉ rả. vài con đom đóm đánh lửa soi đường. Đôi lúc một con ma Mỹ bay thấp, rú lên, xé không khí. Lạnh gáy! Sởn gai ốc! Trong nhà có tiếng trẻ khóc, tiếng mẹ trẻ ru hời. Đêm càng khuya càng tĩnh mịch, buốt thấu xương. Chỉ có tiếng mái chèo khua động. Hàng chục, hàng trăm con thuyền vận tải, đầy ắp vẫn lặng lẽ bám đuôi nhau xuôi ngược. Thỉnh thoảng, một đoàn xe ô tô trùm kín mít, kéo pháo, kéo tên lửa, lặc lè, ì ạch, phì phò vượt cầu phao dã chiến. Con cầu gồng mình chịu tải. xe nào cũng chỉ ló đèn gầm. Nghe tiếng động cơ biết xe chở nặng. Chúng tôi còn gặp những tốp phụ nữ, cụ già súng khoác trên vai đi tuần tra; những trận địa pháo giả, pháo thật rải rác dọc bờ sông. Cứ thế ngày nghỉ đêm đi, mỗi tháng một chuyến. Thuyền theo sông Đào đi ngã ba Kinh Đài, qua sông Phát Diệm, sông Vạc đi Chính Đại, kênh Mãn, Thúc Phụ, kênh De, Hạ Bạc, Chùa Quạ, cửa Hợi ra sông Mã đi Lệ Môn, Hàm Rồng, Thanh Hóa, bến Ngụ, bến Voi … chở gạo vào Nghệ An, Quảng Bình, chi viện cho tiền tuyến rồi chở gỗ, hàng hóa ngược về sông Mã qua ngã ba Bông, cầu Lèn sang sông Thắm, cầu Yên (Ninh Bình) đi sông Tranh qua cầu Khuốt về lại Thanh Liêm.
Càng thua đau ở miền Nam, giặc Mỹ càng điên cuồng bắn phá miền Bắc, triệt đường chi viện của ta. Chúng tuyên bố: Sẽ cho miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Bất kì ở đâu, lúc nào, máy bay Mỹ cũng bất thần từ trong mây bạc lao tới trút bom, bắn rốc két vào những con thuyền nặng nề, chậm chạp, lềnh bềnh trên sông nước của chúng tôi rồi lẩn vào mây mù, đêm tối. Nhiều khi chưa nghe thấy tiếng máy bay, bom đã nổ, thuyền tan và người chết. Đặc biệt là những bãi đỗ thuyền, cầu cống và bến cảng, chúng tôi gọi là tọa độ lửa. Không hiểu ai đã chắp nên câu ca:
- Cầu Lau, cầu Hổ, cầu Bùng
Trong ba cầu ấy xin đừng có đi.
- Kênh Đài, kênh Mãn, kênh De
Qua ba kênh ấy thì nhe máu mồm.
Ba kênh này, vừa dài vừa hẹp, nước chảy xiết, đôi bờ trống trải. Ban đêm phải cố sức cho thuyền vượt qua. Nếu đi ban ngày sẽ làm mồi cho quạ Mỹ. Hai thuyền của Hợp tác xã chúng tôi đã bị đánh chìm, một người chết, một người bị thương vì sức ép. Xã viên nao núng. Chi bộ bàn cách đối phó và hạ quyết tâm: “Giặc đánh ta cứ đi! Quyết đạt và vượt mức trên giao! Đảm bảo an toàn cho người, lương thực, hàng hóa và phương tiện”. Mỗi thuyền một Đảng viên phụ trách. Tôi là phó bí thư, phó chủ nhiệm HTX trực tiếp phụ trách chuyến đi này.
Đêm ấy, chúng tôi vừa đến Thanh Hóa thì có lệnh nhanh ***ng ra khỏi thành phố. Giặc Mỹ có thể dùng B52 ném bom rải thảm ở đây. Vừa đói, vừa rét, vừa mệt và buồn ngủ, chúng tôi lập tức phải rời tới một làng cách đó chừng 5Km đưa hết gạo lên bờ sơ tán và chờ lệnh.



*


* *


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:22 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Trên đường về, chúng tôi phải vượt qua bãi thủy lôi, bom từ trường. Một thách thức gay go. Phải làm sao vượt qua thác lửa này an toàn? Tôi cho anh em nghỉ vài ngày lấy lại sức rồi tìm đến một đơn vị pháo, hỏi cách phòng chống thủy lôi. Trở về tôi họp cả đoàn quyết định: Mỗi thuyền chỉ một người lái. Còn lại lên bờ kéo dây mặc dù trời thuận buồm xuôi gió. Các thuyền cách nhau 20m. Cả đoàn đi một lối theo thuyền tôi dẫn đầu. Đồng chí chi ủy đi cuối nhắc nhở anh em đi đúng đường. Với cách này, thuyền tôi đi qua, thuyền sau sẽ trót lọt. Hơn 20 chiếc thuyền như những con cá Kình lặn giữa biển đêm, lội ngược dòng. Chừng nửa đêm, một tiếng nổ rung cả khúc sông. Sóng đập vào thuyền tôi oàm oạp. Có tiếng dân quân gọi nhau cứu người và hàng. Thì ra một thuyền đoàn bạn căng buồm chạy giữa sông bị trúng thủy lôi. Ngồi trên thuyền dẫn đường, tôi có cảm giác rờn rợn, cứ như đưới đáy sông có những con thuồng luồng Mỹ rình đợi rồi bất ngờ lao tới, húc tung thuyền. Cả đoàn căng mắt, căng đầu, lặng lẽ đi. Mờ sáng, anh em cài lá ngụy trang, neo dọc thuyền rồi lên hầm chữ A bên sông nghỉ ngơi, coi thuyền.
Trời nắng đẹp! Vài cô gái vác cày ra đồng kèm theo khẩu súng. Trẻ em mũ rơm, túi sách, cắp sách đến trường. Bầu trời sạch sẽ tinh tươm. Nhà ai đang chuẩn bị lễ cưới cho một cặp uyên ương. Sau một đêm vượt bãi thủy lôi trên dòng sông lửa, lòng tôi thơ thái vô cùng.
Một tiếng nổ rung trên cánh đồng, phía bên kia, trước mặt. Đất đá bật tung, khói trùm kín đất. Từng tốp “giặc nhà trời” từ trong mây bạc bổ nhào bắn phá. Phía Hàm Rồng, cao xạ pháo gầm vang. Từng cụm khói như những chiếc ô đen đặc, vây bủa lũ yêu tinh, ác điểu. đánh xong chúng lại chạy. Cứ thế, tốp này đến tốp khác thay nhau thả bom bi, bom phá, bắn rốc két, đại liên. Vùng quê đang yên ả thanh bình bỗng rung chuyển, ầm vang. Súng bộ binh như ngô rang. Súng cao xạ như sấm rền. Giữa vòm cong Lệ Môn bùng lên những cột nước cao 3-4m rơi lả tả như những khối thủy tinh vỡ vụn. Những trái bom quái ác! Xé toang vòm ngực sông! Khứa những vòng sóng bạc! Lấp lóa màu khăn tang. Vài chiếc thuyền bạn, bay hết lá ngụy trang, nằm lù lù, phơi mình trên sông nước. bây giờ tôi mới nhìn kĩ: Cơ man ơi là thuyền! To nhỏ có tới vài ba trăm chiếc nằm rải rác hai bên bờ sông. Thuyền nào cũng phủ là ngụy trang, giống như những con ngan có bộ lông xanh. Mỗi loạt bom nổ, vài con lại bị vặt lông nằm trơ trụi. Có thuyền trúng bom, gỗ ván bay lả tả. Lộ mất rồi! Tôi thốt lên như vậy. Lũ diều hâu đã phát hiện ra bãi trú thuyền. Chúng đảo lộn, nghiêng ngó, xà xuống bắn rốc két vào những lùm cây và tất cả những đám xanh xanh hai bên bờ sông. A! Cháy rồi! Cháy rồi! Trong làng reo lên không ngớt. Phía Hàm Rồng, một con quạ Mỹ trúng đạn, lửa bùng lên, đang giãy dụa, ngúc ngắc chúi đầu lao ra phía biển. Dưới bụng nó một thằng giặc lái lủng lẳng rơi! Rơi!... Phía bờ kia, từ trong làng, một con đường xanh chuyển động bò qua bãi trống về phía bờ sông. Lợi dụng lúc quạ Mỹ bay đi, họ ào lên thuyền cài lá ngụy trang và lội xuống vớt hàng. Giặc đến họ lại chạy.
Một chiếc thuyền của đoàn tôi trúng đạn, bị chìm. Những chiếc khác, mui đã sơn xanh loang lổ và buộc chặt lá ngụy trang nên sau nhiều loạt bom nổ vẫn che được mắt lũ giặc lái. Anh em chạy ra cứu gỗ. Tôi ngăn lại:
- Không cần! Gỗ nặng chìm xuống. Giặc đi ta sẽ vớt. Nằm im trong hầm kẻo lộ mục tiêu.
Giặc bắt đầu đánh phá bên này ác liệt. Bom đạn cày xới xung quanh nhưng thuyền
chúng tôi vẫn an toàn. Chúng tôi được lệnh rút sâu vào trog đồng. Tới nghĩa trang, tôi thấy một cô gái trẻ, tầm tuổi con tôi nằm gục lên ngôi mộ liệt sĩ, tay bấm cò súng còn vương lớp bùn đất, bèo dâu. Bên cạnh là nắm cỏ ***g vực chắc vừa nhổ ở ruộng lúa lên. Người cô còn ấm mềm. Vòm ngực trái bị một mảnh bom Mỹ xé rách, đầm đìa máu. Tôi ôm cô gái vào lòng, ứa nước mắt!...
Nhiều nơi, lúc đi qua còn nguyên vẹn, khang trang, khi về đã đổ nát, điêu tàn như sa mạc. Nhiều người thắt dải khăn tang vì người than bị bom Mỹ sát hại.
Chúng tôi vượt cầu Đoan Vĩ vào một đêm trăng tỏ. Trăn thượng tuần cong cong cánh nỏ, đứng gác giữa trời cao. Cau xòe tay đón gió, nâng trăng vàng lên cao. Cá bên thuyền nhảy vói đớp sao. Hàng trăm chiếc ô tô phủ bạt đang chờ đợi sang sông. Hàng trăm thanh niên nam nữ đang hì hục san lấp hố bom, sửa đường cho xe chạy. Những chiếc xe đạp lọc cọc. Những gánh nặng kĩu kịt ngược xuôi. Hai bên bãi sông thấp thoáng nòng cao xạ pháo trong lá ngụy trang. Trăng vằng vặc sáng!...
Một chuyến đi căng thẳng. Bây giờ nghĩ rợn cả người. Tôi cảm thấy như đi vào chiến dịch với bao trận ác liệt. Mỗi đêm một lần xuất kích. Mỗi ngày đêm bao bận hứng đạn bom. Vũ khí của chúng tôi chỉ là cuộn dây kéo thuyền, chiếc chèo, chiếc nụ, chiếc sào tre. Vậy mà từ năm 1966 đến năm 1972, mỗi tháng một lần, ngót trăm xã viên chúng tôi lao vào chiến dịch, cái chết rình rập trên đường. Những chiếc thuyền xi măng cốt tre, kéo dây đi chậm như rùa ấy, mỗi năm cõng trên lưng hai ba trăm tấn gạo chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam và cõng về hàng trăm tấn gỗ, hàng hóa cho huyện.
Những xã viên vượt dòng sông lửa ấy, giờ đây có người đã mất. Có người già yếu như tôi, có người đang làm chủ những con tàu năm, sáu chục tấn, đêm ngày xuôi ngược vận chuyển xi măng, đất đá xây duựng quê hương. Có người vào Vũng Tàu, ra Quảng Ninh sinh sống. Con cháu họ: Người làm thuỷ thủ, thuyền trưởng – Người mở xưởng sửa chữa tàu biển – Người làm chủ những đoàn tàu vận tải biển chở hàng hoá vượt đại dương tới các nước trong vùng hoặc các châu lục xa xôi.

















* Ghi theo lời kể của ông Đinh Hồng Lê – Nguyên Bí thư chi bộ, Phó chủ nhiệm HTX thuyền buồm huyện Thanh Liêm


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:25 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Đứng Giữa

Đinh Viết Bảo


Ngày chủ nhật! Mưa lai rai! Vợ chồng Sung đều ở nhà. Chị Lan vui vẻ hỏi chồng:
- Từ khi công tác đến nay, hơn chục năm trời, anh luôn có số phiếu cao nhất trong các kì bầu cử. Vậy mà chỉ loanh quanh cấp phó. Chưa bao giờ anh được làm cấp trưởng cả.
Sung thủng thẳng đáp:
- Cấp phó, tuy cái danh không to, không oai bằng cấp trưởng nhưng cái lợi nhiều khi còn gấp nhiều lần đấy. Tội gì mà to đầu chịu báng.
- Chỉ khéo biện bạch.
- Này nhé! Công việc trên giao, triển khai thực hiện, cấp trưởng phải chịu trách nhiệm chính. Sai sót gì, cấp trên, cấp dưới – lãnh đạo, nhân viên đều nhè vào mình mà kiểm.
- Thế bổng lộc, “lươn lậu” ai hưởng? Ông phó chăng?
- Dĩ nhiên là trưởng rồi! Nhưng coi chừng! Tham ăn nuốt cả thì hóc. Vậy nên, biết điều, họ đều chia cho anh. Có khi phần anh còn “xụ” hơn đấy.
Sung cao giọng nói như hát:
- Em biết không? Chỉ riêng dự án công trình giao thông thủy lợi nông thôn kiên cố, anh đã đút túi gần trăm triệu đồng, dãy ki-ốt chợ thị trấn huyện một trăm triệu, dự án 327 xóa đói giảm nghèo nửa trăm triệu nữa. Ấy là chưa kể những dự án khác, mối lợi khác. Tất cả số lợi đó đều được biến thành vàng, thành đất hoặc nhà cho thuê ở thành phố. Mọi thứ đều bí mật, an toàn.
- Làm cách nào mà được vậy?
- Tuyệt mật! nhưng em thì anh tiết lộ. Biết đâu có lúc em cũng dung đến. Bí quyết là: Phải nắm thực chất hạch toán từng dự án. Thường thì dự án nào họ cũng nâng lên so với thực tế từ 30-50 phần trăm để rút tiền nhà nước. Khi thi công họ lại giảm khoảng từng ấy phần trăm. Có khi giảm tới hai ba trăm phần trăm nếu gặp kẻ ngù ngờ. Số dôi dư này họ cưa đôi hoặc theo tỷ lệ thỏa thuận giữa bên A (Chủ dự án) và bên B (Chủ thi công). Với cách này mỗi dự án họ kiếm hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng hoặc hơn nữa. Các ông chủ của hai bên mà em gọi là cấp trưởng ấy đút túi, lo lót thủ tục, quà biếu cấp trên, đấm mồm lũ bậu sậu, cấp dưới. Nắm được điều này tự khắc bên A và bên B đều phải chia phần cho anh. Lỡ bị tố cáo thì cấp trưởng bị sờ gáy, chịu đòn. Còn anh đứng giữa, hưởng lộc mà vẫn vô can. Cái nhà ba tầng này và những thứ mà anh vừa kể chính là lộc của các dự án đấy. Đó là câu trả lời: Vì sao anh chỉ làm cấp phó.
- Còn “chiêu” nào nữa không anh? – Chị Lan hỏi chồng.
- Nhiều lắm! Tùy từng thủ trưởng, từng trường hợp cụ thể mà xuất chiêu nào ra. Tốt nhất là biết cấp trên cần gì để chiều, có điểm yếu gì để khống chế, buộc họ phải dựa vào mình, bảo vệ mình và chia phần cho mình.
Tự thưởng cho mình ly chè sen hảo hạng Sung nói tiếp:
- Tham mưu khéo! Đúng ra là lừa khéo, bảo họ bán cầu Long Biên có khi họ cũng kí
Đắc ý Sung kết luận:
- Quyền và gái, quyền chức và danh lợi mấy ai từ.
- Thế thì liên quan gì tới số phiếu bầu cử?
- Có chứ! Cấp trên vừa sợ vừa dựa vào anh để giữ ghế nhưng lại hay quở trách, hay trù dập nhân viên. Ngược lại, nhân viên vẫn hay nghi ngờ thủ trưởng. Anh tung đòn gió, tung hỏa mù làm cho họ ngày càng nghi kị nhau. Nội bộ cơ quan chia làm hai phái và một số lừng chừng đứng giữa mạnh bên nào theo bên ấy. Vậy là cả hai phái và phía lừng chừng đều dồn phiếu cho anh trong mỗi đợt bầu cử. Kết quả, số phiếu của anh thường cao hơn những người đã trúng cử. Điều đó, bề ngoài chứng tỏ anh có uy tín, có tài năng được tín nhiệm hơn. Theo nguyên tắc và lẽ thường thì anh phải làm cấp trưởng. cả cán bộ và nhân viên đều tin là như vậy. Nhưng anh đều nhường cho người khác, chỉ nhận cấp phó thôi. Mọi người đều cho anh là quân tử không tham quyền cố vị. Thế là anh được nể trọng mà vẫn nặng túi. Thậm chí còn nặng túi hơn cấp trưởng. Được chửa?
Chị Lan chép miệng:
- Dẫu sao cấp trưởng vẫn oai hơn.
- Dẹp cái oai hão ấy đi. Nằm giữa không mất phần chăn. Leo cao ngã đau! To đầu đau cái ngã! Cây cao có vẻ hãnh diện một chút nhưng hứng nhiều giông bão, sấm sét dễ đổ gẫy. Nhiều khi còn bị lũ cú diều đến đậu bậy bạ làm bẩn cành rách lá.
Nhấc cái bụng trống, cái than kềnh càng, mập ụ, cái mặt tròn nịnh, núc ních, đôi mắt hùm hụp, cái cổ vại lùn tịt bự thịt của người béo phì trước tuổi khỏi chiếc ghế bành đắt tiền Sung đủng đỉnh bước về phía vợ.
- Em hiểu chứ? Hay vẫn thích cấp trưởng cho oai? Anh chỉ làm cấp phó thôi. Chiến lược sống của anh là: Đứng giữa! Để thực hiện chiến lược đó anh trang bị cho mình cột thu lôi và cần câu. Đố em biết những thứ đó anh làm bằng gì?
- Sao tự dưng lại hỏi vậy?
- Thì cứ trả lời đi.
- Để chống sét trên đỉnh các nhà cao tầng người ta dựng cột thu lôi mạ bạch kim nối với dây đồng dẫn xuống ao, giếng hoặc chỗ đất ẩm ướt.
- Sai bét! – Sung cao giọng – Cột thu lôi của anh làm bằng Kim cương và Đô la.
Chị Lan trố mắt:
- Kim cương và Đô la? Sao được?!
Tấm thân phì nộn của Sung rung lên theo tiếng cười “khùng khục” trong cổ họng:
- Thế mà anh đã bắt khối Thiên Lôi thả xuống giếng nhà mình đấy.
Chị Lan ngơ ngác, lắc đầu. Sung giải thích:
- Đó là cách anh dùng mồi nhử để vô hiệu hóa búa rìu pháp luật của Tòa án, Công an và Viện kiểm sát. Ngoài ra còn một số vũ khí khác ngọt ngào mà đau đớn. Đó là cần câu. “Ngư tham mồi vị tử! Nhân tham thực (tức là tham lam) tất vong!” Đã nuốt mồi vào họng rồi thì to lớn hung dữ như cá mập, cá sấu cũng trở nên yếu ớt bất lực. Càng giãy dụa, lưỡi câu càng cắm sâu. Nhả ra chẳng được, nuốt chẳng xong. Cái mà anh nói ở đây là quan chức tham lam. Mồi nhử loại cá này chính là tiền và gái. Mấy ai qua được miếng mồi ngon, cửa ải mỹ nhân này. Lúc đó anh nói gì họ cũng phải nghe theo.
Cao hứng Sung nói như tổng kết hùng hồn:
- Tóm lại: nắm vững trên, xoa dưới, điểm trúng huyệt, đi giữa, đứng giữa là chiến lược sống, nghệ thuật sống mà bố anh đã từng làm. Có điều ở thời điểm này, anh làm tốt hơn ông cụ.
“Ác hiểm quá! Bất nhân quá!” Nghĩ vậy chị hơi rùng mình, khẽ thở dài. Bỗng bé Hoa – con gái anh vỗ tay reo lên:
- A ha! Bố sai rồi nhé! Cô giáo dạy con: “phải đi, phải đứng về bên phải”. Đi giữa, đứng giữa như bố có ngày ô tô, xe máy “tông” chết đấy.
- Chà chà! Con bé này ghê thật. Lấy luật giao thông để nói về con đường tiến thân của bố đây.
- Đường nào cũng vậy. Cô giáo con dạy thế mà.
Rồi Hoa chạy đến ôm cổ bố thỏ thẻ:
- Ở lớp con bạn nào nói như bố đều bị các bạn lêu lêu xấu hổ và cô giáo không phát phiếu bé ngoan đâu!


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:36 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Bắt Rắn Độc



Giặc đóng bốt Tâng một thời gian thì nhiều cơ sở bị lục soát, đốt phá. Nhiều cán bộ du kích bị bắt đem đi tra tấn, giam cầm. Nhiều người bị bọn chúng đấm đá rồi cho về. Còn một số cô gái trẻ bị đưa vào phòng các sĩ quan. Họ bị làm nhục rồi được tha.
Bọn nào chỉ điểm đây? Phải trừng trị chúng. Đồng chí Trịnh Công Luân – Xã đội phó, Trưởng ban dân vận xã mật giao cho nhân mối điều tra. Sau một thời gian kì công theo dõi, anh M – Lính Com-măng-đô cho biết: “Ổ rắn độc” này gồm 3 tên, đều là người trong xã làm chỉ điểm do Phòng nhì ( 2B ) chỉ huy trực tiếp và bí mật. Bọn này không đi lính Bảo an, cũng không ra vào đồn giặc, cũng bị đi phu như dân làng. Giặc đến làng càn quét, chúng cũng chạy như mọi người. Giặc bắt, chúng cũng bị đánh đập trước lính và dân làng. Chúng cũng la cà các quán nước, chợ búa hoặc làng xóm trong vùng. Có khi chúng ăn ngủ tại nhà quen, bạn bè hai ba ngày. Ai cũng nghĩ chúng đi thế để tránh giặc.
Nhận được tin báo của cơ sở nội tuyến, cán bộ đều ngạc nhiên, quyết định thẩm tra lại. Thông qua nhiều người, nhiều cách, đặc biệt là qua vợ lính. Từ vợ lính thân thiết với vợ cai, đội hoặc người tình của bọn Phòng nhì hoặc sĩ quan mới biết: Tất cả những việc làm trên là thủ đoạn che mắt để dễ bề hoạt động của lũ chó săn hại dân hại nước. Bọn Phòng nhì giao việc cho chúng ở những địa điểm riêng. Khi cần phải về đồn bốt, chúng cải trang, lính gác quen cũng không nhận ra. Khi cần nhận diện cán bộ, du kích, chúng ngồi trong phòng, trùm mặt kín, nhìn qua cửa sổ có che mành. Vậy nên, chúng chỉ ai thì đúng người ấy. Mỗi vụ “thắng lợi” chúng được quan thầy cho tiền và cho ăn chơi trác táng. Được hậu đãi, lũ chó săn càng ra sức do thám, săn lùng, gây tội ác. Phải diệt trừ lũ “rắn độc” này. Đó là chủ trương của lãnh đạo xã.
Biết tên T ngủ đêm tại nhà Hương chủ Đồng Phú, cách đồn Tâng 200m, tổ an ninh xã bí mật vào nhà rồi chộp hắn nhanh gọn. Hắn không kịp kêu đã bị nhét giẻ vào mồm, bịt mắt, trói dặt cánh khuỷu lôi ra thuyền đưa về Thong núi. Chẳng ngờ, dây thừng thiết chặt, miệng mũi kín hơi, đến trại Thong thì hắn chết.
Từ khi T bị bắt, những con rắn khác, mỗi lần ra khỏi hang, giặc đều cho lính bảo vệ. Một lần khác lính M lại đưa thư ra báo tin B đi công cán ở bốt Bô, trong thư nói rõ đường đi, đường về, thời gian và phương tiện đi về. Tổ công an bố trí hai nhóm đón lõng, bắt hắn. Nhóm một gồm đồng chí Cảnh, Thiện, Phiến phục ở trại Thong. Nhóm hai do đồng chí Luân và Ngữ giả làm người đánh lưới ở cánh đồng Mụ xã Thanh Tâm. Đợi mãi không thấy B xuất hiện, đồng chí Ngữ - Công an huyện sốt ruột:
- Quái! Sao đến giờ chưa thấy gì. Hay chúng đi đường khác rồi?
Xế chiều, một chiếc thuyền nan to có hai người ngồi đang đi tới.
- Có lẽ chúng đấy.
- Không phải! Theo mật báo thì hắn bơi thuyền câu đi trước, lính M bơi thuyền câu đi sau cách nhau chừng 10m cơ mà.
Hai người lại giả vờ đánh lưới. Bỗng có tiếng M gọi:
- Anh Luân ơi! Đánh lưới xa thế? Có được nhiều cá không?
Ngẩng lên, đồng chí Luân thấy B ngồi trên chiếc thuyền nan 8 thước do lính M chèo. Anh vội trả lời:
- Hôm nay sóng động, chưa được con nào.
Vừa nói đồng chí vừa đến gần lính M, bám tay vào dóng thuyền hỏi:
- Các anh đi đâu về thế?
B đánh trống lảng đáp:
- Chúng tôi đến thăm người nhà ở núi Bô.
Chỉ tay vào lính M, Luân quát:
- Chúng bay đi chỉ điểm chứ gì? Quân phản quốc!
Vừa nói, đồng chí vừa quật mái dầm vào đầu B. Nhanh tay hắn gạt được. Luân đứng dậy, thuyền câu chòng chành úp sấp. B nhào xuống lấy dầm bơi đánh Luân. Anh vớ được chiếc sạp, vừa đỡ vừa hét lên:
- Lũ phản động! Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!
Các đồng chí Ngữ và Thiện, Phiến từ ba phía ào tới. Lính M giả vờ bơi thuyền thục mạng chạy trốn. B bị bắt giải ra vùng tự do.
Khi hỏi cung, hắn biện bạch:
- Chúng tôi phải giả vờ làm cho giặc để chúng tin. Sau này sẽ làm nội ứng cho ta.
Đồng chí Nghiên – toà án huyện thời ấy mỉa mai:
- Chúng mày làm nội ứng ba tháng nữa thì xã Thanh Hương bị bắt hết cán bộ phải không?
Hắn cúi mặt ngồi im.
Tên chỉ điểm thứ 3 sợ quá vội vã xin sang lính Com-măng-đô. Sau đó được giác ngộ trở về với kháng chiến.
Trước đó tên ác ôn Lý Chân – Chánh hương chủ thôn Tâng cũng bị nhân mối M dẫn du kích bắt sống đem đi xử tội.














* M là lính Bảo an làm nhân mối cho ta. B,T là chỉ điểm cho địch.
* Tư liệu do ông Trịnh Công Luân – Cán bộ địch vận Thanh Liêm và ông Nguyễn Văn Chính – Tác giả cuốn sách “Lác Nội làng tôi” cung cấp.


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:40 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Đoạn Đường Chết



I. Đấu Tranh

Tên trưởng đồn người Pháp đập tay xuống bàn giận giữ:
- Mẹc xà lù! Tại sao đến nay các ông vẫn chưa thu phục được cái làng bé nhỏ ấy?
- Dạ thưa! Dân làng này cứng cổ và khôn như rận. Lần nào chúng tôi đến càn quét cũng chỉ thấy người già và trẻ con. Người lớn đi làm đồng đều mang theo gạo và quần áo để ở đầu bờ. Động dụng là chúng lẩn như trạch sang các làng khác.
Bang Lầy khúm núm:
- Thưa ngài! Họ ngấm nặng tư tưởng Cộng sản rồi ạ! Chả là trước năm 1945, tên Phạm Thanh Thu – một cộng sản nòi đội lốt thầy tu ở đây đã dụ dỗ lũ dân đen theo Việt Minh và xúi giục họ ngấm ngầm chống lại Mẫu Quốc. Khi Nhật Hoàng đầu hàng Đồng Minh, tên Lê Qúy Đang đã tổ chức mít tinh cướp chính quyền, thu đồng triện và tài liệu của Lý trưởng rồi tụ tập 200 người cùng các làng kéo lên Phủ Lý cướp Huyện đường. Chiến tranh bùng nổ, chúng cắt đứt hai đoạn đường I ( đoạn đầu và cuối làng ), đào hào, đắp ụ, rào làng kháng chiến như Lãnh Chàng ngày xưa, rồi gài chông, mìn chống lại Bảo an thôn Yên Phú ròng rã 11 tháng trời. Chúng còn dẫn du kích về bắt ông Lý Chân – Chánh hương chủ thôn Tâng đem đi. Nếu ngài không đem quân về đóng bốt Tâng thì…
- Té ra ông bang Lầy đang ca ngợi Việt Minh và lũ dân đen … Ngu ngốc!
Hắn dằn giọng và kéo dài từ “Ngu ngốc” có ý cảnh cáo, khinh bỉ bang Lầy. Biết quan thầy giận, bang Lầy tím mặt, cúi đầu nuốt nhục như nuốt cục đắng ở cổ. Hắn quắc mắt xổ ra một tràng tiếng Tây rồi ném những lời sắc lạnh như dao vào tai lũ sĩ quan cấp dưới:
- Nghe đây! Cái làng Lác Nội bé nhỏ chỉ cách chỗ chúng ta ngồi chừng 500m và bốt Cà khoảng 800m nhưng rất quan trọng với cả hai bên: ta và đối phương. Việt Minh từ vùng tự do mênh mông qua rừng Bồng Lạng vượt đoạn đường này vào Thanh Tâm, núi Đất toả đi các nơi khác gây dựng cơ sở chiến tranh du kích. Nếu không muốn xe cộ, binh lính ta đi từ bốt Cà đến bốt Tâng bị mìn xé xác, đồn bốt của mình thành ốc đảo, giường ngủ của mình thành nơi phóng dao găm, lựu đạn của du kích thì các ông phải ép được làng đó quy thuận chính phủ quốc gia.
Hắn chém mạnh tay vào không khí, mắt lồi lên như ốc nhồi, nghiến hai hàm răng lại, rít lên:
- Phải biến làng này thành đoạn đường chết của Việt Minh. Phải dùng bàn tay thép bọc nhung. Quân đội là bàn tay thép. Ông bang Lầy là bọc nhung. Phòng nhì là chiếc mũi thính. Tôi ra lệnh: Đóng cống Tâng cho ngập các cánh đồng phía Đông đường I. Bắn bỏ tất cả những gì di động trên đồng ruộng hai bên quốc lộ. Tăng cường càn quét. Cần thiết đốt sạch, phá sạch làng xóm, giết sạch “lũ gà trống” cứng cổ. Còn “mái tơ”, “mái ghẹ” cho binh lính thoải mái… Đói rét và chết chóc, lũ dân đen phải từ bỏ Việt Minh mà theo ta.
Giặc nói là làm. Chúng khủng bố tàn khốc. Đau thương bao trùm làng xóm. Nhân dân phải tạm lánh sang Lác Chiều nhưng vẫn về cày cấy. Để tránh đôi mắt cú vọ và đạn bắn gần của bốt Tâng, dân làng tự đắp một con đường cỏ năn, lác từ cuối Lác Chiều đến thôn Mụ để đi về được an toàn hơn. Giặc bắn cụ Tự Chuộng chết, chị Thuận bị thương. Cả làng phẫn uất. Tổ Đảng tổ chức hàng trăm cụ già, phụ nữ cùng các làng Nguyễn, Lác Chiều, Đồng Phú lên bốt đấu tranh. Họ kêu khóc vật vã, đòi bồi thường cho nạn nhân, đòi mở cống Tâng, đòi cấm lính bắn ra đồng, đòi chồng con đi lính trở về. Bang Lầy trơ trẽn nói:
- Vì các ông bà theo Việt Minh, không chịu theo chính phủ quốc gia.
- Chúng tôi chẳng biết Việt Minh ở đâu mà theo. Chẳng biết “Cuốc ra, cuốc vào” nào. Chỉ biết rằng các ông về đây giết đồng bào. Chính phủ nào, quân đội nào cũng do dân đẻ ra, có dân nuôi mới sống được. Vậy mà lính các ông lại bắn vào dân, không cho họ làm đồng.
Người này vừa dứt, người khác tiếp lời:
- Từ ngày các ông về đây, chỉ thấy lính Tây, lính ta càn quét, sục sạo, đốt nhà, cướp của, giết người, hãm hiếp phụ nữ. Có cụ già sáu bẩy mươi tuổi chắp tay van lạy: “Con già rồi, xin quan lớn tha cho” vậy mà các quan lớn vẫn không tha. Có cụ bị nhiều quan lớn hiếp quá ngất đi, suýt chết. Các ông bảo vệ dân thế ư?
Vừa nói, các bà vừa làm động tác khiến lũ giặc phải ngượng ngùng cúi mặt.
- Là người Việt Nam, ai nhìn thấy cảnh ấy chẳng đau lòng.
Có người hỏi bâng quơ:
- Nếu mẹ, vợ con mình bị như vậy, có chịu được không?
Rồi họ bóng gió:
- Các anh Bảo Hoàng ơi! Liệu vợ con các anh ở nhà có thoát cảnh này không?
Người kêu khóc vật vã. Người thi nhau tố cáo, chì chiết đòi hỏi, đấu tranh. Cuối cùng giặc phải nhượng bộ:
* Chịu bồi thường quan ván, chi phí chôn cất cụ Tự Chuộng, đưa chị Thuận đi nhà thương cứu chữa.
* Mở cống Tâng và cấm binh lính bắn ra đồng.
* Cho dân được cày cấy 53 mẫu ruộng bên quốc lộ I từ 7giờ sáng đến 5 giờ chiều.
*
* *


II. Bảo vệ đường dây


Tên đồn trưởng Pháp huênh hoang:
- Mới dung bàn tay thép chưa đầy ba tháng, Lác Nội đã tan tành, trở thành phòng tuyến trắng. Từ đây, qua ống nhòm, ta có thể dùng đui-sết quét đến tận bốt cà. Cái làng cứng cổ ấy đã thành “đoạn đường chết” ngăn chặn Việt Minh từ Bồng Lạng vượt qua đây, đánh vào lưng ta.
Ngừng một lát, hắn cao giọng:
- Con ngựa bất kham, sau khi quất cho quắn đít phải vuốt ve và cho nó ăn mới thuần phục được. Ông bang Lầy! Bây giờ tôi cần bàn tay nhung của ông đấy. Còn mấy ngôi nhà, ta không cần phá nữa, hãy dụ chúng về rồi thu phục dần.
Tại Lác Chiều, tổ Đảng Lác Nội họp bàn cách đối phó. Có nhiều quan điểm trái ngược nên tranh luận gay gắt. Cuối cùng đi đến quyết định: Phải dùng gậy ông đập lưng ông, lấy kế giặc làm kế mình. Nghĩa là phải vào Tề. Có gắng đưa người mình vào bộ máy làng Tề hoặc điều khiển Chánh hương chủ, bảo an làm cho mình. Phải biết, khống chế, hoặc khử được những tên chỉ điểm, tay sai ác ôn. Phải biến việc thu nộp các khoản cho giặc thành cho mình. Tóm lại, phải biến làng Tề Lác Nội thành làng của Việt Minh. Việc này rất khó khăn, nguy hiểm nhưng phải làm và làm thật tốt. Phải biến đoạn đường này thành đất chết của kẻ thù, thành đường dây giữa vùng địch và vùng tự do. Phải quyết tâm bám ruộng, bám làng, bảo vệ an toàn đường dây huyết mạch của huyện. Thời kỳ đầu phải mềm dịu, tránh đối đầu, kiên trì chịu đựng để dân bám trụ được làng. Có nước, cá mới sống.Có dân ở làng, cán bộ mới được che chở…
Ai sẽ thực hiện nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, nguy hiểm này? Hai chục Đảng viên tình nguyện bám trụ, vận động các ông bà già, con trẻ về làng. Lác Nội bị tàn phá thành phòng tuyến trắng, nay đã có dân về ở, đấu tranh hợp pháp với địch. Ban ngày, du kích, cán bộ chà trộn đi làm đồng hoặc về làng chốt trong các hầm bí mật theo dõi địch, bảo vệ đường dây. Đồng chí Phạm Văn Chài, Bùi Văn Thoa, Trương Thị Miền, Bùi Thị Khải… làm nhiệm vụ dẫn “khách” ( cán bộ vượt đường ) từ Thong, Lời, Trà Châu… qua đường I vào trại Kênh, vượt sông đấy qua Bồng Lạng ( xã Thanh Nghị ). Mỗi đoàn chỉ có hai cán bộ đường dây dẫn “khách” ( một đi đầu, một đi cuối ). Mùa nước phải đi thuyền, tuỳ theo “khách” đông hay ít mà huy động thuyền to hay nhỏ, nhiều hay ít. Mùa cạn phải lội đồng nước đầy năn, lác, đầy muỗi và đỉa. Càng tối tăm, mưa rét càng lắm “khách” vượt đường. Có đoàn từ một đến hai người, có đoàn hàng trăm, hai ba trăm người. Nếu địch rình ở Lác Nội thì mạo hiểm đội bèo tây đi sát bốt Cà, nghe thấy cả tiếng lính ăn uống, nhậu nhẹt hoặc cai đội đú đởn với gái điếm. Chủ và khách đều không nói, chỉ lặng lẽ nhìn xuyên bóng đêm, rạch lối mà đi, tai nghe ngóng và nhanh chóng qua đường. Khi có giặc phục kích hoặc pháo kích, pháo sáng hay đèn pha quét từ bốt ra phải nằm im trên nước. Muỗi đốt, đỉa bám không nhúc nhích, không phát ra tiếng động và ánh sáng. Có khi phải nằm hàng tiếng, hai ba tiếng đồng hồ, gần hết đêm hoặc phải trở về chỗ cũ. Chẳng may có người bị thương phải nghiến răng chịu đựng, không rên rỉ. Có cô gái đường dây phải dìu đỡ, cõng người bị thương, hoặc ôm lội trong năn, lác đưa về làng cơm cháo, thuốc thang trong hầm bí mật rồi tổ chức đưa đi chót lọt.
Tổ quân báo gồm anh Bình, Cơ, Tráng, Siêng, Diệm và cô Toan cùng với du kích theo dõi địch suốt đêm ngày, canh gác hai đầu đường ( cuối phố Tâng và đầu bốt Cà ) làm ám hiệu khi có động. Cần thiết thì đánh giặc để bảo vệ cán bộ. Cứ thế, bốn năm trời ngày nào, đêm nào cũng bám đường theo dõi địch, không một phút lơi lỏng. Những người làm đồng, bắt cua, đun riu, đánh lưới, các ông bà già, trẻ em ở nhà đều là tai mắt của du kích. Hàng ngàn cặp mắt, đôi tai của dân theo dõi địch mọi nơi, mọi lúc. Có giặc, họ dùng ám hiệu báo tin. Cuộc đấu tranh bảo vệ đoạn đường dây đầy nguy hiểm, can trường và khôn khéo. Ngày nào, đêm nào giặc cũng đi ba-tui, dò mìn, rình bắt cán bộ vượt đường, rồi vào làng sục sạo, cướp bóc, hãm hiếp, trêu chọc phụ nữ. Có khi chúng hiếp cả đàn ông, trẻ con và làm nhiều chuyện bỉ ổi khác nữa. Những trường hợp như vậy, Chánh hương chủ lại lên trình với bốt Tâng để tên Đồn trưởng nhắc nhở, răn đe lính. Có lần Hương chủ cho người nhét giẻ vào mồm, bịt mắt và trói vào cột để du kích chuyển cả một kho gạo, vải vóc của giặc cấp cho dân làng Tề rồi cho người báo quan Tây là Việt Minh đến cướp. Suốt bốn năm trời đấu tranh! Suốt bốn năm trời giặc gây đau thương, cán bộ và dân làng phải kiên trì chịu đựng để che mắt kẻ thù. Có lần phát hiện xác liệt sĩ giữa cánh đồng trương phềnh, hôi thối, đồng chí Deo – trưởng thôn cùng 11 phụ nữ thay nhau canh gác, khiêng vác tới gò cao cách làng gần 1000m chôn cất chu đáo. Lần khác ông Dương, ông Diệm, chị Định lại lấy xác một nữ cán bộ đường dây là Đinh Thị Khánh người thôn Gừa, đem từ dốc đường I, lội đồng nước tới thôn Môi cách đó hơn một cây số giao cho tổ đường dây.
Ông Trương Văn Ty tàn tật, dị dạng, ăn mặc rách rưới nhưng biết tiếng Pháp và gan dạ, lợi dụng giặc không nghi ngờ, ngày ngày ra vào bốt Tâng xin ăn để dò xét tình hình địch, báo tin cho ta.
*
* *


Giặc đến thì đánh! Khi cần đánh giặc mà đi! Sau này đánh giặc không cho chúng đi!
Giữa tháng 12-1952, ta phục sẵn chờ giặc dẫn xác vào trận địa, bất ngờ nổ súng giết chết 2 tên, bắt sống 5 tên thu 3 tiểu liên, 2 súng trường.
Đêm 29 tết năm 1953, tổ quân báo do anh Bình chỉ huy cùng anh Hải, Kiên, cô Ca, cô Toan chuẩn bị cho bộ đội độn thổ. Một trung đội dò mìn đi trước, một xe Zép chỉ huy đi sau. Giặc lọt vào ổ phục kích. Ta như thần Đất hiện lên, nổ súng giết chết một tên, bắt sống và thu toàn bộ vũ khí, đốt cháy xe Zép ngay tại chỗ.
Lác Nội – nơi bọn giặc mưu toan biến thành “đoạn đường chết” của Việt Minh đã trở thành mồ chôn thây chúng.
Trên đoạn đường này, hàng ngàn lượt cán bộ, dân công, bộ đội đã vượt qua. Một số cán bộ cao cấp như đồng chí Đỗ Mười, Trần Quyết, Văn Tiến Dũng, Lê Thành đã qua đây. Hàng ngàn tấn lương thực, vũ khí, thuốc men cũng vượt đoạn đường này. Cả làng Lác Nội đã anh dũng, bền bỉ, mưu trí bảo vệ mạch máu giao thông, 6 Đảng viên đã hi sinh cho đoạn đường dây thông suốt.
Sau này, các ông Nguyễn Văn Oanh, Nguyễn Ngọc Cửu, Nguyễn Văn Sinh – những cán bộ cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quân đội qua đoạn đường này phải thốt lên:
- Dũng cảm quá! Gian khổ quá! Mỗi đêm là một lần ra trận, đối mặt với tử thần. Chúng tôi đi một vài lần đã thấy căng thẳng. Các đồng chí ấy – những du kích – những người dân nghèo khổ liên tục bám đường, bảo vệ đoạn đường huyết mạch ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác trên một ngàn ngày.


* Theo tư liệu của ông Nguyễn Văn Chính – thôn Lác Nội xã Thanh Hương.


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:41 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Hạt Thóc Vàng Qua Vành Đai Lửa


Xã nằm trong tầm đại bác và trọng liên bắn thẳng của giặc. Hết càn quét chúng lại bắn ra đồng bất kì lúc nào. Vẫn phải bám ruộng mà làm, bám làng mà sống. Vậy mà khi lửa đỏ đuôi, giặc lại cho xe cóc chạy ngang dọc cánh đồng. Lúa bị vò nát, chìm dưới bùn nước. Đói rét treo lơ lửng trước mặt. Hạt thóc trở thành hạt vàng.
Làm thế nào để thu nộp đủ thuế cho nhà nước? Chỉ có dân mới giải được bài toán hóc búa này. Các làng phía Bắc xã đều đồng lòng:
- Đói thì ăn ngô, ăn khoai. Hạt thóc vàng, nhất định phải dành nuôi quân đánh giặc. Đất nước giải phóng sớm ngày nào thì dân đỡ khổ đau ngày ấy.
Họ cho nhau vay lúa để nộp thuế. Họ bảo nhau đào hầm giấu lúa thuế để giặc khỏi tìm thấy. Tháng 7 năm 1951, giặc kiểm soát gắt gao đường I hòng chặn đường giao lưu và chuyển lương thực giữa vùng địch hậu ra vùng tự do. Đồng chí Lê Hải – Bí thư huyện uỷ trực tiếp về Thanh Tâm giao nhiệm vụ phải khắc phục khó khăn nguy hiểm, thu nộp thuế và chuyển lương thực ra vùng tự do, phục vụ tiền tuyến. Phải vượt qua lửa đạn bằng hai cách:
Một bộ phận do ông Liều thôn Trà Châu dùng thuyền chở lúa xuôi cống Đăng, cống Bồng đi Ý Yên ( Nam Định ). Tuyến cụ Đậu phụ trách đi phố Cháy vào La Mai, La Phù, Ninh Bình, chợ Đập, chợ Bến Quýt – Hoà Bình. Ông Quân thôn Môi, ông Cửu thôn Kho, ông Ảm thôn Chiềng, thôn Thong và Khe Đá. Họ tổ chức xếp rơm chéo chữ thập, đổ lúa vào, gói lại, dùng lạt tre bó chặt giao cho thanh niên, du kích lợi dụng đêm tối chở vào phố Lác vượt đường I, qua sông Đáy sang Bồng Lạng. Hai đầu đường ( cuối phố Cà, đầu phố Lác ) phải canh phòng và dùng tín hiệu báo động. Khi giặc bắn đại bác, pháo sáng hoặc đi ba-tui, mọi người phải nằm im trên đồng nước. Con đỉa bám không nhúc nhích, con muỗi đốt không được đập. Yên tĩnh lại tiếp tục hành trình. Cứ thế, qua đôi tay rắn chắc, đôi vai vạm vỡ của các chàng trai, cô gái, hàng chục tấn thóc vàng từ Thanh Tâm đêm đêm vượt qua đường I, đồng nước, sông sâu, tuyến lửa vào vùng tự do.
Hai làng Sở và Đại Vượng cách bốt Bô chừng 500m, đêm ngày Bảo Hoàng, chỉ điểm rình mò, lùng bắt cán bộ, du kích, người thu gom thuế và vận chuyển lương thực. Anh Phạm Văn Đức – trưởng thôn Đại Vượng về thu thuế Nông nghiệp bị giặc bắt, tra tấn dã man rồi thiêu sống. Buổi hành hình người Đảng viên trẻ tuổi, giặc bắt dân làng ra đứng để uy hiếp. Tên Đồn trưởng hung hãn đe doạ:
- Kẻ nào nộp thuế cho Việt Minh hãy nhìn nó mà chừa!
Việc thu thuế ở đây càng khó khăn, nguy hiểm. Chị Nguyễn Thị Sưu thôn Đại Vượng, Nguyễn Thị Thông thôn Thong là những phụ nữ xinh đẹp, duyên dáng, ăn nói dịu dàng, lại tháo vát được giao nhiệm vụ này. Một kế hoạch táo bạo, thông minh được thực hiện. Dựa vào vợ lính và các gia đình thân thiết với lính, các chị rủ nhau đi buôn thóc. ( Hình thức trá hình để thu và vận chuyển thuế )
Họ chia đi các nhà “đong thóc” để thu gom thuế. Gặp Bảo Hoàng, các chị sởi lởi chuyện trò, đánh bạo làm quen:
- Chả là hồi này cấy cày khó quá. Chẳng biết làm gì để sống. Chúng em rủ nhau đi buôn kiếm chút lời lãi giúp đỡ gia đình. Chẳng lẽ chết đói à? Cấy cày thì các anh ngồi trên đồn tỉa súng máy, giót đại bác, Tây thì cho xe quần đảo.
- Thế thì lên đồn ở với anh
- Sợ lắm! Nhỡ Việt Minh đánh đồn thì sao?
- Làm vợ lính chán lắm. Suốt ngày đi đánh nhau. Lúc chúng em cần nhất là ban đêm thì lại ở trên đồn. Hòn tên mũi đạn biết đâu mà lường. Lỡ ra… Chúng em ở goá à? Có con rồi bồng bế theo các anh chẳng được, ở nhà lại sợ dân làng chê cười là theo giặc, vợ giặc thì khổ nhục lắm. Chi bằng cứ lấy quách một anh lực điền đen như cuốc thui, củi mục, già như ông lão mà vợ chồng sớm tối có nhau chẳng sướng à?
Vừa nói, các chị vừa khúc khích cười:
- Các anh cứ về làm ruộng đi, chúng em theo liền. Lấy chồng như các anh sợ lắm! Sợ lắm! Mà khi lính ở đồn khác đi càn, vớ được, chúng cũng có tha đâu. Các anh không biết à? Có nơi lính Com-măng-đô – cũng là người ta mà vẫn hiếp vợ lính Bảo an, Bảo Hoàng. Có chị kêu xin: “Con van ông! Con lậy ông! Con là vợ lính. Nhà con cũng đi lính như ông. Xin ông tha cho!”. Thế là chị ta bị mấy cái tát: “Tha này! Tha này!”. Rồi họ vẫn đè chị ta mà hãm hiếp. Có chị, nhiều lính hiếp quá bị chết. Sau trận càn dân làng về thấy chị chết cứng, không một mảnh vải che thân. Mình mẩy, mặt mũi, ngực vú đầy vết sưng tím do bị đánh và bị cắn. Nghĩ mà thương xót quá!
Lời nói ngọt ngào, nụ cười duyên dáng, đôi mắt lúng liếng mê hồn của các cô khiến bọn lính mềm lòng, say như điếu đổ, tin sái cổ.
Đến phiên chợ Mền – Thanh Khê, chợ Tâng – Thanh Hương các chị chở lúa sang “bán”. Gặp người nói đúng mật hiệu, các chị giao thóc, nhận tin từ ngoài gửi vào và chuyển tin từ trong báo ra. Cứ thế, mỗi phiên chợ giao được ba, bốn tạ.
Tây đen, Tây trắng, Bảo Hoàng lườn lượt giễu khắp chợ, nghiêng ngó “xì xồ”, khám xét tìm bắt cán bộ Việt Minh. Nhìn những con “đười ươi, khỉ đột”, nhiều cô gái phát khiếp. Có cô thấy thằng Tây trắng cao to, nhìn chòng chọc vào thúng lúa, tưởng hắn biết việc làm của mình, cô run lên, mặt tái mét. Sợ bị lộ, nhanh trí, chị Sưu kêu lên:
- Bà con ơi! Em nó cảm! Nó cảm!
Rồi chị lấy hộp cao con hổ, vạch ngay áo ngực cô gái giữa thanh thiên bạch nhật, xoa dầu vào chỗ ấy. Các bà, các chị xúm lại. Tên “khỉ đột” cười khùng khục như gà trống bẽn lẽn bỏ đi. Cái cổ nó như cổ trâu ngất ngểu.
Cứ thế, hạt thóc thuế hai thôn Sở và Đại Vượng ngày ngày qua mắt lũ diều hâu, cú vọ ở bốt Bô, bốt Thanh Khê và bốt Tâng vào Bồng Lạng, Trung Hiếu, La Phù trót lọt. Đường dây liên lạc giữa vùng tự do và xã Thanh Tâm được nối liền. Các chị còn cảm hoá được một số lính Bảo Hoàng làm nhân mối cho ta ở bốt Bô.





Theo lời kể của ông Phạm Văn Nội – Bí thư chi bộ, Chủ tịch UBKC xã Thanh Tâm thời kì chống Pháp và cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Tâm”


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:42 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Trận Chiến Ác Liệt

Đêm 20 rạng ngày 21-5-1954, Thanh Tâm và ba thôn Chanh xã Liêm Minh không ngủ. Cán bộ, du kích, giao liên bận rộn dẫn bộ đội về các làng, bố trí vào nhà dân. Các gia đình sửa soạn nhà cửa đón bộ đội về bao vây bốt Tâng, tiêu diệt địch ở Thanh Liêm - Hà Nam.
Đơn vị đầu tiên về Trà Châu núi lúc 2 giờ 30 phút. Đơn vị muộn nhất lúc 6 giờ. Tại Chanh thượng, Chanh trung, Chanh hạ bộ đội về lúc 5 giờ. Tất cả quân dân đều mệt. Bộ đội các làng chưa kịp bố phòng, đào công sự, chưa kịp ăn uống. Sau một đêm leo núi, vượt đồng chiêm ngập nước ai cũng chỉ muốn ngủ một lát cho lại sức. Nhiều đồng chí muốn ngủ, mắt cứ díp lại. Ở ba Chanh có chiến sĩ mới mắc xong màn, nhiều đồng chí còn đang mắc dở thì xe cóc từ phố Phủ - Bình Lục đã như cua bò khắp tuyến phía đông xã. Có tới hàng trăm cóc to, cóc nhỏ đậu như càng cạc hướng mũi súng tấn công vào các làng suốt từ Đùng đến Chanh thượng. Trên trời máy bay giặc gầm rú. Trên núi Chúa Ngự giặc đông như kiến cỏ. Bộ đội và nhân dân phía đông núi Đất bị bao vây rồi. Buổi bình minh yên ả đầy hương lúa bỗng náo động bởi tiếng gầm rú của bầy ác quỷ. Các ông già, bà lão chạy vào chân núi. Các cơ quan huyện sơ tán. Thanh niên, du kích ở lại các làng phối hợp chiến đấu. Vì chưa quen địa hình đồng chiêm trũng, các đơn vị bộ đội nói tiếng Nghệ An, Hà Tĩnh triển khai tác chiến suốt các lũy tre làng im lặng chờ giặc. Lệnh phát ra. Bộ đội hướng về hai phía: Đánh xe cóc phía đông làng và chống quân bộ từ núi Non xuống bảo vệ làng xóm, cơ quan và nhân dân.
Phía Thanh Tâm ba bề bốn bên đều có giặc. tám chiếc máy bay lồng lộn xả đạn vào đoàn người chạy tán loạn từ Bưởi xuống Trà Châu và dọc đường I. Hơn 50 chiếc xe lội nước cùng bộ binh giặc từ Ý Yên lổm ngổm như bọ hung bao vây phía nam và đông bắc trại Sở rồi dàn hàng ngang án ngữ đoạn đường suốt từ mỏm Chanh đến chùa Trình, xả súng lớn vào các làng chân núi. Hơn ngàn giặc từ Phủ Lý chia làm hai ngả. Một ngả phối hợp với bốt Non, bốt Cõi chiếm núi Tháp, núi Ông Voi, núi Trà Châu, nã đạn xuống chân núi. Một ngả phối hợp với 300 quân bốt Tâng tiến vào Lời, chiếm núi Voi, tràn xuống núi Trà Châu. Các làng Mụ, Thong, Triềng, Kho, Sở … đều bị vây kín. Riêng khu Miễu Thổn, nơi đặt chỉ huy sở, khu hậu cần, dân công và một tiểu đoàn chủ lực bị bao vây dầy đặc. Trận này giặc huy động khoảng 3000 quân, hơn trăm xe cóc và 8 máy bay khu trục.
Trận chiến ác liệt ngay từ phút đầu. Giặc dùng đại liên từ xe cóc bắn vào chân núi và máy bay bắn xuống. Đại bác từ Cõi và bốt Tâng bắn cấp tập. Cả vùng núi Đất Thanh Liêm biến thành một cái đe thợ rèn khổng lồ. Máy bay giặc điên cuồng bắn phá cả một vùng rộng lớn dọc sông Đáy, đường I và hai bên chân núi Đất. Hơn 50 lượt ác điểu xuất kích. Tiếng máy bay, tiếng xe lội nước gầm rú. Bom bi nổ xé trời dậy đất, lúc giòn giã, lúc thưa thớt. Đất đá, tre, gỗ, lá rơi lả tả, cây đổ ào ào. Xe cóc lồng lộn quần nát lúa. Tây trắng, Tây đen, Bảo Hoàng hung hăng tấn công vào các làng hết đợt này đến đợt khác.
Từ trong những lũy tre, hầm hào du kích và bộ đội chờ giặc đến gần rồi bắn trả quyết liệt. Tại thôn Môi, xe cóc địch từ phía Nam làng bắn sung cối và đại liên vào. Một số dân và bộ đội bị thương vong. Giặc mấy lần liều chết xông vào làng đều bị đánh bật. Thấy không thể vào được, chúng phải rút về khu vực Sở và Trà Châu núi, ứng cứu cho đội quân ở Chanh Chè.
Ác liệt nhất là chiến sự ở Thong, Sở, Miễu Thổn, ba Chanh và Đùng. Giặc tập trung binh hỏa lực vào đây. Suốt buổi sáng xe cóc giặc như lũ trâu điên húc vào làng Sở. bộ binh giặc núp sau xe tấn công vào làng. Một đại đội chủ lực của ta và du kích thôn Sở kiên cường chống giữ. Quá trưa, lợi dụng ta ít đạn, chúng có thêm viện binh tràn vào làng. Du kích, bộ đội quần nhau với giặc trong từng ngõ xóm, đống rơm, từng căn nhà, góc sân. Giặc đông, ta ít. Họ dùng lựu đạn, dao găm, dao phay, lưỡi lê, báng súng hoặc lao vào quật ngã giặc, bóp cổ chúng cho đến chết rồi cướp súng giết giặc. Có chỗ thi hài chiến sĩ ta và xác giặc chồng chéo, đan cài nhau. Giặc tràn vào sân thì ta rút vào nhà. Chúng ném lựu đạn chưa kịp nổ ta chộp lấy tung ra. Giặc chết chồng đống. Nhiều chỗ bộ đội ta vật nhau với giặc gẫy giường, đổ vách, bật cột hiên. Ta không còn đạn phải đánh giáp lá cà, lao vào giặc mà bóp cổ. Cậy thế đông quân, chúng cứ thế ùn ùn kéo vào. Cuộc chiến đấu không cân sức, bộ đội ở đây chiến đấu đến người cuối cùng: 7 du kích hi sinh, 19 người dân bị giết hại. Xác giặc ngổn ngang. Nhiều đồng chí hi sinh vẫn ở trong tư thế tấn công.
Tại khu Miễu Thổn, ta và địch giành nhau từng tấc đất. Giặc mở nhiều đợt tấn công đều bị bật ra. Ở các làng, nhân dân tự nấu cơm tiếp tế cho bộ đội. Dưới làn bom đạn, nhân dân Khe Đá dũng cảm phục vụ chiến đấu. người tải thương, người tải đạn, người nấu cơm đưa đến các tổ tác chiến. Ông Sách bị thương vẫn hô hào, đôn đốc bà con phục vụ bộ đội. Các bà các chị, các ông mỗi người một việc không ngớt. Cụ Tào vừa nấu cơm vừa đi vào các nhà lấy cơm cho vào thúng chuyển đến các chiến hào. Giặc pháo kích vào làng. Một quả rơi giữa sân ( nơi hậu cần và chăm sóc thương binh) chưa nổ. cụ vơ rơm lót tay bê quả đạn quẳng xuống khe núi. Quả đạn nổ dưới lòng khe rung chuyển, không ai việc gì. Mọi người thán phục, cảm ơn hành động dũng cảm này. Ta mở nhiều đợt tấn công chiếm đỉnh cao đều bị hất xuống. Chúng cố dồn ta vào Miễu Thổn để tiêu diệt. Ta chống trả quyết liệt. Đạn pháo, đại liên giặc từ ngoài bắn vào, từ sườn núi bắn chéo cánh sẻ, từ máy bay trút xuống xối xả. Tất cả bom đạn giặc đếu đổ vào đây. Miễu Thổn như một chảo lửa, chảo ngô rang. Hơn hai trăm mét vách đất đá sạt lở vùi lấp một số dân công và bộ đội.
Các chiến sĩ ta như dầu sôi lửa bốc, trút căm thù lên nòng súng, lưỡi lê đánh địch. Một đơn vị của ta từ nhà cụ Đinh Liễu đánh thốc lên núi. Bộ đội ta ào ạt xông lên truy đuổi giặc. Một cuộc truy kích ngoạn mục. Giặc chạy tán loạn và bị đánh bật xuống chân núi mỏm Chanh. Ở đây chúng bị một đơn vị của ta đánh thọc ngược. Giặc bị kẹp giữa, chết vô số kể. Lũ tàn quân thất thểu chạy về Sở lên xe chuồn thẳng.
Ở khu vực Thong, trận chiến cũng quyết liệt không kém. Ba trung đội huyện cùng du kích Thanh Hưong, Triềng, Thong quần nhau với giặc suốt 10 tiếng đồng hồ, từ núi Lời đến kẽm Đùng.
Tại núi Lời, kịch chiến diễn ra trên sườn đồi. Ta và địch rượt đuổi nhau, đâm nhau, vật nhau trên rãnh chè, dưới chân núi, trong nhà dân. Tại nhà ông Tường, một chiến sĩ ta quật nhau với tên Bảo Hoàng. Anh lao vào cướp súng trên tay hắn. Cả hai giằng co, đu đẩy rồi buông súng ra vật nhau. Thằng giặc tháo chạy. Anh tóm chân hắn. Hắn ôm cột hiên, đạp vào mặt anh lia lịa. Miệng anh bật máu nhưng vẫn vùng dậy, ghì hắn vào cột hiên. Cột nhà rung chuyển rồi bật tung. Cả hai văng xuống sân. Vẫn vật nhau, lăn từ sân ra vườn. Cây cối dập nát. Quần áo rách bươm. Vẫn ghì nhau, lăn từ vườn ra ao cạn, sền sệt bùn, quần nhau nát ao khoai nước. Cuối cùng tên tay sai bán nước bị bóp cổ lè lưỡi, mắt lồi lên như sắp bật ra ngoài. Đến 3 giờ chiều thì ta chiếm được núi Tháp, núi Đòn Gánh, núi Ông Voi, đánh bật địch về phía Đùng. Giặc hốt hoảng lội qua đồng ruộng tháo chạy, không ngờ bị súng máy của ta từ núi Đụn và núi Chanh trung quạt chéo cánh sẻ chết ngổn ngang.
Tại phía đông núi Đất, trận chiến diẽn ra suốt ngày. Bộ đội ta ở giữa. Giặc ở trên xe cóc phía ngoài và trên núi. Các đơn vị chia làm hai nửa vừa bắn giặc trên núi vừa diệt xe cóc dưới đồng. Những con “bọ hung” điên cuồng dũi qua đồng lúa vào làng hết đợt này đến đợt khác đều bị đánh bật ra. Đại bác giặc từ Cõi rót về, đại liên từ máy bay địch xả xuống các làng Chanh trung, Chanh thượng và chân núi. Tre pheo, cây cối dập nát, xác xơ. Giặc bắn đạn lửa vào Chanh thượng, cả làng bốc cháy, lửa khói mịt mù.
Sau khi truy kích địch khỏi làng Đùng, bộ đội đang nghỉ ngơi tại Chanh trung thì đồng chí Trần Xuân Bạ hớt hải báo tin: “Giặc đánh úp”. Bộ đội chưa kịp nghỉ lại chiến đấu. Thì ra địch bí mật tiêu diệt đơn vị của ta ở Chanh trung để đưa tăng cóc vào lấy xác lính. Chúng bị đánh bật ra bỏ lại 40 xác chết.
Tại chợ Sọng, giặc chất đầy xác lính lên các tăng cóc rút chạy về Nam Định.
Trận càn bị bẻ gẫy, âm mưu đánh úp nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực và đầu não kháng chiến huyện Thanh Liêm của giặc bị thất bại















* Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Nội – Nguyên chủ tịch UBKC xã Thanh Tâm và ông Nguyễn Văn Đạt – Nguyên tổ chức huyện ủy Thanh Liêm thời kháng chiến chống Pháp
* Người ta nghi rằng : Giặc đã biết trước nên chủ động bao vây, tấn công ta


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 06-03-2010, 05:45 pm 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Gặp Nhau Trên Núi Hận


Một đại đội tuần tiễu của ta bị quân Khơ Me Đỏ ở cứ điểm gần ngã ba Khe Lanh, hồ Nước Đục phục kích gây thiệt hại nặng nề. Từ nỗi đau ấy, chúng tôi đặt tên cho quả đồi đó là núi Hận để ghi sâu mối thù. Tiểu đoàn tổ chức rút kinh nghiệm và giao cho đại đội tôi phải tiêu diệt cứ điểm này. Đây là cứ điểm khống chế tuyến đường từ Nông Pênh đi Bát Tam Bang, Xiêm Điệp. Muốn tiêu diệt được lũ rắn độc đầu não Khơ Me Đỏ trên dãy U Ran trùng điệp, hiểm trở nhất định phải đập tan cứ điểm núi Hận – cánh cửa sắt, cửa ải lửa này.
Đại đội tôi có nhiều sĩ quan, chiến sĩ là người huyện Thanh Liêm – Hà Nam, quê anh hùng Đinh Công Tráng. Mỗi đợt giao quân, huyện đội Thanh Liêm đều thành lập tiểu đoàn Đinh Công Tráng, thêu cờ Đinh Công Tráng trao cho những thanh niên lên đường nhập ngũ. Chúng tôi vào trận với niềm tự hào về truyền thống quê hương, trả thù cho đồng đội. Riêng tôi còn trả thù cho một người anh ruột đã hi sinh vì tổ quốc. Tôi hạ quyết tâm: phải tiêu diệt cứ điểm núi Hận với thương vong ít nhất.
Tôi bố trí trận địa theo hình lưỡi A. Mũi chính đánh trực diện, thọc sâu, diệt hoả lực địch do tôi chỉ huy. Đồng chí Luận ở Lác Nội xã Thanh Hương, B trưởng hoả lực. Mũi cánh trái chính trị viên Nguyễn Văn Thắng thôn Bồng Lạng xã Thanh Nghị và B trưởng Phạm Văn Hoạ thôn Tân Hưng xã thanh Tân, cánh phải do C phó Nguyễn Văn Chiến, người cùng huyện trực tiếp chỉ huy. Hai mũi cánh có nhiệm vụ hỗ trợ mũi chính diện tiến lên và quét địch khi chúng tháo chạy.
Địch chống trả quyết liệt. Đại liên 30 từ lô cốt xối xả quét xuống cánh đồng trống lút đầu cỏ Mỹ. Đạn giặc vèo vèo, ràn rạt trên đầu, cầy đất xung quanh và trước mặt. Có đồng chí hàng giờ không tiến lên đuợc. Chúng tôi thận trọng bò trong làn mưa đạn. Vất vả lắm, chừng nửa đêm mới bao vây được cứ điểm. Tôi cho gọi hàng bằng tiếng Khơ Me. Không một tiếng trả lời. Tôi hạ lệnh: Vây chặt! Khi có lệnh phải tấn công chớp nhoáng, diệt gọn. Trong đồn vắng tanh, chỉ còn lại những vỏ đồ hộp ngổn ngang. Phía ngoài, chín cái bóng đen gục đầu lên bệ súng. Có lẽ chúng ngủ. Lệnh được phát ra. Nhanh như cắt, các chiến sĩ chồm lên, đồng loạt vật ngửa và cưỡi lên bụng những bóng đen. Tôi cũng làm vậy. Hai tay tôi đè lên ngực hắn, không ngờ túm phải hai bầu vú bùng nhùng, bùng nhùng. Tất cả đều ồ lên:
- Giặc cái! Giặc cái! Giết chúng đi! Giết! Giết!
Tôi quát lên:
- Không được giết! Bắt sống để khai thác!
Họ xúm vào xỉ mắng:
- Lũ giặc cái! Đã làm đồ chơi cho giặc còn định giết chúng tao.
- Đêm nay phục vụ các anh nhé. Cho bõ công bò trong cỏ dại, nắng lửa, mưa đạn đến với các em.
Chúng chỉ cúi mặt sụt sịt khóc. Tôi nghiêm giọng:
- Các đồng chí không được đùa cợt kỷ luật chiến trường!

*
* *


Sáng hôm sau, chúng tôi hỏi cung từng tên một. A trưởng Tân người Thái Bình, đẹp trai, thạo tiếng Khơ Me được giao nhiệm vụ phiên dịch. Ba đứa đầu chỉ cúi mặt lặng im và khóc, không nói nửa lời. Đại đội phó rút súng lục khỏi bao định bắn. Tôi khoát tay ngăn lại, cho gọi đứa thứ tư. Tên giặc bước vào, tóc rũ rượi, cúi gằm như không muốn cho ai nhìn thấy mặt. Tân dằn giọng:
- Báo cáo thủ trưởng. Nếu tên này còn gan lỳ không nói, tôi sẽ bắn.
Tôi sững người khi nhìn cô gái có nước da trắng mịn, than hình óng ả, cân đối, thắt đáy lưng ong như bao cô gái Việt Nam. Có phải người Việt không? Hay là gái Khơ Me gốc Việt, gốc Hoa từ thành phố lên đây. Gái quê Khơ Me không thể trắng, đẹp thế này được. Tân nhìn kỹ cô gái một lúc rồi cúi xuốngkhông hỏi gì. Cậu ta bần thần, hai thái dương giật giật, cắn hai hàm răng, mặt đỏ lên rồi tái đi. Có lẽ cậu đang nén một cảm xúc trong lòng. Tôi nhắc nhẹ:
- Hỏi đi Tân.
Cậu ta vẫn lặng im, cúi xuống, lắc đầu. “Thằng này thật si tình. Mới nhìn thấy gái đẹp đã xiêu lòng”. Tôi thoáng nghĩ vậy rồi nhắc lại lần thứ hai rồi thứ ba, thứ tư. Tân khó nhọc ngẩng đầu lên:
- Chị Nga! Chị Nga phải không?
Cô gái lắc đầu. Cái lắc đầu mệt mỏi, đau khổ
- Em là Tân, là Tân của chị đây mà. Sao chị lại ở đây và không nhận ra em.
Cô gái rung người lên nhưng vẫn không nhúc nhích. Cô khóc! Tân đứng dậy túm tay tôi:
- Anh ơi! Đúng rồi! Chị em làm ở nông trường Tây Ninh, chắc giặc bắt về đây.
Rồi cậu ta chạy đến ôm chị gái. Nga cũng ôm chặt lấy Tân oà lên khóc.
- Em ơi! Chị nhục nhã lắm. Chúng bắt các chị về đây, chiều nay chúng khoá chân các chị vào súng bắt bắn. Không ngờ, các chị lại bắn vào em và đồng đội của em. May mà em không chết. Các anh ơi! Tha tội cho chúng em.
Chúng tôi xúc động nhìn hai chị em Tân khóc. Biết là đồng bào mình bị hại, tôi cho gọi các cô gái khác lên. Cả 9 cô đều khóc sướt mướt. Buổi hỏi cung biến thành cuộc gặp gỡ cảm động trên nước bạn.

*
* *

- Các anh ơi! Chúng em nhục nhã quá. Tưởng rằng không bao giờ thoát khỏi lũ quỷ Khơ Me Đỏ. Hôm nay chúng em được cải tử hoàn sinh rồi. Biết lấy gì đền đáp công ơn các anh đây.
Rồi các chị bắt đầu kể:
- Chúng em là Thanh niên xung phong ở nông trường dứa Kiên Giang, hầu hết là nữ Thái Bình, Hà Nam. Đêm ấy, chúng em đang ngủ thì giặc tràn vào chém hết nam giới. Còn nữ giới thì chúng làm nhục và bắt đi làm gái giải trí cho lính. Cứ mỗi tuần chúng đưa đến một đơn vị, hết trại lính này đến trại lính khác.
- Có cô gái Thanh Liêm nào ở đây không? – Tôi hỏi.
- Không ạ! Các chị ở Thanh Liêm không biết chúng đưa đi đâu. Chỉ biết rằng có một chị bị bắt cho tên sĩ quan làm nhục. Chị không chịu. Thế là chúng lột hết quần áo đem ra phơi nắng rồi đập chết, chặt ra từng khúc trước mặt chị em khác để thị uy.
Các chiến sĩ ứa nước mắt.
- Xin lỗi em. Đêm qua anh tưởng bọn em là gái làng chơi theo giặc nên buông lời xỉ mắng, châm trọc. Các em bỏ qua cho nhé.
Tôi hỏi tiếp:
- Cô ấy tên gì? Ở xã nào?
- Dạ! Chúng em không biết ạ.
- Các cô đến đây từ bao giờ?
Chúng em bị đưa đi nhiều nơi. Mới đến đây được mấy tháng. Chúng nói với nhau: “Đây là tấm cửa sắt phía Nam dẫy U Ran, cực kỳ quan trọng nên bọn lính được ưu tiên cho hơn hai chục chị em ở đây liên tục phục vụ ngày đêm.
- Thế họ đâu cả rồi?
- Năm chị bị chúng đập chết vì “phục vụ” chậm trễ. Các chị khác chúng đem theo khi rút chạy. Còn chúng em, chúng xích vào súng bắt bắn. Mỗi khẩu súng một thằng ngồi cạnh cầm thanh sắt. Chậm bắn là chúng đe đập chết. Sợ quá, chúng em phải nhắm mắt bắn bừa. Đến tối chúng nói là đi nghỉ và đe: nếu không thấy tiếng súng nổ, chúng sẽ quay lại đập chết. Sợ quá! Chúng em phải bắn cầm chừng. Khoảng chin, mười giờ đêm, mệt quá, ai cũng ù tai, lọng óc nằm là lên bệ súng.
[align=center]*
* *


Tôi dẫn anh em về đơn vị, lòng buồn buồn vì chẳng bắt được thằng giặc nào để trả thù cho đồng đội.
Ít ngày sau thì được tin Nga – chị gái Tân tự sát vì không chịu nổi nỗi nhục những ngày phải sống với giặc.
Đại đội tôi được cấp trên khen về thành tích đã quét sạch được lũ ác ôn ở núi Hận, mở đường cho ta tiến lên dãy U Ran truy quét tàn quân Khơ Me Đỏ và giải phóng được những cô gái Việt Nam thoát khỏi lũ quỷ sứ trong địa ngục trần gian.







* Theo lời kể của ông Lại Quang Luận – nguyên Đại đội trưởng C7 D2 E14 F7 Quân đoàn 1


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:24 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Phạt




Lâu ngày mới về phép, trung tá Nam cho bé Tâm Lan đi chơi vườn bách thú rồi đưa con vào ăn tại một nhà hàng cạnh bờ hồ.
Hai cha con ngồi vào bàn ăn. Cách bức mành thưa là một phòng nhỏ, có ba cặp trai gái đang ăn uống nhậu nhẹt. Người đàn ông được các cô gái gọi là Sếp to chừng năm, sáu mươi tuổi. Hai Sếp nhỏ chừng ba mươi tuổi. Chẳng hiểu họ gọi nhau theo cấp bậc hay tuổi tác. Ba cô gái mắt xanh, mỏ đỏ, váy mỏng lửng lơ, áo mỏng hững hờ để lộ cả một khoanh bụng, eo, lưng và hai khổ ngực mẩy tròn, nà nõn, đầy khêu gợi, bắt mắt.
Thấy Nam xuềnh xoàng thường phục, bé Tâm Lan nhìn cái gì cũng lạ lẫm, ngơ ngác, bọn người kia tưởng bố con anh là dân nhà quê ra tỉnh nên coi thường. Họ ăn uống bỗ bã, nói năng xuòng xã, đùa cợt nhớt nhả như không có ai ở quanh mình. Chốc chốc lại “Keng, keng! Phạt! Phạt!” và cười như xóc ốc. Cứ thế họ bắt phạt nhau:
- Em phạt thủ trưởng một ly
Ực! à!... Ực, ực!...
- Em phạt Sếp ly này… ly này nữa… ly nữa.
Các Sếp lại ngoan ngoãn ngửa cổ, há hốc miệng để lũ quỷ cái dốc rượu, thịt vào mồm như những chú chim non chờ mẹ mớm mồi ngon.
- Ực! à…Ực, ực… à!
- Thế! Thế chứ! Được rồi! Cưng!
- Các ả cứ dẹt mồm ra mà dỗ dành như mẹ nựng con thơ. Một ả có cái mỏ đỏ, nhọn thẽ thọt:
- Ở cơ quan Sếp thét ra lửa. Vậy mà ở đây ngoan đáo để.
- Ai bảo?
- Cấp dưới của Sếp chứ ai
Rồi ả dẹt mồm nói ý:
- Dếp iếc gôông! Rượu ông uống bà khên đấy! Của em… Là thứ thiệt đấy!
- Cho anh tí nào!
- Không! Chỉ Sếp già mới được dùng thứ “độc dược” này. Sếp trẻ mà dùng, nó công hiệu ngay thì đổ vào đâu?
- Í hích! – Chỉ tay vào vùng cấm của các cô gái, những con sâu rượu, sâu bia nhả nhớn cười “hích hích”, “hích hích”
- Đổ vào cái ao cạn này…ày… này.
Cứ thế chúng ăn uống ngả ngốn, nói cười lả lớn, văng ra từng chuỗi, từng hòn những tiếng thô tục hoặc tiếng “Phạt phạt! Khà khà! Phẹc phẹc!”.
Sếp già cất tiếng khê nồng, méo mó;
- Ta day! Ta sday đôôi.
Lũ mỏ đỏ lại dẹt cái miệng đỏ như tĩ gà nói ý:
- Day! Day thì em đưa vào phòng mà phẹc!
- Khớ khớ! Thế thì không thể hoãn cái phẹc dung dướng này được. Khớ khớ.
Họ lôi nhau vào phòng

*
* *


Bé Tâm Lan thỏ thẻ:
- Sao lại bắt uống rượu “Ông uống bà khên”, “công hiệu ngay tức khắc”, hả bố? Thế nào là : “cái phẹc dung dướng”?...
Nam bật cười về những câu hỏi ngây ngô của con. Anh ậm ừ nói:
- Họ là những kẻ hư đốn, đáng chê trách, đáng phạt thật. Lớn lên con sẽ hiểu.
- Thế các chị ấy lôi Sếp vào phòng để phạt thì có bắt nằm xuống oánh cho oắn đít như mẹ phạt anh Tùng Lâm nhà mình không?
Chớp chớp mắt, bé há mồm, lè lưỡi:
- Eo ơi! Cái ông Sếp già, bụng như trống cái mà bị các chị ấy bắt nằm xuống uất cho oắn đít thì tức bụng và xấu hổ lắm nhở. Con mà ở đấy thì con sẽ lêu lêu xấu hổ cho mà thẹn.
- Ừ, ừ! Nhưng các cô ấy không phạt như thế đâu. Có điều nếu các Sếp cứ lấy của dân, của nước ăn chơi phè phỡn, công an bắt được thì phạt thật đấy.
Tâm Lan thẽ thọt:
- Như mẹ đánh anh Tùng Lâm chứ gì?
Chẳng biết giải thích thế nào cho con hiểu, trung tá Nam đành trả lời:
- Không! Cách chức, đuổi về nhà đuổi gà cho vợ, bỏ tù hoặc tử hình.
- Tử hình là thế nào?
- Là đưa tội phạm ra trường bắn, trói vào cột, bịt mắt lại, dùng súng bắn vào ngực, bắn vào tai cho chết rồi đem chôn xuống đất.
- Thế cơ à?
Bỗng “huỵch huỵch! huỵch huỵch!”. Những bộ quân phục lao nhanh về phía nhà trong. Rồi tiếng đập cửa thình thịch, tiếng quát: “Ngồi im tại chỗ! Ngồi im! Không được nhúc nhích”, tiếng líu ríu: “Em xin các anh! Em trót dại lần đầu”, “Im đi! Che cái của quý của cô lại”. Cả tiếng đàn ông ồm ồm: “Xin các ông! Xin các ông! Tôi, tôi ự…” lẫn với tiếng khóc tu tu, tiếng khóc thút thít, tiếng khóa lách cách, lách cách.
Tâm Lan như chú thỏ non dỏng tai, trố mắt ngơ ngác nhìn mấy chú công an dẫn một xốc các cô gái mắt xanh mỏ đỏ ôm mớ vải mỏng che ngực cùng lũ Sếp già, Sếp trẻ hai tay bị khóa chặt sau lưng, run rẩy bước đi. Lão Sếp già mình trần trùng trục, trắng như lợn cạo lom khom. Cái bụng trống của ông ta kềnh càng trễ xuống như lơn sề sắp đến tháng đẻ, trông đến nực cười.
Tâm Lan vỗ tay reo lên:
- Bố ơi! Ông Sếp già trông giống như con lợn sề nhà ta có cái vòng sắt trói hai cổ tay lại với nhau, xấu hổ cúi xuống. Ê ê! Lêu lêu! Xấu hổ lấy rổ mà che, lấy nong mà đè, lấy cót mà quay, lấy chầy mà nện. Ê! Lêu lêu! Lêu lêu!
Rồi Tâm Lan giật giật tay bố hỏi:
- Có phải các chú công an bắt họ đi tử hình à bố?
Nam chưa biết trả lời con thế nào thì Tâm Lan đã “í hí” cười và nói:
- Khiếp chửa? Phải thế họ mới chừa!





Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:28 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Câu Chuyện Quanh Mâm Cỗ Giỗ





Đám giỗ nhà ông Nghĩa – thông gia với tôi khá đông vui. Mâm cỗ giữa nhà – ngay trước bàn thờ tổ toàn là khách trọng: hai cụ bề trên của ông Nghĩa, ông Hách – Đảng ủy viên, Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp ( HTXNN ) đi thoát ly đã nghỉ hưu. Cái tên cũng giống như tính người. Điều này, về sau tôi mới biết. Ông còn biệt hiệu nữa là “tiên chỉ”. Vậy nên khi còn ở địa phương, ông mới bị các đồng chí “đấu”. Cấp trên phải “nhấc” ông lên công tác tận Hà Giang. Đối diện với ông là ông Lợi – Chủ nhiệm mới của HTXNN hiện nay. Cùng mâm còn có một thầy giáo đã nghỉ hưu, dáng người nho nhã, dễ mến. Tôi là thông gia, lại ở xã bên nên được xếp vào mâm thượng khách này. Phong tục nông thôn vẫn xếp ngồi cỗ theo thứ bậc họ tộc hoặc chức sắc. Cẩn thận hơn, ông còn cử bà Hạnh – em gái đứng cạnh thừa tiếp để xem thiếu gì thì sai bảo con cháu phục vụ. Chỉ qua cách bố trí này đủ biết nhà ông gia phong nền nếp, có văn hóa.
Chẳng biết ông Hách có ý châm chọc ông Lợi hay không nhưng sau khi ngụm một ngụm rượu rõ “to”, rõ “đã”, ông “khà” một tiếng rõ dài rồi dằng hắng nói:
- Đếch gì! Các cậu làm ăn thế nào mà phong trào xem chừng xuống quá. Xã thì gần bét huyện. Hợp tác xã thì ì ạch như trâu già cày tháng sáu và nợ như chúa Chổm.
Ông còn nói, còn chê nhiều, nhiều nữa… Ông Lợi sững lại, cố nuốt miếng thịt gà tưởng mắc ở cổ họng. Mặt ông đỏ lên nhưng cố bình tĩnh nói:
- Ấy chết! Bác phê chúng em nặng thế.
- Thật đấy! Tình đồng chí tớ nói thật đấy. Người xã mình đâu đến nỗi kém cỏi…
Ngừng một lát ông lại tiếp:
- Thóc cứ là thừa cân, quân cứ là thừa người. Hồi chúng tớ làm, xã và Hợp tác được khen luôn. Pháo cứ là nổ ran.
- Lời qua tiếng lại. Nguời phê phán, kẻ thanh minh:
Hồi bác làm khác. Bây giờ khác. Khổ lắm! Tinh thần làm chủ của xã viên kém lắm. Họ chỉ mải mê với sào ruộng phần trăm, ruộng khoán và làm giàu cá nhân. Chứ ai lo việc chung đâu. Giá gặp lỗ nước chảy từ đồng xuống mương họ cũng không đắp.
Rất vô tình nhưng lời ông đã chạm tới mọi người. Các mâm khác dừng chuyện để nghe và có vẻ bực mình về câu nói của ông Lợi
- Dào ơi!...
Anh Nam, cháu ông Nghĩa buột miệng kêu lên như vậy và định nói gì. Ông thông gia tôi đã khéo liếc mắt. Biết ý chú, anh đành ngồi yên. Mọi người cũng nghĩ giỗ chạp là việc hiếu đạo nên không ai muốn xen vào nên không ai muốn xen vào làm mất vui của gia đình. Họ lặng lẽ ngồi ăn, lặng lẽ ngẫm nghĩ. Lời qua tiếng lại, men rượu bốc lên, ông nào cũng muốn mình phải nên quên béng đi là xung quanh còn có bao nhiêu người khác với đủ lứa tuổi, trình độ hiểu biết khác nhau. Hai ông cứ tranh luận phải trái hơn thua như bắn đại bác vào tai nhau. Ông Lợi đã bực mình bốc hỏa:
- Thành tích gì! Thành tích báo cáo sai sự thật. Trên phương án ăn chia thì mỗi khẩu mười lăm, mười sáu cân thóc một tháng, Nhưng thục tế ngày công của xã viên chỉ âm xu, âm xèng. Phương án đẹp vậy nên cấp trên cứ tưởng các ông giỏi, xã viên no mà dân thì húp cháo qua ngày. Ông còn nhớ lần tỉnh về kiểm tra chăn nuôi của xã, HTX không? Chuồng lơn tập thể chật lợn sề, lợn thịt. Đoàn tấm tắc khen. Nhưng đó là lợn các ông mượn của các gia đình bỏ vào chuồng trại. Các quan chức phóng ngựa xem hoa rồi vội vàng về dự tiệc tại trụ sở. Đúng là hồi ấy, xã ta cái gì cũng khá, cũng nhất, cái gì cũng được khen. Pháo cứ nổ giòn. Còn dân thì rát ruột. Các bác tài thật! Chúng em chịu thua đấy. Làm nhiều hưởng ít, dân chán bỏ ruộng, cấy chậm, năng suất thấp. Các bác phải cho xã khác hàng trăm mẫu . Hậu quả là bây giờ dân thiếu ruộng, tranh nhau từng tấc đất.
Ông Lợi liên tiếp ra đòn:
- Các ông dỡ đình chùa, phá văn chỉ, chặt hết nhãn đình, nhãn chùa cùng với gỗ đình, chùa đem đi đóng giường, bàn đẻ ở trạm xá. Rồi chuyển chợ đi nơi khác, đưa dân hủi về cấy ruộng làng mình. Vậy nên ruộng mất, rừng mất, đình chùa mất. Bây giờ không còn chỗ họp hành, thờ phụng, không còn một nguồn thu nào cho làng.
Ông Hách tím bầm mặt lại. Mặt ông đanh như gỗ kiêng. Mạch máu ở thái dương nổi lên giật giật. Ông đốp lại không khoan nhượng:
- À! À! Ông khùng rồi! Tôi không nói chuyện với đồng chí nữa. ( Nhưng ông vẫn nói ). Đồng chí có biết không? Dân đang xì xào là các ông bán ruộng đấy.
- Chúng tôi đấu thầu, đấu thầu chứ không bán.
- Ừ đúng rồi! Về công khai ai dám nói là bán. Nhưng đấu thầu bốn mươi năm thì khác gì bán.
- Vì sao vậy? – Ông Lợi hỏi lại.
- Ông không nhìn thấy à? Họ đang vượt đất ở ruộng đấu thầu làm nhà đấy. Họ xây nhà cho hợp tác xã hay cho họ.
Đuối lý, ông Lợi nổi khùng:
- Ừ! Chúng tôi bán đấy. Bán để làm điện, làm đường. Không bán lấy tiền đâu mà làm.
Trong đầu tôi bỗng hiện lên cảnh làng ông thông gia. Nhìn bề ngoài thì cũng có cái mới: Nhiều nhà mái bằng. có cả nhà tầng nữa. Đường làng rộng rãi và rải đá mạt. Chiếc quạt trần ở gian giữa và mấy chiếc quạt cây đang ro ro chạy hết công suất phục vụ khách như biện hộ cho ông Lợi. Giữa lúc đó thì bà Trực nhanh nhảu xen vào:
- Dạ! Lỗi tại chúng em tuốt. Thưa hai bác! Đúng là xã viên chúng em chỉ lo sào ruộng khoán sao cho có năng suất cao, lo dạy con cháu đỡ hư hỏng, lo ăn học cho chúng, trăm thứ bà giằn. Lo cho mình chưa xong thì làm chủ Hợp tác xã như các bác sao được. Các bác còn có lương của Hợp tác, còn có chỗ mà sâu bơi, à ăn chơi tí tỉnh.
Cười xòa một cái bà lại nói tiếp:
- Ấy là em cứ lốp bốp nó bừa. Các bác thứ lỗi cho. Vả lại xã viên ai cũng làm chủ thì của cải Hợp tác xã mất hết.
Được cái bà ăn nói có duyên lại khéo cười xuê xoa tươi roi rói nên không ai giận được.
- Tại sao vậy? – Ông Lợi hỏi.
- Ấy nếu xã viên đều làm chủ như các bác thì Hợp tác có thứ gì chúng em mang về tuốt. Cứt trâu để lâu hóa bùn. Sau dần chúng biến thành của mình tất. Thế là Hợp tác hết chứ sao.
Chạm nọc! Ông Lợi thanh minh.
- Bà lại nói về hai chiếc ti vi tỉnh cho vừa qua chứ gì? Của quý hiếm một đống tiền, để ở trụ sở thì sợ mất. Vậy nên chúng tôi phải mang về nhà.
Bà trực cười khanh khách. Đôi má đồng tiền rất duyên cũng cười theo.
- Đó! Đó! Chúng em cũng sẽ làm như thế. Có điều, lâu ngày chúng em sẽ biến thành của mình luôn.
Hai cụ già ngồi ở mâm tôi sốt ruột cứ ngọ nguậy vuốt râu rồi nói:
- Ông giáo có ý kiến gì đi chứ.
- Dạ! Xin phép hai cụ, hai ông và bà con trong họ. Tôi xin góp chút cho vui thôi ạ. Từ ngày nhà nước giao ruộng cho xã viên, Hợp tác xã ta đang xây dựng tinh thần làm chủ tập thể. Vậy thì bà Trực hoặc xã viên ta lo thay đổi giống mới, cải tiến kỹ thuật để mỗi sào ruộng trước đây chỉ cấy được một vụ, năng suất chừng một tạ thóc cả năm. Nay trồng đến hai, ba vụ. Bình quân thu khoảng ba tạ thóc. Nhà làm giỏi được tới bốn tạ thế là đã đổi mới, đã quý lắm rồi. Nếu nhà nào cũng giàu thì Hợp tác cũng giàu. Gần đây lại có chủ trương đưa điện, đưa máy móc về nông thôn. Nhờ vậy, làng ta trước đây nhà tranh vách đất, quanh năm thiếu ăn, nay đường làng ngõ xóm mở mang to rộng. Nhiều nhà mái bằng, nhà cao tầng đêm đêm đèn điện sáng trưng, mùa hè nóng nực: quạt máy chạy ro ro thay cho chiếc quạt mo phì phạch. Nhà nào cũng lo cho con học hành thành tài, không nghiện hút, không hư hỏng, quậy phá, trộm cắp thì nhà yên, làng yên và nước cũng yên. Thế là đã làm chủ mình, làm chủ công việc của mình. Làm tốt những công việc đó là có lợi cho tập thể và đã làm chủ tập thể rồi đấy.
- Đúng! Đúng đấy! Thầy giáo nói đúng đấy. Chúng tôi làm chủ mảnh đất HTX giao để năng suất cao . Cứ như thầy giáo nói thì đó cũng là làm chủ HTX. Còn đường đỗi, nước chảy, lúa màu trâu ăn, bò liếm thì đã có đội bảo nông. Nếu chỗ nước chảy mà bảo xã viên kém tinh thần làm chủ thì bảo nông làm gì? Ban quản trị làm gì mà không đôn đốc họ. Chác là các ông mải đi họp và triển khai các hội nghị hoặc lo đón tiếp cấp trên.
Ông Lợi bực dọc:
- Nói thì giỏi đấy! Nhưng bà con thông cảm. Nhiều xã viên bây giờ quá trớn. Làng ta có 220 hộ thì 180 hộ không nộp sản phẩm. Mỗi hộ nộp một tạ thóc trị giá khoảng một trăm ngàn đồng để mắc điện cũng không.
- Lúc này mọi người đã ăn xong. Cuộc tranh luận chuyển sang giữa bà con trong buổi giỗ với ông Lợi. Ông Nghĩa – chủ nhà khéo là thế mà không ngăn được đành phải đứng cười trừ. Họ tranh nhau nói cứ như đang họp đội sản xuất Hợp tác xã vậy.
- Tôi nói thật với ông Chủ nhiệm nhé. Ông vừa là cán bộ vừa là họ hàng. Vậy ông có biết vì sao xã viên không nộp sản phẩm không? Hợp tác xã lo bốn khâu: Giống, làm đất, nước và phòng trừ sâu bệnh. Các ông đã lo được gì nào? Sâu chuột thì xã viên tự mua thuốc mà diệt. Nhà mua trước phun trước, nhà mua sau phun sau, có nhà chẳng phun thuốc. Vậy nên sâu chuột cứ chạy quanh phá phách. Sâu chuột chẳng chết mà chim cò, gà vịt, mèo cú … chết hết. Cả làng chẳng có một con mèo. Làm đất thì máy trượt qua. Xã viên phải thuê trâu bò bừa lại, gù lưng san, cào. Nước thì lúc hạn, lúc lúa cần nước không bơm. Xã viên kêu chán chê mới ì ạch đóng máy. Có khi vừa mở máy thì mưa lụt đồng. Mất tiền oan! Mất mùa oan! Nhưng chưa gạt xong các ông đã thu đủ thứ: lúa đò, lúa nước, lúa cày bừa, lúa bảo nông, lúa trừ sâu, lúa nuôi cán bộ vv…
Người khác chen vào nói cướp lời:
- Còn điện thì sao? Hai năm trời mới ì ạch xây xong trạm hạ thế giữa sân kho, cạnh nhà trẻ và chợ. Sợ tai nạn, chi cục điện bắt phải chuyển chợ và nhà trẻ đi. Vậy mà nợ trên hai trăm triệu đồng tương đương hai trăm tấn thóc. Ấy là mỗi hộ đã nộp cho quản trị một tạ thóc rồi đấy. Kết quả Hợp tác xã dựng được hàng cột chạy giữa đồng. Còn đường làng ngõ xóm thì không. Thế là dăm bảy nhà một nhóm bảo nhau dựng cột tre, mua dây tự mắc điện. Cột mục họ lại bảo nhau tự đổ cột xi măng. Dây điện lằng nhằng như tơ nhện. May mà chưa có ai chết về điện đấy. Vừa qua, bão lớn, cột đổ, dây đứt dân lại tự đóng góp. Rất tốn kém. Các ông chẳng đầu tư gì mà mỗi số điện thu bảy trăm bảy mươi đồng. Cứ thế hết tháng là thu tiền. Ai chậm nộp là đe cắt. Mót điện quá! Dân phải nhắm mắt chìa cổ ra cho các ông chém..
Tức lắm! Nhưng họ nói có lý nên ông Lợi đấu dịu thanh minh:
- Tại vì xã viên không nộp thêm một trăm ngàn đồng nữa nên chúng tôi không lấy đâu ra tiền làm.
- Ông chỉ giỏi bao biện. Vì sao xã viên không nộp cho ban quản lý một trăm ngàn đồng lại sẵn sàng bỏ ra ba trăm ngàn và hàng chục ngày công tự làm điện vừa vất vả vừa tốn kém vừa rất nguy hiểm.
Từ phía sau có người cất tiếng:
- Tôi trả lời hộ ông Lợi nhé! Vì họ biết nộp cho các ông thì khưa mươi năm mới có điện. Họ khiếp các ông lại món nọ sọ món kia chứ sao. Ông còn nhớ trước đây góp tiền mua máy kéo, máy tuốt lúa. Kết cục là mua mấy cục sắt bỏ rỉ ở sân kho.
Mấy bà khác chen vào:
- Ông có nhớ năm 1979 đói dã họng, nhiều nhà phải ăn củ chuối. Bà con nộp tiền để Hợp tác xã lên miền núi mua sắn chống đói. Đến nay, hơn hai muơi năm rồi mà sắn vẫn không có. Tiền cũng mất tăm.
Ông lợi chống chế:
- Việc ấy của ban quản lý cũ. Chúng tôi không biết.
Mọi người ồn ào, nhấp nhổm như một tổ ong:
- Ông chỉ giỏi đổ quanh. Kiểu cách này thì làm chủ tập thể, HTX sao được.
Lại ồn ã. Có người hét toáng lên:
- Thôi thôi! Tốt hơn hết là làm chủ mình, tự cứu mình. Giải tán Hợp tác là xong.
Ông Lợi tức quá to tiếng:
- Ai nói bậy đấy! Mất cả lập trường. Hợp tác xã là chủ trương, đường lối của Đảng. Chính Bác Hồ là người viết điều lệ Hợp tác đấy. Có giỏi thì phá đi! Có theo Đảng không?
- Ông dọa chúng tôi chăng? Không theo Đảng sao chúng tôi và cả nước góp người góp của đánh thắng Pháp, Mỹ. Dễ mấy ông đánh được đấy à? Không theo Đảng sao chúng tôi góp ruộng đất, trâu bò vào Hợp tác xã. Chúng tôi muốn phá cái Hợp tác của mấy ông lãnh đạo. Cứ nhìn ra xung quanh, nhiều nơi họ làm ăn khấm khá. Còn các ông thì chán quá. Sự đổi mới của làng ta như thầy giáo nói là do chủ trương của nhà nước, dân tự làm chứ không phải tất cả là công lao của mấy ông trong ban quản trị HTX đâu.
- Các ông các bà bầu thì chúng tôi làm.
Cái chợ con như vỡ òa ra những tiếng cười:
- Chẳng bầu các ông thì bầu ai. Vì các ông biết làm giàu. Bầu để chúng tôi học cách làm giàu chứ.
- Úi chà! Úi chà chà! Học làm sao được. Mình đổ mồ hôi sôi nước mắt mà chẳng giàu. Nếu cũng nhàn hạ như vợ con các ông mà giàu được thì tôi đi đầu xuống đất.

*
* *


Là người xã khác, tôi chẳng biết đúng sai thế nào nên ghi lại câu chuyện xung quanh buổi cỗ giỗ này để bà con cùng suy ngẫm
.


19-10-1980, ngày kỵ nhật cụ thân sinh ông thông gia


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:33 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Quả Báo





Ông Mưu đang uống rượu nhắm với sung, chuối xanh và muối ớt. Ông có thói quen mỗi khi bày kế gì hại được người, lợi cho mình đều tự thưởng bằng cái thú ấy. Ông ngật ngưỡng! Ông khề khà! Ông đắc ý!
- Kỳ này thì thằng Lộc đứt cước!
Chả là ông vừa có cao kiến chạy tội hủ hóa cho Láu – cháu ông – vừa đưa nó lên chức Bí thư chi bộ. Đúng là một mũi tên bắn trúng bốn đích. Ông vui đâu phải vì dân làng, vì cháu mà vì nó có lợi cho ông.
Nhắp chén rượu rõ “đã”, ông “khà” một tiếng rõ dài rồi gật gù cái cổ cần cối:
- Tuyệt chiêu! Tuyệt chiêu! Khác nào một trận đánh bí mật đưa địch vào tròng, bất ngờ đồng loạt tấn công bằng nhiều mũi, điểm trúng huyệt đúng lúc. Địch mà ông nói ở đây là Lộc – người Bí thư chi bộ trẻ tuổi, thật thà, cương trực nhưng bất lợi cho ông.
Ông đang tự hào là mình giỏi vừa lập kỳ công thì Bạo hớt hải chạy về cuống quýt nói:
- Bố ơi! Cho con ít tiền để con trốn đi ngay ít ngày. Con trót nghe bạn rủ rê hút chích ma túy. Công an bắt được quả tang đang lập biên bản. May mà con xin đi vệ sinh rồi chạy về đây. Bố ơi! Cho con đi để con trốn kẻo họ sắp kéo vào nhà ta đấy. Con mà bị bắt thì phải ngồi tù mất. Bố ơi!
Quen thói nuông chiều đứa con độc nhất nhưng ông cũng ậm ọe ra oai rồi bầy kế cho nó giả vờ ngủ quên sau khi vợ chồng làm cái việc yêu để chạy tội và chơi khăm để xử đểu lại cán bộ.
Mắt ông phát ra những tia sáng sắc lạnh như một lưỡi dao khi anh Toàn – an ninh thôn, công an xã và công an huyện vào nhà. Sau thủ tục chào hỏi xã giao anh cất tiếng hỏi:
- Thưa bác! Chú Bạo có về nhà không ạ?
- Anh hỏi gì?
- Chả là, vừa rồi chú Bạo có dùng ma túy cùng mấy thanh niên khác. Chúng cháu bắt được quả tang, cả dụng cụ tiêm chích và một ít ma túy nữa. Nhưng khi lập biên bản lấy chữ kí kẻ phạm tội thì chú ấy xin đi vệ sinh rồi chạy mất
Ông Mưu bình tĩnh đến lạ lùng:
- Thế thì các anh nhầm rồi.
- Đúng như vậy mà.
- Chẳng lẽ ngót tám mươi tuổi đầu, hưởng lương mất sức của nhà nước hơn hai chục năm trời mà tôi nói dối các anh à? Tôi uống rượu ở đây, nó đi tôi phải biết chứ. Nó ngủ trong buồng với vợ từ tối cơ mà.
- Chắc lúc chú đi, bác không để ý.
- Lạ! Vậy thì các anh vào buồng mà xem.
Anh Thanh công an huyện nói:
- Vậy thì chúng ta về thôi.
- Ấy chết! Đã đến đây thì các anh cứ vào buồng kiểm tra kiến mục sở thị, kẻo rồi lại bán tín bán nghi.
Vừa nói ông vừa kéo tay anh Toàn đẩy vào buồng, bật điện lên rồi ra ngoài vồn vã:
- Anh cứ kiểm tra xem có phải thằng Bạo đấy không?
Thật bất tiện nhưng ông Mưu đã nói vậy anh Toàn buộc lòng phải lật chiếc chăn mỏng ra. Ôi trời! Vợ chồng Bạo đang ôm nhau ngủ ngáy khò khò, trần như nhộng. bàn tay hộ pháp của hắn như con nhện khổng lồ đậu trên bầu vú mẩy, tròn nịnh, ngời ngợi trắng trong ánh đèn nê – ông. Anh kéo chăn đắp lại rồi vội vã ra ngoài.
- Thế nào? Có đúng như tôi khai không?
- Vâng ạ!
Bây giờ ông mới nhẹ nhàng mở băng cát sét trong đầu ra:
- Lúc nãy nghe tiếng chó sủa ran, cứ tưởng có đứa nào rình mò, trộm cắp gà, vịt. Các anh vào nhà đêm hôm khuya khoắt, tôi lại lo nhà mình mắc tội tày đình, khiến các nhà chức trách đến. Khiếp quá! Vãi cả mồ hôi hột ra.
Rồi ông nhún vai nói tiếp:
- May mà con, cháu tôi đang ngủ. Nếu không chúng kéo đến nhà gây chuyện thì lôi thôi to.
Ông lại cười nhạt dọa dẫm:
- Toàn những thằng nóng như hổ lửa cả. Nhưng thôi, cũng may sự nhầm lẫn này của các anh mà con tôi không mang tiếng là nghiện hút. Mấy tháng trước, trong buổi tổng kết cuối năm của Hội người cao tuổi có cụ đã đưa ra góp ý với tôi về chuyện để con nghiện hút. Bây giờ tôi có cái để thanh minh rồi.
- Thưa bác! Không nhầm đâu ạ. Chẳng nhẽ chúng cháu nói không cho chú ấy cái tội động đến danh dự và pháp luật này à?
- Ta về thôi! – Anh Thanh lại giục tổ công tác lần nữa.
- Khoan đã! Xin đồng chí công an huyện và các cán bộ nán lại ít chút.
Ông giở giọng xỏ xiên:
- Tôi đã toan chín bỏ làm mười. Nhung ông an ninh thôn cứ khăng khăng nói là nó hút chích ma túy vừa bị bắt quả tang. Vậy thì cứ vào buồng lôi nó ra, xích tay, giải về huyện. Bắt người thì dễ nhưng thả người thì khó đấy. Nửa đêm vào nhà tôi, vào buồng khám xét. Nó đang ngủ với vợ sờ sờ ra đấy mà anh vẫn khẳng định: “Nó dùng ma túy, bị bắt quả tang”. Tất cả việc làm đó của các ông là việc làm hồ đồ, trái pháp luật, là vu cáo làm mất danh dự và sự bình yên của người dân. Nhất là người như tôi. Tôi có thể tố cáo các ông về tội này đấy.
- Vâng! Chẳng muốn đấu lý với bác làm gì. Chúng tôi xin lỗi bác. Nhưng với cương vị một chiến sĩ cảnh sát, tôi xin khẳng định với bác là: Chúng tôi không nhầm! Đúng là trong đám nghiện hút chúng tôi vừa bắt được tối nay có chú Bạo nhà ta. Sự sơ suất để tội phạm bỏ chạy, coi như chúng tôi chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vậy nên tổ công tác mới đến hỏi gia đình. Tưởng rằng… Không ngờ…
Giọng anh trầm xuống xót xa như chân tình, rành rọt như khắc vào tai ông Mưu:
- Thay mặt anh em, tôi xin lỗi bác. Sau đây chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm về việc để sổng tội phạm. Trước khi về, một lần nữa tôi lấy danh dự người công an nhân dân nói với bác rằng: Chú Bạo đã nghiện ma túy nặng. Xin bác hãy phối hợp với chúng tôi giáo dục chú ấy, kẻo rồi hậu quả khôn lường sẽ giáng xuống gia đình bác. Lúc đó hối cũng chẳng kịp. Qua nhiều năm công tác, tôi đã biết một số gia đình bao che tội lỗi cho con, công kích cán bộ an ninh. Khi chúng tôi bắt được quả tang thì con bị phạt tù, bố cũng bị cảnh cáo về tội bao che – cũng có nghĩa là chống người thi hành công vụ. Có con nghiện nặng dẫn tới cướp của giết người lấy tiền hút chích. Có người đánh cả bố mẹ, đập phá nhà cửa, tiêm chích quá liều chết thê thảm để lại vợ trẻ con thơ, mẹ già cha yếu, gia tài khánh kiệt, đói khổ. Có cụ già lúc đó mới gào lên: Ới con ơi! Ới trời ơi! Ta đã giết con rồi!
Ông Mưu bĩu môi cười nhạt:
- Cảm ơn anh đã dạy bảo.

*
* *


Ra tới cổng anh Toàn bực dọc nói:
- Ông này thật quá quắt. Đúng là mép thầy kiện, lưỡi thầy dùi. Dân làng em nói về ông ta như vậy chẳng sai đâu.
Sau vụ chuyển bại thành thắng đó, ông càng cho mình là bậc đa mưu túc trí. Bạo càng phục bố tài ba nên càng lao vào ma túy mà không sợ gì cả. Gia đình ngày càng bần cùng. Ông Mưu không thể khống chế, ngăn cản con được nữa. Một đêm ông đang buồn bã về gia cảnh thì trong buồng bà chu lên:
- Ới! ông Mưu ơi! Thằng Bạo nó ứ hự! Ứ hự… tôi!....
Ông vội chạy vào thấy: Bạo trần trùng trục, mắt đỏ ngầu, cưỡi lên đùi mẹ, hai tay giằng cạp quần như muốn xé ra. Bà run như cầy sấy, cuống quýt níu giữ, líu lưỡi van xin:
- Mẹ xin con! Ứ hự! Mẹ lạy con! Buông mẹ ra! Hự hự!
Hoảng quá! Tưởng Bạo lên cơn nghiện làm điều loạn luân, ông vớ chiếc chổi rơm quật túi bụi vào con, hổn hển kêu lên:
- Quân súc vật! Đồ súc sinh! Cút đi! Cút đi cho khuất mắt tao.
Bạo vùng dậy xô ông ngã kềnh. Hung lên, hắn vơ chiếc ghế nhựa đập bàn, đạp bể tủ loảng xoảng vỡ tan kính và hai cánh bên rồi bỏ đi. Thì ra Bạo xin tiền mẹ để hút chích. Bực quá! Bà văng tục:
- Còn cái xương cạng tao đây. Gặm nốt đi.
Khùng lên, Bạo vật mẹ ra dọa giết và xé toang quần bà ra xem có giấu tiền trong đó không. Từ đó hắn biệt tích. Ông cũng chẳng tìm. Gia đình yên được một thời gian. Bỗng một hôm làng náo động như có loạn. Người ta kháo nhau. Người ta nhớn nhác đi xem Bạo chết trương như con bò tại một miếu hoang cạnh rừng. Ông Mưu rụng rời chân tay, tối sầm mặt mũi khi thấy Bạo tím đen, to phềnh như con trâu, sặc mùi tanh thối. Nhiều người nôn ọe thốc tháo. Ông lảo đảo như trời nghiêng, đất sụt rồi ngất đi, bất tỉnh. Từ đấy ông đổ bệnh dẫn tới run giật tay chân.

*
* *


Bạo chết, gia đình khánh kiệt. Vì thứ gì bán được hắn đã bán hết lấy tiền nghiện hút. Trong nhà chỉ còn chiếc tủ chè vỡ hết kính và hai cánh bên, một chiếc bàn, bốn chiếc ghế gẫy mộng, một chum nhỏ vỡ miệng, chiếc chân què của bố và người mẹ mù lòa. Đó là hậu quả lúc Bạo lên cơn nghiện đập phá hoặc lúc bố con xô xát.
Túng quẫn quá, vợ hắn phải gửi con nhỏ nhờ mẹ đẻ nuôi, vào Nam kiếm việc làm lấy tiền trả nợ, nuôi con. Không nghề nghiệp, không bằng cấp, giữa phố phường đô hội nhưng đầy cạm bẫy nơi đất khách quê người chị phải làm gì để có thật nhiều tiền?!
Nhà ông bây giờ tuềnh toàng, lạnh lẽo. Đôi vợ chồng già dựa vào nhau mà sống – một khập khiễng, một mù lòa. Nhìn cảnh ông ngày ngày so vai rụt cổ liêu xiêu gánh nước từ sông về ăn, nhiều người chép miệng:
- Ôi dào! Âu cũng là cái giá phải trả. Làm cha mẹ phải biết dạy con cái. Không dạy nổi thì để xã hội dạy. Đằng này cứ bênh con chằm chặp. Ai xì xào về chuyện thằng Bạo nghiện hút là bà ta chửi đổng, mắng mèo quèo chó. Còn ông ta thì lý sự đe loi. Cán bộ thôn đến nhắc nhở thì giở lý bao che. Đã thế còn bày mưu ma chước quỷ lật đổ cán bộ chân chính, xui nguyên giục bị hại người. Con chết là đáng kiếp. Cha mẹ khổ cũng đáng đời.
Nhiều cụ già thương cảm thở dài:
- Giá như trước đây cụ ấy biết nghe lời góp ý của bạn già, nghiêm khắc thì đâu đến nỗi cuối đời phải cơ cực sầu tủi thế này.
Có cụ thương tình đã sai con cháu đến gánh nước, quét dọn nhà cửa giúp. Còn ông bây giờ mới thấm thía lời nói của anh công an huyện: “ …xin bác hãy phối hợp với chúng tôi giáo dục chú ấy, kẻo rồi hậu quả sẽ giáng xuống nhà bác. Lúc đó hối cũng chẳng kịp…”.
Càng ngày ông càng tiều tụy. tiều tụy một cách thảm hại. Cái lưng còng xuống. Cái mặt ngửa lên như con lạc đà, lẩy bẩy. Hai hàm răng lúc nào cũng gõ vào nhau cầm cập. Đêm đêm những cơn ác mộng kéo đến hành hạ. Có đêm ông rú lên kinh hãi. Bà lọ mọ dậy sờ lần bật đèn thấy ông lạy như tế sao, miệng líu ríu:
- Con xin ông! Con lạy ông! Tha tội cho con!...
Đó là ông mơ thấy một con ma trắng treo lơ lửng ở xà nhà, mắt trừng trừng nhìn mình. Một bóng ma khác bị trói vào cột bắn, miệng há to, gào lên, máu ộc ra phun vào mặt ông khi ông cầm khẩu sung lục bắn vào con ma này. “Oan hồn! Oan hồn! Ông Tâm, ông Thạnh từ hồi cải cách ruộng đất hiện về báo oan đây”. Ông nghĩ vậy.

*
* *


Là một cố nông, ông được bồi dưỡng cho đi cải cách tại một làng ở tỉnh Đông. Về đó, ông bị Nuôi – một cốt cán trẻ làm cho mê mẩn. Cô này năm 1945, bố mẹ chết đói, cô cũng sắp chết lả, bà Tâm đem về nuôi và đặt tên là Nuôi. Ông bà Tâm ( bố mẹ nuôi ) phúc hậu coi cô như con đẻ. đội Mưu ( bấy giờ nông dân gọi ông Mưu như vậy ) rắp tâm đưa ông bà lên địa chủ nên bồi dưỡng, mớm lời để cô tố bố mẹ nuôi. Được đội Mưu chiều chuộng, hứa hẹn nhiều điều, cô đã biến thành “đồ chơi”, “thợ đấu” của hắn. Cô vạch mặt chỉ chán vu khống bố nuôi đủ thứ - kể cả tội nhiều lần cưỡng hiếp cô. Cô được mớm lời bài bản đến mức vừa tố vừa đầm đìa nước mắt khiến nhiều bà, nhiều chị tưởng thật, thương cảm khóc theo. Uất ức quá! Nhục nhã quá! Ông Tâm thắt cổ tự vẫn. Nuôi và đội Mưu ngày càng gắn bó như đôi sam: con đực, con cái lúc nào cũngcặp kè bên nhau. Đội Mưu đi đâu được cốt cán Nuôi khoác súng bảo vệ. Những đêm trăng sáng, họ đi khám điền các cánh đồng. Nuôi chẳng ngần ngại gì mà không lột hết áo quần mình để đội Mưu khám. Nước da cô gái đang tuổi dậy thì xuân chín ngời ngợi sáng lên dưới ánh trăng vằng vặc. Vườn đào, trái cấm, đùi non lồ lộ, quyến rũ, mời mọc, mê hồn. Đội Mưu tha hồ mà khám cô cốt cán trẻ măng. Họ say nhau, quấn lấy nhau, vật lộn, phì phò, rên rẩm. Trăng đẹp! Ông Thạnh đi hóng mát trên đồng thấy hiện tượng lạ, rón rén đến gần ngó xuống. Hai khối thịt trắng nhễ vẫn ghì nhau phì phò, rên rỉ. Cứ thế chúng thở và rên, rên và thở… “Không! Không phải chó!”
- Thằng ngô con đĩ nào ra đây mà đ… nhau.
Ông nói to và tục để dọa cho chúng sợ mà chừa. Ông chắc mẩm: hai đứa phải quỳ xuống mà van lạy ông tha tội. Cô gái lật thằng đàn ông xuống ngồi dậy. Cặp vú mẩy căng như hai quả bóng, nây nẩy dưới trăng. Bỗng ông tá hỏa. Hai khối thịt mà lúc đầu ông tưởng là chó ấy chính là đội Mưu và cốt cán Nuôi. Nguy mất rồi! Ồng chỉ kịp thốt lên:
- Tôi xin lỗi! Tôi cứ tưởng hai con chó đang tơ nhau chứ không cố ý. Xin lỗi! Tôi xin lỗi!
- Ông liệu hồn đấy! Rình mò chúng tôi hả! – Đội Mưu quát lên như vậy.
- Không ạ!
- Biết điều thì câm miệng. Nghe chưa?
- Vâng ạ! Tôi không nói với ai đâu ạ.
- Cút đi! Nhớ lấy điều ấy!
Ông Thạnh sợ hãi ra về. Bỗng đội Mưu gọi giật lại đưa cho ông một que nhỏ và nói:
- Xuống giẫm nát và đập xơ xác đám lúa này!
Ông Thạnh ngạc nhiên:
- Lúa đang vào mẩy sao lại đập đi ạ? Mồ hôi nước mắt của người ta đấy!
- Tôi bảo thì cứ làm. Có thế mới quy tội cho địa chủ Tâm phá hoại sản xuất, phá hoại cách mạng được.
- Trời ơi! Gắp lửa bỏ tay người. Ác lắm! Trời phật sẽ trừng phạt. Tôi không dám làm.
- À! Ông còn thương địa chủ phải không? Liên quan với địa chủ là tội lớn đấy. Xuống ngay! Kẻo không thì ăn đạn.
Ông Thạnh đành lội xuống ruộng vừa quật, giẫm lúa vừa mếu máo:
- Ông bà Tâm ơi! Tha tội cho tôi. Đội bắt tôi làm. Trời phật ơi! Đừng trừng phạt con!
Xong việc, hắn bắt ông giơ hai tay lên, dí súng vào lưng áp giải về làng. Tới sân đình, đội Mưu thét:
- Dân quân đâu! Trói tên này lại, giải về trại giam địa chủ phản động trên xã.
Ông Thạnh kêu lên:
- Tôi bị oan! Tôi bị oan! Người ta hại tôi!
- Bịt miệng nó lại. - Đội Mưu ra lệnh.
Huỵch! Một cú đạp đau điếng vào lưng. Ông Thạnh bị bịt miệng, trói dặt cánh khuỷu, lảo đảo đi giữa hai du kích dí súng vào mạng sườn. Ông khóc! Nhưng miệng bị bịt chặt, tay bị trói chặt sau lưng nên chỉ “Hậc hậc! Hậc hậc!” không thành tiếng. Nước mắt tràn trên má và thông qua mũi xuống họng đắng đắng, cay cay, mặn chát như máu chảy ngược vào ngực.
Ông Thạnh – một nông dân hiền lành chất phác bị đội Mưu lập án: chỉ điểm cho máy bay Pháp ném bom chết hơn bốn mươi dân công đang chuẩn bị bắc cầu cho bộ đội vượt sông và tội mưu sát cán bộ Đội, Cốt cán, phá hoại sản xuất, làm tay sai cho địa chủ chống phá cải cách ruộng đất. Tòa án đội lập ngay tại xã, người đông ngàn ngạt. Ông bị tử hình với tội danh trên. Thực ra chỉ vì ông bắt gặp Đội và Cốt cán hủ hóa, bậy bạ với nhau ngoài cánh đồng. Ông làm sao kêu oan được. Người thi hành án lại chính là cốt cán Nuôi. Cô bắn ông một cách ngon lành, hãnh diện trước mặt mọi người. Khi đầu ông lả xuống, đội Mưu túm tóc lôi lên bắn thêm một phát súng lục vào tai và nói:
- Đây là phát súng nhân đạo tao ban cho mày.
Cả trường đấu bàng hoàng! Ngơ ngác! Rùng mình! Nhắm mắt! Với thành tích tìm được tên phản động cực kỳ nguy hiểm thời kháng chiến chống Pháp và phá hoại sản xuất, phá hoại cải cách, làm tay sai cho địa chủ, phong kiến – Đội Mưu trở thành người hùng, Nuôi trở thành điểm sáng. Hai người ngày càng tự do quan hệ bất chính với nhau. Bởi vì chẳng ai dại gì mà đụng vào đội Mưu và cốt cán Nuôi lúc này. Nuôi có thai. Ả hốt hoảng báo tin dữ cho người tình. Mưu lạnh lùng hỏi:
- Có thật cái của nợ trong bụng cô là của tôi không? Hay nó là của đội xã, đội huyện, mấy thằng du kích và cả bố nuôi cô nữa. Cô chẳng đã từng tố địa chủ Tâm hãm hiếp mình nhiều lần mà.
- Trời ơi! – Nuôi kêu lên rồi ôm mặt khóc.
Đội Mưu ôm ả vào lòng vỗ về:
- Cứ đổ cho bố nuôi là xong. Có khi dân làng càng thương em hơn đấy.
- Không! Ông ấy không bao giờ làm thế. Anh bảo em tố như vậy để quy tội cho ông ta đấy chứ. Vì em, ông đã thắt cổ chết. bây giờ đêm nào oan hồn ông cũng về trừng trừng nhìn em giận dữ. Em sợ lắm rồi! Đứa con trong bụng em là của anh đấy. Nếu em không giải quyết thỏa đáng, em phải khai thật mọi chuyện với bác Trung – đội trưởng cải cách đấy.
Đêm ấy đội Mưu trằn trọc suy nghĩ. “Thế nào là thỏa đáng? Thế nào là khai thật mọi chuyện? Chuyện ngủ với ả? Chuyện bắt lão Thạnh phá lúa và chuyện dựng tội để tử hình lão chăng? Vậy thì nguy to!”. Trong đầu Mưu hiện lên hình ảnh Đoàn trưởng Kiên – một ông già quắc thước đã từng bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo sang sảng nói trước hàng ngàn cán bộ trong tỉnh: “Đây là cuôc cách mạng vĩ đại chưa từng có trong lịch sử nước ta. Nó đào tận gốc, lốc tận rễ chế độ phong kiến đè đầu cưỡi cổ, áp bức bóc lột nông dân ta hàng ngàn năm nay để mở đường tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản. Các đồng chí phải nắm vững đường lối quan điểm giai cấp và chính sách cụ thể của Đảng để giáo dục, lãnh đạo nông dân tự đứng lên giải phóng đời mình. Tuyệt đối không để lọt lưới địa chủ cường hào phản động. Cũng tuyệt đối không đánh nhầm vào nông dân, vào cán bộ và những người có công với cách mạng. Kẻ thù vô cùng xảo quyệt. Chúng sẽ dùng vàng bạc, tiền của, gái đẹp mua chuộc cán bộ đội, cốt cán, điên cuồng phá hoại cải cách. Đồng chí nào vì tiền và gái mà sa ngã hoặc lợi dụng quyền hành ép cung dựng tội hoặc mê đắm cốt cán nữ trẻ, quan hệ bất chính đều bị nghiêm trị. Các đồng chí rõ chưa?”. Nghĩ dến đây đội Mưu rùng mình: “ Thế là ta đã phạm hai tội không thể tha thứ được. Một là hủ hóa với cốt cán Nuôi. Hai là dựng tội, lập án tử hình một nông dân hiền lành chất phác. Từ hủ hóa đến giết người. Biết là độc ác nhưng vẫn phải làm để chôn sâu, lấp kín những người đã nhìn thấy mình hủ hóa. Tưởng thế là yên, tha hồ đú đởn, cuồng nhiệt trong cơn bão tình vụng trộm với cô cốt cán 18 tuổi vầm vập như voi. Ai ngờ chính đứa con trong bụng cô đang đe dọa, tố lộ mình. Phải làm cách nào đây? Phá thai? Nghĩa là giết con mình. Trời ơi! Độc ác quá! Hổ dữ cũng chẳng nỡ ăn thịt con. Đành vậy thôi! Đã thật ổn chưa? Còn mẹ nó? Cô gái đã làm cho mình thỏa mãn lúc cuồng dâm liệu có để yên không? Ả đã dám vu cáo bố nuôi cưỡng hiếp nhiều lần, đã dám chĩa súng bắn vào ông Thạnh không run tay, lại biết việc làm đồi bại, độc ác của mình trong cái đêm khám điền trăng sáng ấy. Tức lên, con bò cái này có thể tố cáo tất cả tội lỗi độc ác, đê tiện của mình. Còn ả là còn nguy cơ bị lật tẩy. Kỷ luật sẽ rất nặng. Có thể bị tử hình”. Đội Mưu rùng mình lạnh xương sống. “Chỉ có phủi sạch tội này mới tồn tại và thực hiện được mọi ước vọng, toan tính: Sau cải cách phải chuyển ngành! Phải có địa vị! Phải giàu sang! Phải rũ bỏ mụ vợ già xấu xí! Phải lấy cô vợ trẻ đẹp!... Phải đổi đời!...”. Day dứt! Do dự! Rồi quả quyết! Đội Mưu cười rú lên như sói hú trong đêm. Một tia sáng lóe lên như ánh chớp trong đầu: “Phải “tiêu” luôn cả Nuôi và đứa con mình trong bụng ả mới hết mọi nguy cơ bị lật tẩy. Khớ khớ! Khớ khớ!...”.
Kế độc được thực hiện. Mấy hôm sau Mưu đưa gói thuốc cho ả và ngon ngọt:
- Đêm nay em uống hết gói thuốc này sẽ không còn phải lo nghĩ gì nữa.
Tin lời hắn, ả uống thốc và “tiêu” đời. Đội Mưu nâng lên thành cái chết của một nữ kiệt. Vì thị lăn lộn vất vả trong cuộc đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến, giải phóng nông dân nên đột quỵ. Đám ma ả được tổ chức trọng thể, linh đình, đông đúc nhất vùng thời ấy. Gần như ai cũng phải đi đưa ma và phải tỏ ra thương tiếc một con người quên mình vì nghĩa lớn.

*
* *


Trước cảnh thân tàn ma dại, gia đình tan nát, nhiều lúc ông điên cuồng khóc rống lên:
- Trời ơi! Tôi đã giết người! Giết vợ con! Tôi có tội, tôi đáng chết. Trời phật ơi! Cho tôi được chết! Đừng làm tội sống tôi! Đừng để tôi sống dở chết dở trên cõi đời này.!
Cái quá khứ độc ác cứ hiện lên nhảy nhót, tố lộ ông một cách điên dại. Tội xưa! Nay phải trả! Đã quá muộn rồi!




Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:36 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Mất Mồi Sểnh Cá





Vách sau nhà ông Mưu quay lưng ra đường. Vì vậy mỗi khi có việc hệ trọng mọi người đều phải nó nhỏ, kẻo người đi đường nghe thấy. Hôm nay, chị Hà nói chuyện với bố chồng. Chắc là việc quan trọng lắm, phải nói thật nhỏ nên cả hai bố con lúc nói phải áp sát miệng vào tai nhau, khiến người ngoài tưởng như họ đang “hôn tai nhau”. Nhả cái tai bố chồng ra, chị hà đon đả ra về, vẻ mặt hí hửng. Thật là hí hửng! Ông Mưu gọi với theo:
- Bảo chồng mày vào đây ngay nhé. Nghe chửa?
- Vâng ạ!
Chiều hôm ấy, anh Kế vào. Bố con họ lại “hôn tai nhau…hôn tai nhau” từng chập, từng chập. Nhả cái tai của bố ra, anh Kế lại hí hửng ra về. Tới cửa, anh còn nhận được thêm “ chỉ thị” của bố:
- Phải nhanh lên! Khẩn trương! Không phải luỡng lự.
Anh Kế về, ông gật gù:
- Thả con săn sắt, bắt con cá quả. Ồ! Mình có săn bắt đâu mà thả. Chẳng qua mượn cái hoa mướp cuối mùa của lão Ba Khoặm để bắt con ếch xù.

*
* *


Chuyện là thế này:
Những ngày nông nhàn, chị Hà thường nấu chè đỗ đen, nước giải khát bán ở gốc cây phượng vĩ. Địa điểm này thật là lý tưởng ở một làng quê nghèo bán sơn địa. Chỗ ấy là ngã ba sông Đáy và con mương lớn chạy tới quốc lộ I, cũng là ngã ba đê sông đáy với đường bờ mương lớn chạy theo mương. Ở đó có một cây phượng, tán tròn như chiếc ô xanh rộng lớn. Gió đồng, gió sông mát mẻ. Tán phượng râm mát. Thuyền bè hoặc khách đi bộ ra vào, xuôi ngược tới đây đều nghỉ lại rửa mặt mũi, chân tay, uống nước giải khát, ngắm núi ngắm sông, hóng mát cho thơ thái tâm hồn, hồi phục sức lực rồi mới đi tiếp.
Đã mấy hôm liền có một ông khách lạ chừng trên dưới sáu mươi tuổi tới nghỉ mát, ăn chè đỗ đen ở hàng chị. Ông vận bộ quần áo xanh công nhân đã cũ, đội mũ lưỡi trai, nước da ngăm đen, dáng người khắc khổ. Nhìn bề ngoài ông như một nông dân làm công nhân mới nghỉ hưu. Chỉ đến khi khách hàng và chủ quán quen nhau chị Hà mới biết: ông ta là một đại gia giàu có đang tìm địa điểm thu gom đá cảnh, cây cảnh cung cấp cho các khách sạn, công sở và dân chơi cảnh các tỉnh phía Nam đồng bằng Bắc Bộ. Ông cho chị xem cả chiếc thẻ: Phó chủ tịch hội sinh vật cảnh NĐ. Ông còn kể trước là bộ đội Trường Sơn. Sau chiến tranh về tham gia hội sinh vật cảnh ở một tỉnh có tiếng về nghề chơi cây thế. Lương hưu của ông trên một triệu đồng một tháng. Vợ bị bom Mỹ chết. Hai con gái: một đứa sống ở Đức, một đứa ở Nga. Hiện giờ ông gửi ngân hàng hai tỷ đồng. Nhà cửa, đất đai, cây và đá cảnh ngót ba tỷ nữa. Ông đang ở một ngôi nhà ba tầng. Do bận công tác, ông phải thuê một bà trông nom, quét dọn nhà cửa, mỗi tháng ba trăm ngàn đồng cơm nuôi. Ông nhờ chị giới thiệu cho một người vợ kế chừng trên dưới ba mươi tuổi, trẻ hơn càng tốt, chưa có con để trông nom gia đình và dùng nơi này làm địa điểm tập kết đá cảnh vì ở đây vận chuyển đường thủy hoặc đường bộ rất thuận lợi. Được vậy, tôi xin hậu tạ và giúp vốn liếng để chị làm ăn. Rồi ông cười hài hước:
- Tôi sẽ trả ơn chị như con chim thần trong truyện “cây khế”.
Chị Hà như nở từng khúc ruột, như nhìn thấy cả cây khế, chim thần và những thỏi vàng lấp lánh. Chị thầm nghĩ: “gái có công thì chồng chẳng phụ”. Giúp ông ta biết đâu mình chẳng đổi đời. Nhưng chị vẫn nghi ngại bèn đem chuyện này kể với bố chồng. Và ông bố chồng thông minh cho gọi ngay con trai đến thực hiện kế hoạch: “mượn mồi bắt cá”
Sau khi nhả vào tai con dâu, con trai kế hoạch đứng giữa kiếm lời đó, ông Mưu mắng yêu con:
- Chúng mày ngu lắm! Chê người ta ăn mặc xuềnh xoàng. Người giàu có mà như vậy mới thật là vàng mười. Còn như ông ta hơi đen là phải. Mùa hè, leo núi tìm đá và cây cảnh ai mà chẳng đen. Như chúng mày thì còn đen cháy ấy chứ. Đừng nhìn người qua vẻ bề ngoài.

*
* *


Mấy hôm sau, ông khách lạ ấy đến nhà anh Kế ở. Họ nhận nhau là cùng một đơn vị thời chống Mỹ, rồi nhận nhau là anh em kết nghĩa. Theo kế hoạch của bố, anh Kế làm bữa cơn cúng gia tiên. Đó là bữa cơm chính thức ra mắt mối tình thâm sâu như ruột thịt. Trong buổi đó các con ông Mưu cùng anh em ruột thịt ông đều có mặt. Ông tuyên bố từ nay là bố nuôi của người khách lạ có tên là Tạ Bình Long. Long là con cả của gia đình. Theo phân công của bố chồng, mấy hôm sau chị Hà đến gặp cô Tuyết Lan – con ông Trần Đình Ba chắp mối tơ duyên cho Long. Còn ông Mưu gặp ông Ba cũng vì chuyện ấy. Ông Mưu là người làng. Long cùng đơn vị với Kế, lại nhận ông Mưu là bố nuôi, có cúng gia tiên và anh em ruột thịt chứng kiến. Nhưng quan trọng hơn là Long rất giàu có, giàu xụ nên bố con ông Ba tin và nhận lời ngay chẳng khác nào vớ được cục vàng. Một lễ ăn hỏi lập tức được triển khai rất linh đình. Nhà gái mời đủ anh em, con cháu ruột thịt, họ hàng nội ngoại. Nhà trai trục thùng lục chỉ có bố con ông Mưu và ông con nuôi Tạ Đình Long. Vài bà họ nhà gái hỏi:
- Anh em ruột thịt của chú rể đâu mà không có mặt.
Ông Mưu trả lời:
- Hai con gái anh Long đang sinh sống ở nước ngoài. Long là con út. Các anh chị ruột đều đã qua đời. Tôi là bố nuôi của chú rể xin đại diện cho họ nhà trai và chịu trách nhiệm hỏi cưới cho con nuôi. Xin các cụ, các ông bà trong họ cứ tin ở tôi.
- Vâng! Ông là người cao tuổi, lại là cán bộ nghỉ hưu nên chúng tôi tin và yên tâm rồi.
Lễ ăn hỏi kết thúc. Ông Ba sửa mấy mâm cỗ mời đại diện hai họ dùng cơm và quyết định ngày cưới.
Sau buổi ấy, cô Lan ấp ủ giấc mộng được lấy chồng giàu xụ, sung sướng suốt đời. Ông ba ôm giấc mơ có chàng rể giàu có sẽ trợ đỡ kinh tế cho gia đình. Còn bố con ông Mưu cũng chắc mẩm con nuôi sẽ đáp đền ân nghĩa để dưỡng già và có vốn cho con cái làm ăn. Các bà, các chị trong làng cũng có dịp bàn tán, phẩm bình:
- Ờ! Cái chị Lan thế mà tốt số. Cứ tưởng ế. Ai ngờ, đùng một cái vớ được chồng giàu nứt đố đổ vách. Đúng là chậm mà chắc. Sướng thật!
- Gái lấy chồng già, cứ như là bố với con trông nó thế nào ấy. Chẳng qua là bố con ông Ba thả mồi bắt cá đó thôi.
- Ôi dào! Cốt sao lấy được chồng. già kén kẹn hom. Ngày xưa con tôi hỏi, cô ta ngúng nguẩy cho là không xứng đáng. Bây giờ thì ông lão cũng vơ làm chồng.
Những lời bàn tán về ông Ba tham giàu, thả mồi bắt cá, gả con gái cho một lão già cứ rỉ rả.
Trẻ con trong làng hát vè:
“Cô Lan già kén kẹn hom
Vội thả hoa mướp bắt con ếch xù
Tham giàu lấy phải chồng già
Gọi anh cũng dở, gọi cha cũng phiền”
Còn ông Mưu, dân làng đều cho là quá khôn ngoan, lọc lõi. Nhận Long là con nuôi, đứng ra lo việc hỏi cưới. Chẳng qua là mượn mồi ngon bắt con cá quả. Bố con ông Mưu, bố con ông Ba nghe thấy cả nhưng họ đều bỏ ngoài tai. Vì họ nói trúng phắp tim đen, có sai đâu. Lễ cưới đã định ngày. Họ sống như vợ chồng… Cô Lan tươi tỉnh, rạng rỡ như trẻ ra mấy tuổi. Gái phải hơi trai mà.

*
* *


Ít lâu sau, vừa mới tinh mơ, cô Lan khóc chu chéo. Ông Ba, bố con ông Mưu và xóm giềng kéo đến. Cô khóc rưng rức:
- Bố ơi! Con mất hết vốn liếng rồi. Con mất hết rồi. Ới ông Mưu ơi! Chị Hà ơi! Quân chó má! Quân đểu cáng!
Ông Ba hỏi con:
- Mất lúc nào?
- Con đâu biết! Sáng nay ngủ dậy nó đã đi mất từ đêm rồi.
- Thế là tao mất mấy mâm cỗ – ông Ba cứ toang toang nói như vậy.
- Chị Hà cũng hổn hển nói:
- Tôi cũng mất một triệu đồng nó vừa vay hôm kia.
Ông Mưu thẹn quá lèn lẹn bỏ về nhà. Chẳng hiểu hữu ý hay vô tình, cô Lan cứ gọi hờ bố con ông Mưu mà gào khóc:
- Ới bác Mưu ơi! Chị Hà ơi! Quân chó má! Đồ đểu giả!…
Thấy bố về, vợ chồng Kế cũng bám theo. Ông Mưu ngồi bật dậy chỉ tay vào mặt chị Hà:
- Tại chị! Tại chị cả đấy.
Chị Hà thanh minh:
- Ơ! Sao lại tại con. Bố bắt chúng con làm theo kế hoạch của bố đấy chứ. Bố còn nói: chúng mày cứ nhận hắn là thủ trưởng của chồng con hồi đánh Mỹ ở Trường Sơn để dân làng và ông Ba tin. Bố bảo: Việc này mà thành thì lắm lộc nhiều màu đấy.
Giận quá hóa khùng, anh Kế dằn giọng:
- Tại bố cả! Chỉ vì bố quá giỏi, quá thông minh, quá tham lam mà chúng con vừa mang tiếng vừa mất oan một triệu đồng và nuôi không nó hàng tháng trời.
- Im đi! Cút! Cút! – Ông Mưu thét lên đuổi con về
Giấc mộng “ thả mồi bắt cá” của bố con ông Ba, kế hoạch “mượn mồi bắt cá” của bố con ông Mưu bỗng chốc tan tành. Dân làng được bữa tiệc đàm tiếu với những trận cười vỡ bụng. Ít lâu sau, hắn bị bắt, người ta mới biết tên thật của con nuôi ông Mưu là Hạo ( hạo Lừa ). Đánh cắp được thẻ Phó chủ tịch hội Sinh vật cảnh của ông Tạ Bình Long, hắn đã dùng thẻ này cùng những lời đường mật để lừa những cô gái lỡ thì quá lứa và tham giàu để làm điều bất chính.


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:39 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Phá Ngục






Đêm nay!
Anh Hiếu lại không ngủ được. Anh tự thoại về những đúng – sai của mình đối với cha. Thế là một cuộc đấu tranh âm thầm nhưng dai dẳng, quyết liệt diễn ra. Đầu óc anh trở thành một bãi chiến trường để hai bên chiến đấu với đủ lý lẽ để bảo vệ cho sự đúng – sai của mình. Trán anh nóng bừng. Óc anh như nhão ra, dào dạt xô vào thành sọ. Đầu anh có lúc tưởng sắp vỡ tung. Từng mạch máu li ti đang căng ra như sợi dây đàn, chỉ quá một chút thôi sẽ đứt. Máu sẽ ùa ra óc. Và anh sẽ chết! Tất cả chỉ xoay quanh: Việc anh “bỏ ngục” cha là đúng hay sai? Nhiều lần anh kết luận: Là Sai! Ấy thế mà chỉ sau một cái tặc lưỡi: biết đâu sự đời có nhiều bí hiểm mà ta chưa hiểu được. vậy tốt hơn hết là cứ để cha ở trong ngục, vừa bảo vệ được cha, vừa bảo vệ được gia đình. Cứ thế anh suy nghĩ một mình đêm này qua đêm khác, tháng này qua tháng khác… Rồi trở thành bệnh mất ngủ. Sức khỏe anh giảm dần. Đầu óc không còn minh mẫn nữa nên tính toán làm ăn luẩn quẩn, đổ bể, kinh tế sa sút. Anh trở nên trầm uất, cáu bẳn. Nhiều đêm anh phải mượn rượu giải phiền. Duy chỉ lòng hiếu thảo của anh đối với cha là vẫn nguyên vẹn. Và cũng chính vì chữ hiếu đó nên anh mất ngủ để xem xét lại việc mình làm. Có điều là càng lý giải càng bế tắc.
Vợ con anh đã ngủ cả. Gió bấc ù ù rít lên vật vã những hàng cây ngoài vườn. Đêm đông lạnh lẽo, giá buốt. Tết sắp đến rồi! Lấy gì sắm sửa quần áo mới cho con, sắm sửa tết. Lại còn sửa lễ mở cửa ngục xin cho cha về ăn tết với con cháu. Anh thở dài. Con thạch sùng như thấu hiểu nỗi lòng anh, cất tiếng kêu: Tặc tặc! Tặc tặc!... Anh nhẩm tính: mỗi năm cha chỉ được về nhà năm lần. Đó là tết Nguyên đán, tết Nguyên tiêu, Dằm tháng bảy, Thanh minh và Kỵ nhật cha. Để tỏ lòng hiếu thảo, mỗi lần như vậy anh đều sửa lễ trình xin mở cửa ngục và lễ tạ xin vào ngục cho cha thật hậu và chu đáo. Mà kỳ thật, cha anh phải ở ngục cùng lũ người xấu, kẻ ác. Thật tủi hổ cho cha. Điều này mãi gần đây anh mới biết. Thì ra trong ngục còn có cả tên đồn trưởng Ngụy quân khét tiếng dâm, ác. Hắn đã đốt phá nhiều làng mạc, nhà cửa ở vùng này. Chính hắn đã giết ba cán bộ Việt Minh nằm vùng và hãm hiếp hàng chục phụ nữ. Năm 1953, hắn bị Cách mạng xử tội trong một trận càn. Trong cái ngục ấy còn có những tên cướp của giết người và mấy tên giám đốc tham nhũng bị kết án tù. Chúng đều là kẻ xấu xa, độc ác, có tội với dân với nước. Sau khi chết, vợ con chúng sợ Diêm Vương sẽ sai quỷ hành hình nên xin cho chúng vào đây lánh ẩn. Còn cha! Cha là người tốt, suốt đời vun đắp gia đình, nuôi dưỡng con cháu nên người, suốt đời phấn đấu vì dân vì nước. Cha là một chiến sĩ Điện Biên Phủ, là Bí thư Đảng ủy nhiều năm, cuối đời là Chủ tịch hội Bảo thọ. Cha được Đảng tín nhiệm, dân yêu mến, là niềm tự hào của con cháu. Sao cha phải vào ngục với lũ người kia.
- Vô lý! Thật vô lý!
Anh đập tay xuống giường và hét to như vậy. Vợ anh – chị Hiền giật mình ú ớ gọi:
- Không! Có gì đâu. Em cứ ngủ đi.
Đêm tháng Chạp càng khuya càng giá buốt. Anh hình dung những giọt sương muối đang rắc xuống từng ô mạ, mầm cây. Anh thấy xót trong lòng, thương cho những mầm non đang phải chống lại với sương giá. Anh mong trời chóng sáng và mau tới mùa xuân. Anh lại tự thoại:
- Có lẽ mình sai! Sai thật rồi!
Thế là tất cả những lý lẽ bênh vực cho ý nghĩ này lại bùng lên. Chúng như nói với anh: “ Đúng rồi! Cha anh là người tốt. Không bao giờ sau khi chết lại bị phạt. Cha anh sẽ được trời phật, thần linh bảo vệ, che chở và tôn vinh nơi tiên cảnh”. Anh nhớ lời ông Hân – chú ruột anh đã quá cố nói với vợ chồng anh. Mạt ông phờ phạc, tóc lả tả rơi xuống vùng trán tím tái, giọng buồn buồn:
- Anh Hiếu ạ! Nhà mình vài năm nay xúi quẩy quá. Thàng Bẩy – con út chú, mới lên ba bỗng nhiên chết đuối. Thím anh bây giờ như người mất hồn. Còn chú thì anh biết đấy… bị kỷ luật oan. Oan ức mà không thanh minh được. Nhà anh cũng làm ăn chẳng ra gì. Lợn chết. Gà toi. Chị ấy ốm quặt quẹo. Con anh bỏng… Chả biết thím xem bói ở đâu về bảo rằng: “ Linh hồn bác bị quỷ sứ hành hạ, tra khảo. Chúng bắt phải dẫn chúng về nhà quấy đảo và bắt con cháu. Đau quá,không chịu được, bác phải dẫn về. Nghe đến đây anh giật thót tim. Hình ảnh lũ quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa đang đánh đập, cực hình bắt cha anh dẫn về nhà hiện lên. Anh rùng mình nhưng cố gượng nói:
- Cha cháu có tội gì mà chúng bắt phạt?
- Thì chú chỉ biết vậy. Bác là người tốt. Có điều, bác mất phải giờ độc. Vả lại, cô đồng nói là các Ngài sang tai: Hồi làm Bí thư Đảng ủy bác cho chặt cây vải tiến ở chùa. Giậu đổ bìm leo. Bây giờ các Ngài quở.
- Thưa chú! Cây vải bị bom Mỹ lật đổ thì phải chặt. Và cha cháu xẻ lấy gỗ đóng bàn ghế cho học sinh nhà trường chứ có mang về nhà đâu.
- Biết vậy! Nhưng đường âm, phải ai người ấy chịu.
Anh không nghe. Chú anh dằn dỗi:
- Vì tôi thương cha anh bị quỷ sứ đánh đập và muốn gia đình ta yên ổn mới bảo anh làm theo lời thày bói. Anh không làm thì tôi làm.
Thấy chú gay gắt và thương bố, anh đành nghe theo. Thế là, anh bí mật đến nhà lão thày cúng có điện thờ cách nhà trên 5Km làm lễ cho linh hồn cha được vào ngục ở đó để tránh bon quỷ sứ. Được mấy tháng gia đình có vẻ bình yên, anh đã an lòng. Nhưng rồi hoạn nạn, rủi ro lại ập đến liên tiếp. Vợ anh ốm tong teo. Lễ bái tốn kém chẳng khỏi. Con đau ốm luôn. Lợn gà vẫn toi dịch. Tính việc gì cũng hỏng. Tiền vào tay ra nách. Lo quá, anh tìm đến cô đồng.
Lại mặt hoa da phấn, lại khăn chầu áo ngự long lánh kim tuyến. Lại nhảy múa thác loạn như yêu quái hiện hình. Lại đong đưa đôi mắt Bạch Cốt tinh vờn mồi. Lại lảo đảo rồi bắn tia mắt sắc lạnh rợn người theo ngón tay búp lan, móng dài như vuốt quỷ, tẽ cái mỏ đỏ ra cười rít hai hàm răng man dại:
- Đã lạy ta cứu mà chẳng thành tâm. Tội lớn như núi mà sợ tổn ải. Đã vậy thì! Đã vậy thì… Nãy cái đít bành bạch dỗi hờn bực bội, ngài lại đảo đồng rồi từ cõi âm vang ra: Trần thế nào, âm thế vậy! Ta thăng đây! Ta thăng!
Anh bàng hoàng mê mẩn nghe như có tiếng từ trên mây vọng xuống: “Tốt lễ, dễ kêu!”. Hiếu tâm anh thực hiện lời của thánh. Nhưng rồi đâu vẫn đấy. Chú anh sáu tháng nằm liệt giường rồi qua đời. Thím anh mắc bậnh tâm thần nặng. Anh bắt đầu nghi ngờ việc đưa cha vào ngục thì quỷ sứ không bắt dẫn về làm hại gia đình nữa. Nhưng anh vẫn không dám tin sự nghi ngờ của mình là đúng. Cứ thế, vừa buồn về gia cảnh, vừa lo nghĩ thương cha mà sinh bệnh, sức khỏe hao kiệt, gia đình sa sút. Anh nhớ lại lời ông Bí thư Đảng ủy trong buổi họp mặt trận học tập về chính sách tôn giáo và chống mê tín.
- Đảng và chính phủ ta tôn trọng tự do tín ngưỡng. Việc đi lễ ở đình chùa, nhà thờ cầu an, cầu phúc cho dân, cầu mát cho gia đình Đảng không ngăn cấm. Nhưng một số kẻ xấu, hành nghề mê tín đã mê hoặc người dân, bày ra lễ lậy, bắt ma trừ tà, đồng bóng, bói rí. Nhiều người bị mê hoặc làm theo chúng, hao tiền tốn của, có khi hại cả tính mạng.
- Thưa bác! Đã có trường hợp nào mê tín mà dẫn tới hậu quả nghiêm trọng không ạ?
Hướng về phía cô bí thư chi đoàn thanh niên xóm Đồng, ông bí thư nói:
- Có chứ! Có chứ! Tôi xin kể một vài câu chuyện đau xót để hội nghị nghe. – Ông buồn rầu nói- một cô gái trẻ xinh đẹp chỉ còn dăm tháng nữa là lên xe hoa về nhà chồng. nghe lời xúi giục của mụ đồng, cô đã tìm đến nhà gã thày cúng có điện thờ rực rỡ rồi mê muội đến nỗi để gã đó quan hệ tình dục với mình, lại còn phải nộp cho hắn hai chỉ vàng nhờ làm lễ. Vì sau khi hỏi tên tuổi chồng, vợ, sờ lần mân mó khắp người cô tìm nốt ruồi hắn nói: “Cô phải quan hệ tình dục với người đàn ông khác trước khi cưới và phải làm lễ giải họa thì mới ăn ở với nhau được hạnh phúc, giàu có, con cháu đề huề. Nếu không, một trong hai người sẽ chết”.
Cả hội trường lặng đi. Một thanh niên khác hỏi:
- Thưa bác! Kết cục cô ấy thế nào ạ?
Ông thở dài:
- Thật bi thảm. Cô gái đã mang bầu với hắn, bỏ nhà đi biệt tích.
Nhìn hội trường một lát ông nói tiếp:
- Còn vụ này cũng bi kịch không kém. Một chị bốn mươi tuổi mắc bệnh ung thư gan. Bệnh viện đã trả về. Vậy mà cũng cô đồng ấy phán: “Đời cha ăn mặn đời con khát nước. Ngày xưa các cụ lấy của Tam Bảo nên con cháu phải gánh tội, phải trả lễ mới khỏi”.Gia đình nhờ cô tạ lễ tốn kém hàng triệu đồng, trả tiền công cho cô hơn triệu đồng nữa. Ít lâu sau chị ấy chết, mụ đòng dẻo mỏ lại phán: “Các Ngài phạt quá tay rồi, không thể cứu được”. Đã thế sau khi chết còn phải làm lễ giải oan, cắt đoạn, làm lễ đưa vong lên chùa tốn kém gần sáu triệu nữa. Tất cả khoảng bẩy tấn thóc. Ốm đau lâu ngày, gia đình khánh kiệt, phải vay nợ lãi trang trải những món do cô đồng vẽ ra. Các con phải bỏ học mò cua bắt ốc qua ngày.
Cả hội trường cười vang. Điều đó ông nói cách đây hơn một năm, giờ đây lại văng vẳng bên tai. Anh nhận ra sai lầm và hối hận:
- Thì ra Đảng bảo đúng ta không nghe. Bọn cô đồng thầy bói bầy trò lừa gạt ta lại ngu muội tin theo. Chỉ vì hiếu thảo một cách mù quáng, anh đã làm lễ đưa linh hồn cha vào ngục, mỗi năm tốn kém trên một tấn thóc. Anh thương cha. Sợ cha giận và mong cha tha thứ. - Rồi anh tự vấn - Sao chú là cán bộ mà cũng bị lừa. Có lẽ bị kỷ luật, chú chán nản, gia đình lại hoạn nạn nên hoang mang. Nhân cơ hội này, bọn làm nghề mê tín dị đoan lừa bịp. Chúng thật xảo quyệt, tinh vi.
Bất giác anh nhớ lại lời chú lúc hấp hối. Chú nói không ra tiếng, đứt quãng, bập bõm:
- Ch.ú.ú so…ai rồi! Cha.áu.áu ph.á.á ục.ục!...
Bây giờ anh mới hiểu. Phải đến lúc sắp qua đời, chú mới nhận ra, cố trăng trối lại phải phá ngục cho cha. Nhưng lúc đó anh đâu có hiểu. vậy nên anh phải trả cái giá quá đắt. Đó là sự tốn kém tiền của, sự tổn hại về tinh thần, sức khỏe và bây giờ là sự ân hận đã mê muội nhốt cha vào ngục. Anh dậy lên đèn thắp nhang trên bàn thờ tổ, lầm rầm khấn. Đoạn rồi, anh kính cẩn nhấc ảnh thờ cha lên ban. Anh ngắm cha, tạ tội. Mắt anh nhòe lệ:
- Cha ơi! Con đã hiếu thảo một cách ngu muội. Con đã sai rồi! con đã bỏ ngục linh hồn cha. Cha phải ở ngục tên thầy cúng bất lương cùng với lũ xấu xa, độc ác có tội với đồng bào và đất nước. Xin cha hãy tha thứ cho con.
Anh lau nước mắt nhìn ảnh cha đang nở nụ cười. Ba tấm huân chương trong ảnh lóe lên lấp lánh. Gà bắt đầu gáy sáng!


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:42 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Mích





Quân khốn nạn! Cút! Cút ngay khỏi nhà tao! Cút!...
Thấy tiếng quát to của ông Thảo, tôi sang chơi, hỏi xem có chuyện gì? Ồng đang buồn rầu vuốt ve Mích – con chó mà tôi biết là ông rất yêu quý. Mỗi lúc đi săn, nó lao như tên bắn vào con mồi. vậy nên ông lấy tên loại máy bay Mích – Liên Xô giúp ta đánh Mỹ đặt tên cho nó. Chỉ cái tên ấy, đủ biết ông yêu quý, tự hào về nó đến nhường nào. Bây giờ nó nằm đây: Bất động!
Tôi ngồi xuống cạnh ông hỏi nhỏ:
- Mích chết rồi à ông?!
- Chết rồi! Chết thật rồi! – Ông ngẩng lên trả lời tôi mà như nói với chính mình, trả lời chính mình.
- Vì sao Mích chết hả ông? Lúc nãy nó còn ở bên nhà tôi mà.
- Vâng! Mích chết thật rồi! Nó vừa đánh nhau với con hổ mang, cứu cháu tôi đấy. Không có nó thì thằng bé chết mất.
Vừa nói ông vừa chỉ tay về phía đống rơm trước mặt. Một con hổ mang to bằng cổ tay, dài đến hơn một mét, nằm thưỡn thượt, bê bết máu. Rồi ông vừa vuốt ve trên mình con chó vừa kể. Giọng ông trầm buồn. Tôi có cảm giác ông như vừa nói chuyện vừa gãi cho nó ngủ.
- Sáng nay, cháu Hưng đon đả rút rơm đun nước đổ vào phích để tôi pha trà. Ngày nào cháu cũng làm vậy rồi mới vào bàn học. Bỗng cháu thét lên, ngã ngửa, run bần bật. Con rắn miệng bành ra như bàn tay sắp bổ vào thằng bé. Tôi bủn rủn chân tay chạy lại, không ngờ dẫm phải bãi phân gà nhã, trượt chân ngã vật xuống. Tôi tối mắt lại chỉ kịp nghĩ con rắn sẽ bổ chết thằng bé mất. Tự nhiên con Mích từ cổng xô tới, gầm gừ, nhe răng. Rắn ngóc đầu về phía nó. Mích cào cào đất, xù lông, ra oai. Mang bành cũng không vừa. Nó giương mắt, bạnh mồm, thè lưỡi dài và nhọn hoắt. Tôi chỉ kịp ôm cháu chạy ra, chưa lấy được thứ gì đánh rắn thì Mích đã lao vào cắn giữa khúc. Thấy vậy, Hưng reo kên: “Hoan hô Mích!”. Mích ngẩng lên nhìn Hưng. Bất ngờ! Bành bớp một miếng vào hông chó và phì phì, phì phì…Con chó “ẳng” một tiếng rồi lồng lên nhằm thẳng cổ rắn mà cắn. Rắn quật đuôi quấn chó. Mích cố gồng mình lên. Rắn cũng cố thiết chặt. Con chó rên lên ư ử nhưng vẫn ngoạm chặt cổ rắn. Lát sau đuôi rắn oải dần, oải dần rồi thuỗn ra. Cả hai cùng chết. Bấy giờ tôi mới kịp chạy đến. Mích chết rồi, nhưng hai hàm răng vẫn nghiến chặt. Tôi phải cậy miệng nó rồi kéo mạnh, mới lôi rắn ra được. Thật hú hồn! Cháu Hưng thoát chết nhưng con Mích khôn ngoan dũng cảm cứu chủ cũng chết mất. Tôi vừa tiếc vừa thương vừa tự trách mình: sao lúc ấy luống cuống đến mức chỉ ôm khư khư cháu, không tìm được con dao ở ngay hè, chém đứt đôi rắn. Ân hận quá ông giáo ạ.
Tôi cũng vuốt ve Mích rồi thở dài nói:
- Mích khôn và có công với chủ như vậy mà chết thì thật đáng tiếc.
- Vâng! Nó chẳng những cứu cháu Hưng mà còn cứu tôi và nhà tôi thoát nạn nhiều lần. Tôi nói chuyện này ông giáo đừng cười nhé: Một lần bà ấy vào rừng bứt dây về bện quang. Chừng nửa buổi hôm đó, Mích công chiếc quần bà xồng xộc chạy về nhà ư ử kêu và cuống quýt. Một ý nghĩ xấu về con người lóe lên: “Hay là có kẻ bắt cóc bà đưa vào hang làm điều xằng bậy nên mích công được chiếc quần mang về báo tin đây. Đang tuổi hồi xuân, bà ấy cứ phây phây, trẻ như con gái mà gặp kẻ xấu ở trong rừng vắng vẻ thì việc gì chúng chẳng làm. Mấy tháng trước, một cô gái đã bị bọn xấu làm cho tơi tả. Hoảng quá! Tôi gọi hai đứa cháu mang theo dao, gậy cùng đi tìm bà. Mích chạy trước dẫn đường. Qua ba lần vượt đèo dốc, thung sâu đến lưng chừng núi thứ tư thì thấy bà tô hô, mông chổng lên trời, hai đùi như hai cây chuối hột vừa bóc bẹ nhũn nhĩu trắng. Đầu và lưng bà chúi xuống hang sâu, miệng rên rỉ yếu ớt:
- Dốc tiết thế này thì chết mất!
Thấy vậy, hai cháu cười ngặt nghẽo. Tôi quát lên:
- Cười cái gì? Thím mày sắp chết rồi còn cười được à! Làm đi!
Ba chú cháu đào bới đất hàng tiếng đồng hồ mới đưa được bà lên. Bà thều thào:
- Đi đi! Cho tôi mặc quần.
Bấy giờ chúng tôi mới ngớ người ra, không mang quần bà theo.
- Người đời ơi là người đời! Không mang quần thì để truồng mà về à? Giời ơi là giời!
- Bí quá! Tôi cởi chiếc quần phăng cháo lòng ra cho bà mặc tạm. Cảnh tượng thật bật cười. Bà ấy, tóc rũ rượi, mặt mũi phờ phạc, áo sống xốc xếch, quần tây bụng sụng đi giữa hai thanh niên dìu xuống núi: Cứ như cảnh bắt giặc lái Mỹ vậy. Thì ra, thấy bụi bách bộ to quá, bà chúc đầu xuống bới lấy củ về nấu cao cho tôi. Bỗng “ục” một cái, bục đất sụt xuống kéo theo cả người. May mà vướng chỗ ngã ba quá khổ của bà nên không bị dỗng đầu xuống hang sâu. Chắc là thấy chủ mắc nạn, con Mích sủa váng rừng như báo người đến cứu rồi cào cào đất xung quanh cửa hang. Cuối cùng nó cắn vào gấu quần bà mà lôi. Quần lỏng, chun tuột. bà bị treo chổng mông lơ lửng. Cứ thế, chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thì dốc tiết mà chết. Biết chuyện, mấy bà bạn được dịp trêu chọc:
- Chắc là thấy bà chị xuân sắc, đẫy đà thần Đất mê hồn kéo xuống làm vợ nhưng thần Trời lôi lại ngắm mông. Ông anh phải sai hai cháu vác dao, gậy đánh nhau với thần cứu chị phải không?
Họ cười tưởng vỡ nhà và đấm nhau thùm thụp.
Ông Thảo thở dài nói tiếp:
- Thật hú hồn! bây giờ nghĩ lại còn sợ. Hôm ấy, không có con Mích tinh khôn, trung thành chắc bà ấy chết mất.
Vỗ vỗ nhẹ vào lưng Mích mấy cái ông kể:
- Một lần khác, khoảng hơn chín giờ tối, cả nhà đang xem phim thì Mích sủa inh ỏi ngoài vườn. Có tiếng chạy thình thịch rồi tiếng khóc ré lên:
- Ôi! Đau quá! Mẹ ơi! Đau quá!.
Tôi chạy ra: thằng Tào, con ông Nam bị chó đuổi ngã vật xuống đất, miệng bê bết máu. Quả đu đủ chín bẹp gí dưới ngực. Sợ quá! Tôi đưa cháu vào rửa mặt mũi và bôi thuốc. Xong việc, tôi hỏi:
- Còn đứa nào nữa không
- Dạ! Còn thằng Hội, con bà Hảo. Thấy chó đuổi, nó biến đâu mất
Thằng bé mếu máo:
- Cháu xin ông đừng cho bố cháu biết, kẻo bố cháu đánh chết cháu mất. Cháu xin ông. Từ nay cháu chừa.
Ngoài vườn vẫn có tiếng chó sủa. Tôi ra xem. Mích cứ chạy réo xung quanh gốc cây nhãn rít lên. Tôi soi đèn lên. Chẳng thấy gì. - về thôi Mích! - Tôi nói rồi quay gót. Mích quấn lấy chân tôi như muốn ngăn lại. Cứ thế nó chồm lên, cào cào vào gốc cây. Cẩn thận, tôi soi đèn lại lần nữa… lần nữa… Chà chà! Cu Hội như con nhái bén ép mình vào giữa hai chạc cây lớn.
- Cháu ơi! Xuống đi! Bình tĩnh mà xuống kẻo ngã. Bác không phạt đâu.
Nó vẫn dính đét vào cây, không nhúc nhích. Tôi nhẹ nhàng nói lại lần nữa:
- Nào xuống đi! Bác soi đèn cho nhé.
Nó mếu máo:
- Cháu sợ Mích lắm.
- Đừng sợ! Có bác, nó không cắn đâu.
Bấy giờ, nó mới như con nhái bén tụt xuống dần. Tôi dẫn Hội về nhà. Hai đứa nhìn nhau bẽn lẽn. Tiện trong nhà có bưởi, tôi gọt cho chúng ăn và cho mỗi đứa một quả đem về. Tôi dặn thêm:
- Về nhà cứ nói là bưởi bác cho kẻo bố mẹ cháu nghi ngờ.
Chúng thỏ thẻ:
- Từ nay, cháu không ăn trộm nữa đâu ạ.
- Ừ! Thế thì tốt quá. Hứa với bác rồi nhé!
- Vâng ạ!
Quả là từ đó, hai đứa không lấy chộm hoa quả nữa. Có lần chúng nói với tôi:
- Ông ạ! Từ nay không đứa nào lấy trộm của ông nữa. chúng cháu bảo bọn nó rồi.
- Ông giáo ạ! Con Mích nhà tôi dữ như vậy nhưng chưa cắn ai bao giờ. Ai vào nó chỉ sủa mấy tiếng báo cho chủ biết rồi nằm ngoài sân nhìn vào canh chừng. Nhưng nếu cầm một vật gì mà không do chúng tôi đưa cho là nó xộc đến cắn gấu quần cảnh cáo ngay. Từ ngày có nó, đêm ngày tôi không sợ mất gì cả.
Rồi ông thở dài;
- Vậy mà! Bây giờ nó nằm đây, chết rồi!
Hình như xúc động về cái chết của Mích, sau khi nhắp chén trà nóng đượm hương nhài cùng tôi, ông say sưa bình về loài chó:
- Ông giáo ạ! Con người ta khi chức trọng quyền cao, giàu có thì nhiều người nịnh nọt, tâng bốc, kết thân. Gặp bước hàm oan, nghèo hèn thì bị coi rẻ. Bạn bè, chồng vợ, thày trò, vua tôi vì một lẽ nào đó cũng chia lìa nhau, lấy oán trả ân. Còn loài chó thì khi chủ giàu hay nghèo, kể cả lúc bần cùng hay phải ăn mày, ăn xin, mù lòa, què cụt chẳng có gì nuôi nó, nó vẫn tận tụy, trung thành không bỏ chủ, không phản chủ. Con Mích nhà tôi, nào có được sung sướng gì cho cam. Bữa ăn chỉ lung vực cơm độn sắn, khoai, họa hoằn lắm mới được cái đầu cá hoặc xương gà, xương lợn người không ăn được quẳng ra. Vậy mà đêm ngày nó trông nhà giữ cửa và nhiều lần cứu vợ chồng tôi thoát nạn. Từ khi có nó, khu trại nhà tôi không bị lũ trộm cắp lấy hoa trái, phá phách. Chuột bọ cũng vãn, cáo cầy không dám về bắt gà, vịt. Năm con rắn giáo về bắt gà con đã bị nó cắn chết. Mỗi lần tôi đi đâu về, nó ra tận cổng ngoáy tít đuôi rồi dẫn vào nhà. Tôi âu yếm, vuốt ve, cho nó chiếc kẹo làm quà. Vậy mà nó quý tôi, nhiều lần cứu vợ chồng tôi. Lần này nó lại cứu cháu tôi thoát chết. nghĩ mà thương, mà tiếc nó vô cùng. Ôi chết! Mải nói chuyện quá. Mời ông giáo vào nhà xơi với tôi chén nước đã…

*
* *

Rít một hơi thuốc lào, ông Thảo tiếp tục nói:
- Mích chết! Tôi đang thương tiếc và ân hận thì mấy thằng mất dạy bảo tôi làm ma cho nó. Chưa biết làm ma cho chó thế nào nhưng thấy hay hay tôi trả lời: “Ừ!”. Thế là chúng reo lên:
- Vậy bác mua dăm lít rượu. chúng cháu làm thịt chó cho. Lát nữa ta làm bữa xả láng.
- Không được! – Tôi quát lên như vậy.
Tưởng tôi sợ tốn tiền chúng bảo:
- Nếu bác sợ tốn cơm rượu thì bán chó cho chúng cháu làm bữa chén ăn mừng vừa trúng quả đậm.
Cáu tiết lên tôi quát lớn: “Cút!” rồi tống cổ chúng ra khỏi nhà. Ra đến cổng chúng còn ngoái lại nói: “Lão già khốt-ta-bít”. Tôi nghe thấy cả. Giận lắm! Nhưng không thèm chấp lũ trẻ ranh.
Ông thở dài, ngừng một lát ông như ngẫm ngợi:
- Đấy ông giáo tính, lũ trẻ bây giờ có mất dạy không? Chúng chỉ nghĩ đến nhậu, đến ăn. Ăn cho sướng cái lỗ miệng chứ có nghĩ gì đến nỗi khổ tâm, sự vui buồn của người khác đâu.
- Vâng! Quả là bây giờ có một số cháu bỏ học sớm, ăn chơi lêu lổng. Cái đó một phần cũng do nhà trường chúng tôi giáo dục chưa tốt.
- Ấy chết! Đây là lỗi của chúng, của cha mẹ chúng chứ đâu tại nhà trường. Các thày cô có dạy chúng như vậy đâu. Lũ này con cháu nhà nào, tôi biết cả. Bố mẹ chúng cũng là kẻ rượu chè, cờ bạc, nhậu nhẹt tối ngày. Giỏ nhà ai, quai nhà ấy mà.
Tôi khẽ gật đầu để ông vừa lòng. Bất ngờ ông nhìn tôi và hỏi:
- Bây giờ, ông giáo tính làm gì với con Mích đây?
Bị hỏi đột ngột, tôi bối rối thật sự nên trả lời chung chung.
- Tùy ông, nhưng cần gì thì tôi giúp một tay.
- Ôi! Thế thì ông giáo uống nước đi . Uống nước đi rồi giúp tôi.
- Tôi tính kỹ rồi – Thấy tôi đang mải mê nghĩ về điều gì khác, ông Thảo giật giật tay tôi – Ông giáo có biết không? Ngày bà ấy nhà tôi mất, tối khuya hôm đó không thấy nó ở nhà. Gọi mãi, tìm mãi… vẫn bặt tăm hơi. Mấy thằng cháu bảo tôi:
- Chiều nay, khi đắp mộ cho bác gái xong, nó còn quanh quẩn, nằm bên cạnh mộ. Hay là…
Tôi vội sai chúng đi tìm. Lát sau, cả bọn quay về nói:
- Con Mích nằm bên mộ rên ư ử, không chịu về.
Nghe vậy tôi cảm động ứa nước mắt, tự xách đèn ra mộ. Quả nhiên nó nằm trên mộ, hướng về bát cơm, quả trứng có đôi đũa bông như canh cho bà ấy ngủ. Không kìm được, tôi òa lên khóc.
- Bà ơi! Bà có biết không? Con mích đang nằm canh giấc ngủ cho bà đấy. Cứ thế này thì nó chết mất. Linh thiêng! Bà bảo nó về giúp tôi đi.
Rồi tôi ngồi xuống, âu yếm nó và nói trong nước mắt:
- Mích ơi! – Tôi gọi nó là con – Ta biết con hiếu thuận, trung thành với chủ. Nhưng hãy về với ta, về trông nhà cửa cho ta. Về cho ta đỡ buồn! Nghe con!
Như cảm được lời nói của tôi nó đứng dậy sủa mấy tiếng, rên ư ử như khóc rồi cúi đầu theo tôi về nhà.
Tôi như đắm chìm trong câu chuyện cảm động. ông Thảo lại phải giật giật tay tôi lần nữa:
- Ông giáo ạ! Con Mích nhà tôi rất khôn ngoan, rất trung thành và có nghĩa với chủ. Nó có nhiều công, đã cứu vợ chồng tôi nhiều lần. Bây giờ nó lại liều mình cứu cháu Hưng mà chết. Không dám so sánh với con Người nói chung. Nhưng nó gấp trăm lần bọn người độc ác, vô nhân bạc nghĩa. Tuy không phải là người, nhưng nó sống như một con người thì sao tôi có thể ăn thịt hoặc bán cho kẻ khác ăn thịt được.
Tôi nhẹ nhàng an ủi ông:
- Mích đã chết rồi! Không thể làm gì cho nó sống lại được. hay là ông hãy đem chôn cất nó tử tế.
Ông Thảo gật đầu:
- Đúng! Đúng! Thày giáo nghĩ đúng như cái bụng của tôi rồi. Tôi định sẽ mai tang nó trên gò cao giữa khu vườn trại của mình.
- Thế thì tốt quá! Vừa tỏ ý trân trọng vừa như ủy thác cho nó trông coi khu vườn. Biết đâu do tâm linh, kẻ xấu không dám đến ăn trộm nữa.
Và tôi đã giúp ông điều đó!


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:45 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Lời Thú Tội Muộn Mằn





Sinh nhật Hiền năm nay thật sự là một ngày hội của gia đình. Mấy cái mừng cùng đến nên ông bà Tâm mở tiệc thật vui vẻ để cô con gái rượu của mình nhớ mãi cái ngày tròn mười tám tuổi và được du học ở Hoa Kỳ. Bạn bè thân thiết của Hiền đều đến đông đủ. Họ tặng quà, nâng cốc, chạm ly và nhảy van thật vui vẻ. Tuổi trẻ thật hồn nhiên, thoải mái. Ông Tâm hạnh phúc vô cùng. Hiếm hoi, bà Sen chỉ sinh có một lần. Vậy nên ông chăm sóc Hiền như báu ngọc. Đêm ngày ông chăm sóc, dạy dỗ và chỉ mong con được du học ở một nước có trình độ khoa học cao để phục vụ đất nước. Đồng lương giáo viên ít ỏi, ông phải tiết kiệm chi tiêu để dành tiền nuôi con ăn học. Và ông đã được đền bù. Hiền học giỏi, nết na, xinh đẹp. Mỗi khi ngồi nhìn con, ông có cảm giác được ngắm một bông hoa đẹp mà tạo hóa ban cho. Hiền vui phơi phới. Cuộc đời cô như một cánh diều gặp gió, bay lượn giữa trời thu, nắng đẹp. Trước khi đi Mỹ, cô muốn làm một việc gì có ích cho quê hương. Và cô đã hăng hái tham gia hiến máu nhân đạo do thành đoàn phát động. Nào ngờ! Sét đánh ngang tai. Hiền chết lặng đi khi bác sĩ xét nghiệm máu kết luận: cô đã nhiễm HIV dương tính. Tai họa khủng khiếp bất ngờ giáng xuống. Cả nhà bàng hoàng, đau đớn. Hiền rũ như tàu lá héo. Bà Sen hốt hoảng. Ông Tâm vò đầu, bứt tóc, mắng con hư đốn buông thả, mắng vợ không biết dạy con. Oan ức tày trời, nhưng Hiền không thể nào thanh minh cho sự vô tội của mình. Cô chỉ biết khóc.
Sau những ngày giông bão, ông Tâm tĩnh trí trở lại, càng thương con hơn. Ông lựa lời gạn hỏi:
- Con ơi! Con đã trót tiêm chích ma túy hoặc trót trao thân cho ai? Hãy cho ba biết. Ba không ghét bỏ con đâu. Ba chỉ muốn biết để ngăn chặn. Nếu không hậu quả sẽ khôn lường. Bệnh sẽ từ kẻ đó lan truyền sang nhiều người khác, cả con cháu họ nữa.
Hiền chỉ nức nở:
- Con chưa bao giờ phạm phải những điều trên. Xin ba hãy tin con.
Được cha thông cảm, an ủi, động viên, lâu dần Hiền đã nguôi ngoai nỗi buồn, vui vẻ trở lại. Nhưng bà Sen ngày càng đau khổ suy sụp. Bà gày tọp đi. Mắt buồn rười rượi. Lúc đờ đẫn xa xăm, lúc bối rối hoảng hốt. Trong lòng như đang bị giằng xé, quằn quại đau đớn. “Lòng người mẹ nào chẳng thế” - Ông Tâm nghĩ vậy. Thời gian cứ lặng lẽ, nặng nề, chậm chạp trôi đi.

*
* *


Thế rồi một ngày, khi đưa con đi tắm biển về, thấy phòng vợ khóa trái, ông gọi mãi không thưa. Hai cha con phải phá cửa vào. Trời ơi! Bà Sen nằm vật dưới nền nhà, đầu tóc rũ rượi. Hai tay cố níu lấy thành giường. Ông hốt hoảng gọi điện mời bác sĩ đến cấp cứu nhưng cô hiệu. Bà đã qua đời vì uống nhiều thuốc ngủ. Lại một cơn giông bão nữa ập đến. Ông Tâm bị gọi về đồn công an thẩm vấn nhiều lần. Ông day dứt vì bị nghi ngờ.
Sau ngày giỗ đầu bà Sen, ông lấy quyển an bum của gia đình ngắm lại ảnh bà trong ngày cưới thì thấy một bức thư dài. Trong thư bà kể:
“… Cha mẹ em ở ngoài Bắc bị ép di cư vào Nam năm 1954. Một tuổi em đã mồ côi cha. Mười một tuổi lại mồ côi mẹ. Em phải đi ở cho gia đình ông Bảy – một thiếu úy Ngụy. Vợ ông trẻ đẹp nhưng rất lẳng lơ. Đôi lần em thấy bà ta quan hệ bất chính với tên thiếu tá – Sếp của chồng bà và lão cố vấn Mỹ già. Gia đình ông giàu có nhưng không hạnh phúc. Vợ chồng ông cãi nhau luôn. Biết vợ ong bướm với quan trên nên ghen tuông nhưng đều thua cuộc. Mỗi lần cãi lộn nhau là bà ta lại vênh mặt lên:
- Tôi thế đấy! Có vậy anh mới lên lon trung úy mà đeo. Biết điều thì tôi để lại và xin ngài cố vấn cho thêm “hạt” nữa. Nếu không thì… Alê! Tuột sạch! Go…út bai! Bai bai!...
Ông ta chỉ há mồm, trợn mắt, dậm chân, đạp ấm chén rồi lảo đảo ôm đầu vào giường nằm sóng sượt như người mất hồn. Thật đáng thương! Rồi ông tìm đến em trò chuyện như để giải bớt nỗi buồn rầu, đau khổ. Ông than thở, nói lên nỗi nhục của một sĩ quan cấp dưới bị quan trên và kẻ ngoại bang chim chuột vợ mình mà phải cắn răng chịu đựng. Rồi một ngày, ông cầu hôn em để thoát khỏi mụ vợ dâm đãng quái ác và nỗi nhục kia. Càng ngày, mụ ta càng phách lối ngang ngược. Uất quá! Ông phát ốm. Em phải chăm sóc, cơm cháo, thuốc men cho ông. Thế rồi không hiểu vì thương hay vì yêu, em đã mềm yếu để sự việc “ấy” xảy ra. Chẳng ngờ mụ ta bắt được, gào lên như một con thú. Khi ông Bảy đến trại lính, mụ ta đuổi em đi và đe dọa: Nếu còn lảng vảng ở thành phố sẽ cho người xé xác. Ít lâu sau thì giải phóng. Thân gái bơ vơ, không nhà cửa, không tiền bạc, không việc làm lại thường xuyên bị lũ lưu manh, bụi đời làm nhục nên em liều mình tự vẫn và được anh cứu. Anh khuyên em giữ lấy cái thai và vượt qua mặc cảm đời thường chấp nhận em làm vợ. Sau này anh coi Hiền như con đẻ nên em càng cảm phục, biết ơn, nguyện sẽ cùng anh vun đắp hạnh phúc, mái ấm gia đình. Em chỉ mong sinh cho anh một đứa con. Hai chục năm chung sống, với kinh nghiệm của phụ nữ, em biết anh vô sinh mà chẳng dám nói ra. Vì anh lãnh tinh. Mỗi lần quan hệ vợ chồng, em rất buốt nhưng cố chịu đựng, cốt sao đem lại niềm vui cho anh.
Khi Hiền học lớp mười, tình cờ em gặp lại ông Bảy từ Mỹ về. Chúng em đã kể lại những ngày xa nhau. Em muốn nhờ ông tìm giúp người em thất lạc ở Mỹ. Qua một vài lần gặp nhau, em biết: bà vợ ông ta vẫn lăng nhăng rồi bỏ ông đem con đến ở với người tình cũ. Ông giữ con lại nhưng bà ta tuyên bố: Nó không phải là con ông. Ít lâu sau, mụ lại theo một thương gia Mỹ giàu có hơn. Ông Bảy càng đau đớn, nhục nhã ê chề ở xứ người. Chán đời, ông lao vào rượu chè, say sỉn và sa vào các hộp đêm giải sầu. Ông than thở: “Giàu có đấy nhưng gia đình tan nát. Vợ bỏ, con cái không có. Mất hết! Mất trắng tay!”. Thương quá! Em cho biết Hiền là con ông ta. Như người chết đuối vớ được phao, ông quỳ xuống vừa lễ vừa cảm ơn em đã giữ được đứa con – giọt máu của mình. Rồi ông cứ nắm lấy tay em mà hôn rối rít. Không hiểu sao, em cứ để yên. Như có luồng điện, em đờ người ra, run rẩy, mềm nhũn như cây nến gặp lửa và mê mẩn bồng bềnh, chơi vơi, dắm chìm, đắm chìm…
Khi bừng tỉnh, em mới giật mình hốt hoảng, ân hận, khóc thút thít. Ông ta bối rối xin lỗi em rồi xin được gặp Hiền. Em kiên quyết chối từ. Vì như vậy chỉ làm con đau đớn, tổn thương. Hiểu được điều đó, ông Bảy chỉ khẩn khoản xin được góp phần nuôi con và hứa không bao giờ làm xáo trộn nhà mình nữa. Ông đã thực hiện lời hứa. Sau lần ấy, em càng biết lỗi nên càng ra sức cưng chiều và dâng hiến để tạ lỗi, để đền ơn anh.
Khi con bị HIV, lúc đầu em cũng nghĩ là do nó. Sau này, biết ông Bảy chết vì bệnh Siđa em mới giật mình nghĩ lại cái lần trót dại ấy. Em bí mật đi xét nghiệm và biết mình đã nhiễm thứ vi-rút chết người đó từ ông ta. Hai năm trước đây, em đã truyền máu mình cứu Hiền khi nó gặp tai nạn. Ai ngờ dòng máu của người mẹ tội lỗi đã đem tử thần của cha nó giết chết con mình. Và như vậy, qua sinh hoạt vợ chồng, vô tình êm đã hại cả đời anh: Người chồng – Người ân nhân của mình. Em đau xót, bàng hoàng nghĩ tới mụ vợ ông Bảy, do không thủy chung đã phá vỡ hạnh phúc gia đình, đẩy chồng vào hộp đêm – cái ổ của bệnh AIDS khủng khiếp. Em rùng rợn nghĩ tới một phút yếu mềm, đánh mất lòng chung thủy, làm tan nát gia đình mình. Kẻ gieo gió phải gặt bão. Em gieo gió mà anh và con phải chịu họa. Đau xót quá! Ghê tởm quá! Giá như bị voi dày ngựa xé , gọt đầu bôi vôi, thả bè trôi sông mà cứu được con và anh, chuộc lại lỗi lầm em cũng làm. Nhiều lúc em muốn ra đường kêu lên: “ Hỡi những người đàn bà đã yên bề gia thất, đừng bao giờ dại dột, ngả vào vòng tay người đàn ông khác dẫu chỉ một lần. Bởi vì nó sẽ gây nên giông bão, sấm sét và tàn phá mái ấm gia đình”. Nhưng em không đủ can đảm làm điều đó. Có lúc em muốn thú tội với anh. Biết rằng, với lòng bao dung nhân hậu, anh sẽ tha thứ. Nhưng em xấu hổ lắm rồi. Em không thể ngồi nhìn con và anh chết dần bởi căn bệnh do chính em gây ra. Em không đáng sống nữa. Em phải tự xử. Em phải chết! Chỉ có chết, chết hàng trăm ngàn lần để rửa lỗi lầm. Và em đã…
Bức thư này là lời thú tội muộn mằn của một người vợ - người mẹ hư đốn. Xin anh và con tha thứ.
Vĩnh biệt!...”

Chữ viết trong thư chỗ xiêu chỗ vẹo, ngả nghiêng chỗ nhòe nước. Rõ ràng thư phải viết trong tâm trạng rối bời, giông bão, đầy nước mắt. Lời lẽ trong thư thành thực như một con chiên ngoan đạo xưng tội trước Chúa. Áp bức thư vào ngực, ông Tâm ứa nước mắt, nghẹn ngào:
- Vợ chồng ở chẳng thủy chung
Gia đình tan nát như vùng vỡ đê
Rồi ông hôn lên trán, lên má và ôm ghì con vào lòng như không để cho thần chết cướp đi đứa con yêu quý của mình. Hiền thổn thức, nước mắt nóng hổi, đầm đìa của cô thấm vào ngực cha. Ông Tâm thì thầm:
- Con ơi! Bức thư của mẹ đã giải oan cho con rồi. Hãy tha thứ cho mẹ và làm một việc gì có ích cho đời, trong những ngày còn lại.


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:50 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Ông Láu

( Tiểu thuyết mini )



I. Tội

- Chồng chết chưa đầy năm, con trai chưa đầy ba tuổi mày đã nằm ngửa cho cái thằng đầu bạc như cái đầu l… tao nó… Về họ hàng nó phải gọi mày bằng chị đấy. Đồ súc vật! Loạn luân!
Vốn bà Ngan vẫn tục tĩu như vậy. Rồi bà đay nghiến:
- Mà mày ngu thế? Sao lại chịu để cái bụng nó ễnh ra cơ chứ. Đẻ ra, nằm đấy thì lấy gì mà đổ vào nồi.
Lỏn thút thít:
- Khi bị như thế lão ta đã bảo vợ đưa con đi nạo… hai lần. Nhưng cả hai nơi họ đều nói: Thai già tháng nên không làm được. Vì thế con mới phải chịu… mẹ đừng chửi con nữa. Con cũng khổ lắm rồi.
- Thế..ế vì sao mày cho nó nằm?
- Hồi làm trưởng thôn, một lần lão đến nhà thấy mẹ con con đang ăn cháo. Lão bảo vào nhà cho ít gạo. Một hôm, trời mưa con tới nhà, hắn gọi con vào buồng trong cho vài bơ gạo rồi đè xuống đó. Con chưa kịp kêu thì lão lấy tay bưng miệng và nói: “Ngoan nào! Nằm yên! Thỉnh thoảng vào đây tao cho ít gạo về nuôi con”. Sau việc ấy, lão còn nói: chỗ ở của con chật chội, ủm thũm quá. Ngoan thì lão khai hộ nghèo và xin trợ cấp nuôi con và xin làm nhà cho.
Bà Ngan dịu giọng:
- Nó như thế với mày từ bao giờ? Ở đâu? Bao nhiêu lần rồi?
Lỏn đỏ mặt:
- Con không nhớ nhưng bắt đầu từ khi vợ lão ta vào Nam, nuôi con gái đẻ. Lúc thì ở nhà lão, lúc thì ở nhà con.
- Trời ơi! Thế thì già mọt năm. Hàng trăm lần rồi còn gì. Đồ lợn sề, chó cái! Đàn ông chết hết rồi hay sao mà mày phải nằm với ngữ ấy?
Tức thì nói vậy chứ con bà sạch sẽ mỹ miều gì. So với lão Láu già bẩn thỉu, nhớp nhúa từ ngoài vào trong thì hai đứa cũng xứng đôi. Người đời thường nói: “Gái một con trông mòn con mắt” nhưng Lỏn thì xấu ma chê quỷ hờn. Ả thuộc nòi lùn. Lùn tịt. Ngoài hai muơi tuổi mà chỉ cao hơn đứa trẻ lên mười một chút. Cái mũi cóc ngồi chồm hỗm cùng với cặp môi dày chìa ra hai chiếc răng bàn cuốc vàng khè cưỡi trên khuôn mặt tròn như chiếc đĩa to bự màu khoai tây. Ả chẳng học hành gì, tính tình lại man mát, chầm chập, ngồ ngộ, đần đần. Mỗi khi ả lang lỉnh đi hoặc đờ đẫn ngồi trên đê nhìn người qua lại trông giống như con chim cánh cụt trên bãi biển. Ả lười tắm lắm nên người rất hôi hám. Hai mẹ con ả sống nhờ trái nhà của người anh trai rộng chừng 3m2. mái tranh thấp hơn mặt đê. Nền nhà bằng nền chân đê. Cái tổ tối tăm, ẩm ướt, chật hẹp ấy chứa đủ thứ: giường chiếu, chăn màn, quần áo, thùng gạo, vò nước, bếp múc, xoong nồi, bát đĩa và hai mẹ con. Đứa con trai ba tuổi đó nàng cũng tự kiếm được từ một người đàn ông chẳng rõ quê quán, lai lịch. Mỗi khi mưa gió, nước ngấm vào nhà sực mùi ảm mốc, hôi hám. Người mè hè chẳng dám bước vào.
Khi biết Lỏn có thai với trưởng thôn Láu, mấy cụ già trong họ thở dài, phàn nàn:
- Sao ông ta lại chui đầu vào cái nơi nhớp nháp, ăn nằm với con bé không bằng tuổi con gái út, xấu xí như cóc ghẻ, hôi hám, bẩn thỉu, dơ dở hâm hâm được nhỉ. Chẳng gì cũng mang danh là Đảng viên, là trưởng thôn của một làng quê. Thật nhơ nhớp! Nhơ nhớp từ thể xác đến tâm hồn. Thật xấu hổ! Xấu hổ cho cả họ, cả làng và những người cao tuổi. Ngày xưa thằng lý trưởng có ngủ với gái cũng chơi gái trẻ, đẹp hơn vợ mình ở nơi đàng hoàng sạch sẽ chứ đâu phải rúc ráy, nhơ bẩn như lão này.
Và họ tự trả lời: “Thì lão ta cũng hơn gì nó”.
Bị mẹ mắng, Lỏn tức tưởi khóc:
- Thì loại ấy nó mới thế. Con tưởng lão ta già rồi sẽ không bị…
- Không bị ễnh bụng ra chứ gì? Tưởng cho lắm vào mới đeo mo vào mặt mẹ mày. Trâu chết để da, người chết để tiếng. Tao già cả, xấu xí, tao nghèo khổ, tao hâm hâm cũng không thèm để cái loại ấy chạm đến một cái lông của mình. Vậy mà mày nằm ngửa ra cho nó dỗng vào. Ngu ơi là ngu! Con ơi là con!

*
* *

II. Tài


Bụng Lỏn nâng cấp, to dần. Chuyện Trưởng thôn già chơi gái cóc ghẻ lan khắp làng xã. Ông Láu buồn rầu nói với vợ:
- Bà ạ! Tôi tính kỹ rồi. Ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn.
- Thế thì khác nào: lạy ông, tôi ở bụi này. Dân làng sẽ nghĩ: có tội mới phải trốn.
- Thì cũng phải lánh mặt đi một thời gian. Chờ khi dư luận lắng xuống sẽ về. Tôi sẽ tìm ra lý do chính đáng để ra đi.
Nhả chiếc bã trầu đỏ như thỏi than ra khỏi miệng. tiện tay bà ném cục than đó ra sân rồi hỏi:
- Làm cách nào?
Tôi điện cho con Lài bảo nó gửi thư về gấp. Trong thư viết: “Chồng con ốm nặng, nghi là sơ gan cổ trướng, ung thư. Bố vào ngay giúp con.”
Bà Láu thở dài:
- Bịa ra như vậy không sợ nó ám vào nhà mình à?
Vẽ chuyện! Mê tín! Thế mới có lý do chính đáng để lánh mặt khỏi làng, tránh dư luận và một số kẻ tìm cách kết tội. Khi có thư này tôi sẽ trình bày với chi bộ và xã xin vào với con một thời gian.
Quả thật già nửa tháng sau, ông bà Láu nhận được thư Lài gửi về với nội dung trên. Ông ta đem thư đọc trước chi bộ rồi chuyển về xã lấy cớ xin vào thăm con ít hôm. Thấy vậy bà Láu hỏi:
- Sao không xin đi lâu chừng một vài năm.
- Đúng là đàn bà, đái không qua ngọn cỏ, nhìn không qua mũi. “Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đụng trầu”. Nếu xin nghỉ như bà nói thì họ bổ sung người khác làm trưởng thôn, mình vừa mất ghế, vừa mất lương. Xin nghỉ như tôi vẫn giữ được chức, vẫn có lương hàng tháng. Vào đấy một thời gian, nghe ngóng tình hình, tôi sẽ viết đơn về xin nghỉ trưởng thôn sau. Bà ở nhà cố lo liệu thu xếp mọi việc, trên dưới, trong ngoài sao cho êm ấm nhé.
- Vậy tôi phải làm thế nào đây?
- Còn phải hỏi. Bà có tiếng là khôn ngoan lọc lõi. Trước đây cũng nhờ bà mà tôi thoát được nhiều vụ rắc rối.
- Nhưng việc này thì – Bà Láu lắc đầu, dảu mỏ - Tôi kệ! Tức lắm! Tức chết di được! Mới xa vợ một thời gian đã thèm thuồng tới mức phải ăn vụng. Già rồi! chứ trẻ trung gì cho cam. Đã ăn vụng lại còn tham, ăn của ôi thiu, ăn nhiều, nuốt vội nên bị hóc, khạc không ra, nuốt không vào. Bây giờ cả làng, cả xã người ta đều biết và chửi cho rồi. Mà nằm với cái con dở hơi, nửa chim nửa chuột, xấu xí như Thị Nở, bẩn thỉu như cóc ghẻ. Họ nói như vậy. Nghĩ mà tức mà nhục thay cho ông và tức thay cho mình. Thì ra tôi không bằng nó. Khốn khổ cái thân tôi, không bằng cái con Lỏn dơ dáy, bẩn thỉu, ma chê quỷ hờn.
Bà nghiến răng ken két
- Vậy mà ông cũng đâm đầu vào con đĩ ấy.
Bị xúc phạm quá đáng, ông Láu tức lắm nhưng phải nuốt hận đấu dịu:
- Bà giận thì nói vậy. Chẳng lẽ bỏ tôi lúc này sao? - Rồi ông tặc lưỡi – Trước đây bà cũng … Tôi đã bỏ qua. Bây giờ tôi mắc lỗi bà cũng bỏ qua cho tôi chứ. Mà xấu chàng thì hổ ai. Bà ăn chả. Tôi ăn nem. Thôi xí xóa.
Bà gắt lên:
- Ông mà cũng biết xấu hổ, cũng biết chả với nem à! Ông điên à? Ông ghen à? Còn bới… ra mà ngửi.
Mặt đỏ phừng phừng, nguýt dài chồng một cái. Bà Láu nói như giảng giải. phân bua:
- Trước đây tôi thế nào cũng vì ông. Vì gia đình ông, chạy tội cho ông. Việc làm của tôi giống ông sao được. Tôi vì chồng vì con, vì gia đình nhà chồng mà ô danh, mất Đảng. Ông chơi gái cho sướng bản thân chứ đâu vì vợ, vì con. Nó khác nhau là ở chỗ đó. Ông biết không? Cái thời đánh Mỹ, Hợp tác xã làm ăn theo kiểu ghi công, chấm điểm. Lúa má gặt về phơi đầy sân kho. Nhưng phần lớn để chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, cho nước bạn Lào, Căm-pu-chia. Phần còn lại để nuôi bộ đội, bảo vệ miền Bắc, nuôi cán bộ, nuôi dân các thành thị. Phần rất nhỏ để lại tiếng là của xã viên nhưng nào là lúa quỹ, lúa nuôi cán bộ Hợp tác xã, lúa đê điều thủy lợi. Lúa rơi rụng, sâu bơi đủ kiểu. Người nông dân một nắng hai sương, giá trị ngày công âm xu, âm xèng – Nghĩa là không còn gì. Thế nhưng để lấy thành tích, họ báo cáo lên trên phương án ăn chia mỗi khẩu mười lăm, mười sáu cân thóc tương đương mười cân gạo. Cấp trên tưởng thật. Dân no quá còn gì! Bệnh thành tích mà! Nơi nào, ngành nào cũng vậy. Ông đi bộ đội, đóng ở biên giới. Mình tôi phải nuôi hai con nhỏ, cha mẹ chồng, bẩy em chồng và mẹ tôi nữa. Cả thẩy mười ba miệng ăn. Để cứu gia đình qua cơn đói khổ, tôi đành phải chiều lão đội trưởng để hắn ta dấm dúi ít công điểm hoặc thúng thóc ở sân kho lúc đêm khuya vắng vẻ. Biết là xấu xa mà vẫn phải nhắm mắt để mỗi vụ có thêm và ba tạ thóc nuôi con và gia đình. Khi xuất ngũ, về làm đội trưởng ngành nghề và đội thủy lợi 202, ông đã chặt trộm cây, bán khuôn, bán ngói của Hợp tác xã dẫn đến thua lỗ. Ông còn ăn chặn tiền gạo của đội viên 202. Sự việc đổ bể, tôi phải đổi cả thân xác, danh dự cho lão Chủ nhiệm để hắn ngơ đi. Việc ấy chính ông! Chính ông bảo tôi cho lão sàm sỡ bên ngoài. Nhưng được đằng chân, lân đằng đầu. Đã nhả nhớn được bên ngoài thì dằn người ta xuống mà… Thói đời, quen mui bén mùi ăn mãi để rồi dân bắt quả tang. Thế là cả tôi và hắn ta bị khai trừ Đảng làm phó thường dân, dơ diếu vô cùng. Nếu không vì ông, vì con, vì gia đình ông, tôi đâu có phải khổ nhục đến vậy. Đàn bà chúng tôi đã có chồng con, lại còn nghèo khổ còn thiết gì chuyện trăng hoa. Cùng là chuyện gái trai bất chính nhưng tôi và ông khác nhau. Tôi vì gia đình mà phải cắn răng chịu nhục. Còn ông là để thỏa mãn dục vọng xấu xa của mình.
- Thôi! Đừng nói nữa – Ông Láu thủ thỉ với vợ - Tôi xin bà, tôi biết lỗi rồi. Bà đã vì tôi mà chịu đắng cay, thiệt thòi. Bây giờ tôi trót đổ đốn. Bà hãy cố cứu tôi lần nữa nhé. Tôi vào đó chừng bốn tháng sẽ gửi đơn về xin từ chức Phó bí thư chi bộ, trưởng thôn với lý do con ốm nặng, phải ở lại tìm thày chạy chữa, trông nom nhà cửa, ruộng vườn cho chúng. Bà đem đơn này gửi cho Bí thư chi bộ để họ thông báo với chi bộ xã. Thế là tôi nghỉ công tác với lý do chính đáng. Kế hoạch chạy tội tuyệt vời không chê vào đâu được.
Bà Láu phì cười.
- Chạy trốn tội ngủ với gái có mang mà xã vẫn phải trả lương, xin từ chức để trốn tội vẫn là chính đáng. Chắc là ông không bị kỷ luật như tôi và có khi còn được thăng chức nữa. Ông thật có tài! Thật láu lỉnh! Chả trách tên ông là Láu cũng phải..
Giương đôi mắt cá chầy, ươn ướt ( cặp mắt mà nhiều người đoán tướng gọi là mắt láu cá, gian hiểm, độc ác ) lên, ông Láu tiếp tục nói:
- Nhưng có thoát tội được hay không và giải quyết hậu quả khi Lỏn đẻ thế nào là phải nhờ bà. Chỉ có bà mới cứu được tôi cái đận này. Thương tôi nhé! Cứu tôi nhé! Nếu không bịt kín chuyện này thì tôi đành đi biệt xứ và chết ở nơi khác chứ không thể ở nhà với bà được.
Nói vậy! Chứ hắn làm chó gì có lòng tự trọng. Nguýt dài chồng cái nữa, bà Láu bĩu môi:
- Ông có mà chết rực. Cứ đi đi. Đi đến gốc si lại quay về.Chẳng lẽ thấy chết mà không cứu. Thế ông bảo tôi phải làm gì?
Lão gãi gãi đầu nhăn nhở cười;
- Tốt nhất là đưa nó đi nạo thai, tống cái của nợ ấy ra ngoài.
- Giời ạ! Cái thai là con mình mà ông lại gọi là của nợ. Nạo thai cũng là giết con đấy. Ác lắm! Thì ra ông chỉ vì mình chứ có vì vợ con đâu. Tốt nhất là ông nên tự thú với Đảng, xin ra khỏi Đảng rồi cưới luôn cái Lỏn về làm vợ hai. Tôi già rồi, cũng chẳng cần cho ông nữa. Tôi bằng lòng đấy. Ông cứ ở với mẹ con nó. Còn mẹ con tôi ở với nhau. Lấy nó ông ở đâu thì ở. Còn ngôi nhà này, mảnh đất này là của mẹ tôi nên mẹ con tôi ở.
- Thôi mà! Tôi lạy bà, đừng chì chiết nữa. Hãy cứu tôi qua kiếp nạn này.
Lão lại khềnh khệch cười lấy lòng rồi thì thầm:
- Bà cố tìm cách nạo cái thai đó ra. Nếu không thể được thì bà nói khó với bà Năm Tảo – Người làng mình chăn nuôi lợn ở Phủ Lý. Bà ta nhân đức có nhận thuê Lỏn làm việc cám bã, rửa ráy chuồng lợn. Trong khi đó bà xem có ai hiếm hoi cần con nuôi thì bán cho họ. Khi nó đẻ, bà đưa đi viện khai tên quê, tên nó khác đi. Kẻo bị lộ. Nếu người nhà nó lên thì bà lừa cho về rồi bán cái của nợ đó cho người cần mua. Nếu không thì bỏ lại bệnh viện hay ở chùa hoặc nhà thờ. Thế nào họ cũng nuôi nó rồi đưa vào cô nhi viện. Họ cũng chả thể lần được mẹ và quê nó ở mà tìm vì ta đã thay tên họ, quê quán của Lỏn rồi. Có trời cũng chẳng lần ra được. Nhớ là mọi việc làm phải bí mật. Khi Lỏn về nhà phải nhờ bà Tõm đến an ủi, vỗ về hoặc dọa nạt. Cả nhà nó đều đần độn và nhát gan, chỉ dọa khéo là sợ vãi đái, chẳng dám tố cáo đâu. Tuy vậy, bằng mọi cách, khi có cán bộ, Đảng viên đến khai thác, bảo nó cứ khai là bị kẻ xấu cưỡng hiếp, nếu kẻ nào cứ hỏi mãi để điều tra thì nó đổ dọa đổ ngay cho kẻ đó.
Bà Láu thỉnh thoảng gật đầu: “Ừ! Tôi sẽ làm như vậy”
Đến ngày sinh, Lỏn được chi dâu đưa đi bệnh viện tỉnh. Ngay tối hôm đó chị về báo tin: Lỏn đẻ con trai. Bà Láu bảo chị cứ về nhà nghỉ, nhân tiện bà trông em dâu chữa mắt chăm sóc giúp mẹ con Lỏn luôn thể.
Sáng sớm hôm sau, mọi người sửng sốt khi thấy Lỏn về không mang theo con. Lỏn nói với người nhà: Bà Láu đã bán giúp đứa con cho một người ở xa và đưa cho ả 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng ) trị giá tạ rưỡi thóc.
Mãi sau người ta mới biết: Theo kế hoạch của chồng, bà Láu giả vờ đưa em dâu đi chữa mắt rồi bí mật báo Lỏn khi đẻ thì tới bệnh viện đó. Đêm ấy, bà lừa chị dâu Lỏn về nhà nghỉ rồi bán đứa hài nhi đó với giá ba triệu đồng nhưng chỉ đưa cho mẹ nó có vậy thôi.
Than ôi! Nghèo khổ và ngu dốt đần độn, bán được con đi, khỏi phải nuôi, lại được ba trăm ngàn đồng coi như được một món tiền lớn rồi.
Tin này loan ra cả xã. Người ta lên án! Người ta nguyền rủa! Người ta nói những lời cay độc. Những người mộ đạo phật đều thốt lên:
- A di đà phật! Tội này trả đến mấy đời cho xong. Nhất định bị quả báo. Chết xuống âm phủ sẽ bị quỷ sứ hành hình quẳng vào vạc dầu sôi hoặc cho chó Ngao xé xác. Nhà này rồi sẽ lụn bại.
Sau khi dư luận lắng xuống, ông Láu mò về làng rủ anh ruột Lỏn đi đóng gạch thuê.
Đùng một cái, năm thứ hai, một số người họ hàng, vây cánh tung tin, bịa đặt và đánh tráo phiếu lật đổ người Bí thư chi bộ trẻ tuổi, cương trực đưa Láu lên chức vụ cao nhất trong chi bộ ở một làng quê.
Ôi! Chuyện thật mà như bịa. Cả làng, cả xã lại sửng sốt một phen.
Ngủ với gái, bán con lấy tiền lại lên chức Bí thư chi bộ. Sự thật này cảnh báo điều gì đây?

*
* *

III. Nợ

Nằm trên chiếc giường tre ( nửa giường nửa chõng ) ọp ẹp hơn năm rồi, bà Láu buồn bực kêu lên:
- Sao không cho tôi chết đi! Trời ơi! Sống thế này thì khổ nhục quá.
- Kiếp đời, số phận mình như vậy thì phải chịu. – Ông an ủi vợ như vậy.
- Kiếp đời nào? Số phận nào? Quả báo đấy. Tôi phải gánh cái nợ này cho ông đấy.
Rồi bà lại kêu và khóc:
- Trời ơi! Cho con chết đi. Trời Phật ơi!
Gia cảnh túng quẫn, bệnh tật kéo dài, bà trở nên cáu bẳn. Nằm yên một lúc bà lại càu nhàu:
- Ông đừng bày cho con cách ăn cắp điện thì sao nó bị điện giật chết. Ông còn nói: “Làm thế này kỹ sư điện cũng không phát hiện được”. Có một thằng con trai, bây giờ thì tuyệt giống rồi. Thương nó, sợ sau này không có người nối dõi, không chỗ nương nhờ mà tôi đổ bệnh, khốn khổ thế này.
Không chịu được nữa, ông Láu gầm lên:
- Bà có im đi không? Tôi hầu hạ bà chưa đủ cực à?
Rồi ông đập giường, đập chiếu một thôi một hồi.
- Bà biết không? Tôi già bạc đầu rồi còn phải bón cơm, bón cháo, chùi chôn rửa đít, giặt giũ quần áo bẩn thỉu, dơ dáy của bà. Tôi sướng lắm à? Hay bà ỷ thế tôi ở nhà vợ mà lên mặt.
Bà thở dài sườn sượt:
- Tôi không nghĩ như thế. Nhưng lấy tôi mấy chục năm trời mà nhà cửa, giường chõng, bàn ghế của mẹ tôi để lại ông chưa hề mua sắm, sửa sang được gì. Tất cả đều như cũ. Mục nát dần. Tôi chẳng nói thì cả làng người ta đều biết, ông ở sẵn nhà vợ mà chẳng làm được gì.
Ông thủng thẳng nói:
- Hay là tôi mất chức quyền mà bà coi thường.
Mắc căn bệnh quái ác, đau ốm dai, vô phương cứu chữa. Lúc tỉnh bà suy nghĩ liên miên về những việc làm thất đức, độc ác của chồng. Lúc mê hoặc đêm đêm những cơn ác mộng lại kéo đến hành hạ. Có lần bà mơ thấy cục máu đỏ lòm bay lơ lửng rồi vỡ ra hoặc thấy một thằng bé như con búp bê, mắt thao láo nhìn chừng chừng không chớp. Có lần thấy anh Tâm – trưởng thôn cũ, mắt nảy lửa mắng nhiếc: “Ông bà là kẻ vong ân bội nghĩa, ăn quỵt bốn chỉ vàng của tôi. Rồi phải trả giá đấy”. Nhiều đêm bà mơ thấy lũ quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa dốc ngược bà lên nhúng đầu vào nước sôi và nói: “Mày làm điều ác, chúng tao trừng trị”. Bà rú lên kinh rãi. Khi tỉnh dậy, mình mẩy lạnh toát, mồ hôi vã ra đầm đìa. Bây giờ bà mới giật mình cho là bị quả báo và đay nghiến chồng:
- Tôi chẳng coi thường mà là căm ghét, khinh bỉ. Ông làm điều ác và xui tôi làm điều ác: lừa dối, ăn cắp, gắp lửa bỏ tay người, lập kế hại người mà nhà đầy tai ách và tôi phải gánh nợ đời, phải chịu quả báo thế này.
Rồi bà nói giọng đều đều như trong hoài niệm về quá khứ của chồng. Cái quá khứ nhơ bẩn ấy đã ngấm vào đầu bà như ghi vào một băng cát-sét. Trong trận ốm liệt giường này nó tự phát ra. Bà nói như một gã say rượu, nói mọi điều bí mật mà chẳng biết là đang nói gì. Bà nói với mình, với chồng hay với khoảng không???
Thực ra bà chẳng nói thì dân làng đã biết. Làm tổ trưởng đội muối, đội phân hóa học, nhận tiền của công ty vật tư rồi nhưng ông nói là họ chưa trả. Cứ thế lần lữa, năm này qua năm khác, lâu dần cứt trâu hóa bùn. Phụ trách lò ngói của Hợp tác xã, ông tháo khuôn ngói lành thành hai ba khuôn ngói hỏng để lấy bớt những khuôn mới bán cho chủ lò ở làng khác. Khi HTX kiểm tra thì hủy liệt tồn tang vẫn đủ số lượng. Ông cho người chặt cây của HTX lấy đất bùn phủ lên gốc xóa dấu vết. Thế là người trông coi đường cây phải đền oan trong cảnh vợ con đói khổ nheo nhóc. Rồi ông còn trừ công, bớt điểm của mấy chục xã viên làm ngói. Họ làm mấy tháng trời, kết cục phá sản, ra về tay không. Ông Khuê – cậu ruột ông làm chủ tịch UBND xã muốn tạo điều kiện cất nhắc ông lên thủy lợi, an ninh xã. Nhưng giao việc gì là ông tìm cách đục khoét. Cuối cùng đành lắc đầu, thở dài cho ông về kẻo bị vạ lây. Khi làm tổ trưởng bảo nông, ông ăn cắp điện, bán khẩu cống hoặc bán đồng cho người nuôi vịt lấy tiền hoặc vịt nhậu nhẹt… Nể tình làng nghĩa xóm, anh Tâm – trưởng thôn chỉ kiểm điểm nhẹ nhàng, không phạt tiền, không đưa ra dân. Ông bàn với tổ bảo nông góp tiền mua cá thả ở mương nhưng lại bí mật xúc cá mang về ao của em trai để hưởng lợi riêng. Trong tổ thả chung có cả cháu rể của mình. Đã thế ông còn thâm thù, phối hợp với một số kẻ xấu tung tin đồn nhảm, xúi giục kiện tụng làm cho anh Tâm điêu đứng. Ông sai vợ rải truyền đơn vu cáo anh đủ điều. Kết cục dân làng tưởng thực không bầu anh vào hội đồng nhân dân xã và trưởng thôn nữa. Lật đổ được anh, leo lên chức đó, ông bày trò thành lập tổ thanh tra kinh tế trưởng thôn cũ. Nhưng chỉ lập xong rồi để đấy vì ông biết thừa anh ta không có vướng mắc gì. Mục đích của việc làm này là để hạ uy tín. Thế là anh cứ như người bị án treo lơ lửng mấy năm trời. Thủ đoạn này thật hiểm hóc, bất nhân. Nhưng trời có mắt. Năm năm sau, ông và đồng bọn bị hạ bệ. Ban chi ủy mới kiểm tra và kết luận: Anh Tâm – Trưởng thôn cũ trong sạch, liêm khiết, không vướng mắc một chút gì về kinh tế, tài chính và ruộng đất của dân. Kết luận này được báo cáo trước chi bộ, biểu quyết và thông qua trước dân. Trong kỳ họp ấy, anh Tâm phát biểu: “…Xin cảm ơn sự làm việc nghiêm túc trung thực của ban chi ủy mới và sự sáng suốt của chi bộ. Nếu không cái án mà đồng chí Láu dựng lên “Ban thanh tra” cứ treo lơ lửng trên đầu tôi không biết đến bao giờ mới minh oan được. Nhưng chờ được vạ thì má tôi đã sưng cũng vì cái gọi là “Ban thanh tra” của đồng chí Láu dựng lên và để đấy, lúc đầu đã làm cho dân tưởng tôi là kẻ tham nhũng nên không bầu vào Hội đồng nhân dân xã và trưởng thôn nữa”. Cũng trong kỳ họp ấy, chi bộ đưa anh vào ban chi ủy mới và giới thiệu ứng cử trưởng thôn nhưng anh kiên quyết chối từ. Bây giờ anh yên trí làm ăn, kinh tế gia đình phát triển, con cái học hành giỏi giang được vào đại học cả. Còn ông Láu tưởng bay lên mây, ngờ đâu gẫy cánh rơi xuống đất, nhà vách nát quanh năm vay nợ. Con trai điện giật chết, con gái sét đánh sểnh bị tâm thần không ai lấy. Vợ liệt giường bốn năm trời. Có phải là quả báo không?
Nằm yên một lúc như để lấy hơi, bà Láu lại lầu bầu:
- Ngày con Lỏn mang bầu, ông bắt tôi đưa nó đi nạo thai hai lần. Nhưng cả hai nơi họ đều không làm vì thai già tháng rồi. Sợ nó khai ra, ông bắt tôi đến dọa nó là: “Nếu khai sẽ bị giết”. Vì vậy khi dư luận đồn khắp làng xã là ông ngủ với nó, chi ủy cho người đến hỏi nó chỉ nói: “Tôi đang ngủ thì thằng chó, thằng khốn nạn nào đó cưỡng bức”. Nó bảo ông là chó, là khốn nạn đấy. Khi thằng Lỉnh – con trai mình bị điện giật chết, tôi lo nhà mình tuyệt giống đã dò hỏi người mua thằng bé để chuộc lại. Nhưng nó cũng chết rồi. Mà nó chết mới thảm chứ. Đêm ấy, trời rét, chị ta quấn thằng bé vào chăn, ngồi ôm sau xe. Về đến nhà thì rơi mất. Họ cho người đi ngược trở lại tìm thì nó đã chết cóng ở bên đường. may mà ô tô không đè phải, chó má không ăn thịt. Người bế đứa bé sợ quá, điên dại mất một thời gian. Có lẽ tôi cũng đang bị báo oán đây.
Không chịu được nữa, ông Láu quát lên:
- Bà có im cho tôi yên không? Đừng nguyền rủa tôi nữa.
- Hôm nay tôi phải nói, có chết mới thanh thản. Chỉ mong từ nay ông đừng làm điều ác nữa. Ông hãy nhớ rằng kẻ độc ác dù láu lỉnh, che đậy, chạy tội hoặc hại người thì tội càng nặng. Dù có che giấu được người đời và pháp luật thì cũng không thoát đuợc tội trời. Sẽ bị quả báo, quả báo nặng nề. Gây hại cho người bao nhiêu thì cũng gánh tội bấy nhiêu. Chính ông! Chính ông đang bị trời phật trừng phạt đấy.
Chỉ tiếc rằng đến nay bà Láu mới nói ra được điều này. Muộn mất rồi!
Hình như trút hết sức lực, tâm can để nói với ông nên kiệt sức, bà ho sù sụ, ho rũ rượi một hồi lâu rồi ộc máu ra!...

*
* *

IV. Sợ


Nghe tin bà Láu thổ ra huyết, bất tỉnh nhân sự, anh Tâm – trưởng thôn cũ vội chạy sang. Các em ông bà Láu và mấy bà hàng xóm đã ở đấy. Mọi người đều cúi mặt, thở dài tuyệt vọng. Cảnh tượng thật nặng nề. Anh ngồi xuống cạnh bà Láu khẽ đặt chiếc lông gà cạnh lỗ mũi. Lát sau anh thốt lên:
- Bác gái vẫn còn thở. Đây này, chiếc lông gà hơi động đậy. Còn nước còn tát bác ạ.
Ông Láu sượng sùng nhưng cũng khẽ lắc đầu trả lời:
- Muộn rồi anh ạ! Thôi để bà ấy đi sớm ngày nào, mát mẻ ngày ấy. Tôi cũng chẳng còn gì để chạy chữa nữa.
Cả nhà lặng đi hồi lâu. Anh Tâm suy nghĩ: Thời gian và bệnh quỷ ( quỷ ở đây anh muốn ám chỉ con người độc ác, quỷ quái ) đã ném người phụ nữ nông dân có tướng đàn ông, to cao, lực lưỡng , đen trũi như tượng đồng hun, tiếng nói như phòng la bế vào quá khú để lại một mụ già gầy xọm nhăn nhúm, dăn deo da bọc xương nằm bất động. Đắn đo một lát anh nói:
- Xin bác và các ông bà thông cảm cháu mới dám thưa chuyện.
Mấy bà nhanh nhảu:
- Cứu được người phúc đẳng hà sa. Nhìn bà lão nằm thế này, chúng tôi như đứt cả ruột. Thấy chết mà không cứu thì có tội với trời phật. Mà cứu thì có khỏi không hay là tiền vẫn mất, tật vẫn mang nên chúng tôi chẳng dám tham gia.
Anh Tâm vồn vã nói:
- Hồi ở Thanh Hóa, cháu có đóng quân với một anh bạn người dân tộc. Bà chủ nhà cũng bị bệnh như bác gái đây. Gia đình đã chuẩn bị áo dầy cho bà ra đi. Anh bạn cháu giới thiệu ở quê có một ông thày Mường rất giỏi, chữa được bệnh này. Không nói ra nhưng ai cũng cho rằng bà chẳng sao qua nổi vài ngày nữa. Nhưng cụ ông thương cụ bà nên cương quyết chữa. Nhà chỉ có hai ông bà già nên chúng cháu đi lấy thuốc giúp. Sau khi nghe kể bệnh, ông thầy cắt ba thang thuốc và bảo: “Hòa viên thuốc như quả táo này cho cái bệnh nó uống trước rồi sắc thuốc cho nó uống. Cái bộ đội à. Tao chữa được mà. Không khỏi tao không lấy tiền. Uống hết ba thang này thì vào đây tao cắt cho ba thang nữa. Hết chín thang thì vào đây tao cho một bao tải lá nữa về cho nó uống dần”. Chúng cháu làm đúng như vậy và bà chủ nhà đã khỏi. Khi cháu xuất ngũ, bà vẫn khỏe mạnh.
Anh Hà – con ông chú của bà Láu túm tay anh rể nói:
- Bác ơi! Thế thì nhờ anh Tâm đi giúp cho. Còn nước còn tát.
Ông Láu im lặng, thỉnh thoảng ngúc ngắc cái đầu. Ông nghĩ: “Thằng cha này lẽ ra nó phải thù mình lắm chứ? Sao nó lại tốt với mình như vậy nhỉ? Hay là nó biết mình khánh kiệt rồi, nó bày mưu để mình nghe theo, lao vào chạy chữa. Cuối cùng tiền hết, người vẫn chết. Sợ lắm! Không thể nghe nó được. Nhưng em vợ và bà con nhiệt tình mà không làm theo cũng mang tiếng”.Ông nặng nề ngẩng cái đầu tròn như chiếc nồi hông, lơ thơ vài sợi tóc bạc như tơ nhện trên chiếc cổ chầy miễn cưỡng hỏi như mếu:
- Anh bỏ qua chuyện cũ giúp tôi à?
Anh Tâm bật cười:
- Ôi chuyện vặt, cháu để ý làm gì. Lấy oán trả oán thì oán chồng chất thêm, chỉ kẻ tiểu nhân mới làm. Ở đời phải lấy ân trả oán thì oán được giải. Cháu sẽ giúp bác nhưng bác phải cho người nhà cùng đi. ( Biết tính ông ta nhỏ nhen hay nghi ngờ, nghĩ xấu về người khác nên anh nói vậy đề phòng bất chắc ). Rồi anh chậm rãi nói thêm:
- Cháu vừa kể là chuyện có thật. Bác tin hay không là tùy. Bác gái chữa khỏi hay không còn ở cái phúc của nhà nữa. Phúc chủ lộc thầy mà.
Ông Láu lại thở dài:
- Nhưng!… - Rồi bỏ lửng.
Chẳng ai hiểu gì. Như đọc được ý nghĩ của sự bỏ lửng đó, anh vui vẻ nói tiếp:
- Bác cứ yên tâm! Cháu có xe máy, lại vừa xuất ổ lợn con. Mình cháu đi cũng được. Nhung bác cứ cho anh Hà cùng đi để trực tiếp kể bệnh, nhận thuốc, trả tiền và nghe thầy thuốc dặn dò. Tình làng nghĩa xóm, trong lúc bác khó khăn, cháu sẽ giúp bác toàn bộ tiền lộ phí đi về. Còn tiền thuốc chắc cũng chẳng đáng bao nhiêu nhưng cháu không dám giúp. Vì sợ bác buồn lòng nên cháu sẽ cho vay. Lúc nào có bác trả sau cũng được.
Ông Láu thoáng nghĩ: “Chỉ sợ nó lừa mình. Sau này nó tính cả công xá, xăng xe rồi đòi trả ngay thì chết dở”. Nhưng bất dắc dĩ, ông phải gật đầu.


Đầu trang
  
Ngoại tuyến
Gửi bàiĐã gửi: 07-03-2010, 09:54 am 
soitocnao
<img src='http://www.vnthidan.net/styles/Images/Rank/banthan.gif'>
Hình đại diện của thành viên
Ngày tham gia: 04-03-2010, 05:52 pm
Lần ghé thăm trước: 09-04-2011, 08:53 am
Tuổi: 25
Bài viết: 41
Đến từ: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam
Giới tính: Đặc biệt
Mình đang: Lonely
Đã cảm ơn: 0 lần
Được cảm ơn:
11 lần trong 7 bài viết
 
Niềm Tin!




Nam đang rít điếu thuốc lào thì chị Thanh – vợ anh giật giật tay nói:
- Anh ơi! Trưa nay sang chú Lâm xin cho Tâm Lan làm con nuôi chú ấy nhé.
Câu nói quá bất ngờ và khá ngô nghê của vợ khiến anh bật cười, ho sặc sụa. Hết cơn ho anh hỏi:
- Vợ chồng mình không nuôi nổi con hay sao mà nó lớn tồ tồ phải làm con nuôi người khác.
Rồi anh véo yêu vào má Thanh:
- Em có ấm đầu không đấy?
- Không! – Thanh đáp.
- Thế sao, tự dưng phải cho nó làm con nuôi. Không trông gương vái Thơm con lão Ba Tảo xóm đồng, ễnh bụng với bố nuôi, đeo mo vào mặt bố mẹ đẻ à?
Thanh đỏ mặt ấp úng rồi bưng mặt khóc. Biết mình lỡ lời, anh nắm lấy tay vợ nựng:
- Thôi nào! Thôi nào! Cưng! Ấy là anh lấy chuyện người đời để nhắc nhở chứ đâu có ý xúc phạm em.
Thanh ấm ức hồi lâu rồi nói:
- Anh không hiểu ý em. Chỉ nhận trên danh nghĩa thôi mà. Nó không phải sang nhà chú Lâm ở. Cái Hồng – con chú Quảng xã đoàn, mới học lớp sáu, chị Hoa – con bác Thoa - chủ tịch hội phụ nữ xã cũng đã nhận chú ấy là bố nuôi rồi đấy.
- Chắc các cô các chú ấy là cán bộ nên làm thế để giáo dục con. Chú Lâm là chiến sĩ biệt động mưu trí, dũng cảm lập nhiều chiến công. Nay chú ấy là thương binh nặng, lại nhiễm chất độc da cam. Hai đứa con đều bị di chứng. Hoàn cảnh chú ấy thật xót xa, cần được sự giúp đỡ, chăm sóc của cộng đồng. Có phải vì thế mà em cho con nhận làm bố nuôi không?
Thanh chưa kịp trả lời thì Nam đã hỏi tiếp:
- Dưng mà, anh có thấy cái Hồng sang ở nhà chú Lâm đâu. Chị Hoa thì đang học đại học năm thứ tư mà.
- Anh ơi! Chỉ là nhận trên danh nghĩa giấy tờ, lý lịch để khi thi cử, khi đi học ở các trường, khi xin việc hoặc cất nhắc sau này được ưu tiên chiếu cố thôi mà. Chị Hoa cũng nhờ nhận chú Lâm làm bố nuôi mà được cộng thêm điểm nên mới đỗ được đại học, được miễn học phí, cấp học bổng và ưu tiên nhiều thứ nữa.
- Ra thế! Thảo nào thi thoảng cái Hồng đến chơi, quét dọn sân nhà cho chú Lâm. Anh đã nghĩ chú Quảng có đứa con ngoan, ý thức chính trị xã hội cao, còn nhỏ đã biết giúp đỡ gia đình người có công với cách mạng.
- Không phải đâu! Chú Quảng làm vậy để nó được chiếu cố như chị Hoa thôi.
Rồi Thanh ghé vào tai chồng nói nhỏ:
- Bác Thoa, chồng chết rồi, còn dám khai vào lý lịch chị Hoa: chú Lâm là bố đẻ đấy!
Nam trố mắt:
- Khai thế sao được. Xã nào họ chứng nhận lý lịch như vậy. Trái đạo lý! Trái pháp luật! Lời nói đọi máu. Đừng nói bậy mang tiếng xấu cho người ta.
Nhướng đôi lông mày cánh én lên chị nói:
- Thật mà!
- Sao em biết?
- Quý em nên cái Hoa kể cách làm của mẹ và xui em cũng làm như vậy. Anh đừng nói chuyện này với ai nhé.
- Ừ! Nhưng bác Thoa làm thế nào?
- Bác viết năm bản lý lịch cho chị Hoa. Phần tên bố để trống đưa ông “Ký đại”. Tin người, ông đằn ngay xuống vệ đường.
- Đằn bác Thoa?
- Không! Đằn lý lịch. Vì lúc đó ông đang đi trên đường. Bác Thoa nói: “Em cần gấp, phải nộp ngay cho cháu kẻo quá hạn”. Việc khẩn trương, ông chủ tịch kéo bác Thoa xuống vệ đường rồi đằn ra “roẹt” liền năm cái. Tiếp đó, bác đưa cho chú “Khớ khớ” “trát roẹt” năm cái nữa. Thế là năm bản lý lịch có chữ ký và dấu đỏ như son. Về nhà chỉ việc điền tên chú Lâm “thương binh nặng, nhiễm chất độc da cam” vào chỗ để trống phần tên cha. Thế là xong.
- Chú Lâm có biết không?
- Có chứ! Chú biết chị Hoa xin làm con nuôi chứ không biết mình bị biến thành bố đẻ của chị.
“Đét” một cái! Anh Nam vỗ đùi thật mạnh kêu lên:
- Quỷ quái thật! Ranh ma thật! Lừa dối cả lãnh đạo xã và nhà trường. Rồi còn lừa dối bao nhiêu cơ quan nữa? Mụ này là yêu tinh rồi!. Vậy thế nào là “Ký đại!”, “Khớ khớ!”, “ Trát roẹt!”.
- Giời ạ! Còn phải hỏi. Không biết mấy ông xã thế nào à?
- Từ hồi họ bè cánh xử tệ, anh không thèm quan tâm. Mà cũng chẳng đến ủy ban nữa.
Chị Thanh cười:
- Thế mới như gà úp thúng ấy. Chả là, ông chủ tịch tính xuê xoa đại khái. Ai thân quen xin giấy tờ, lý lịch, ông chẳng them xem hay chỉ xem qua rồi ký “roẹt” tên mình vào cuối tờ giấy . Còn ông “Khớ khớ”, chú “Trát roẹt” hoặc “Rách việc” đều là một người. Đó là biệt hiệu của chú văn phòng vui tính. Ai trêu chọc, bông đùa ông chỉ tít mắt cười “Khớ khớ”. Ai đưa giấy để đóng dấu, ông chộp ngay con dấu chụp vào khay mực rồi nhằm chỗ có chữ ký loằng ngoằng vừa chụp vừa bông phèng. Ngọc Hoàng đã “roẹt” ( tức là duyệt ) thì Thiên Lôi “trát” ( nghĩa là đóng dấu ). Có người hỏi: - Sao chưa xem đã “trát” rồi - Cái miệng tua tủa gốc râu và răng ống lại ngửa lên trời mà cười “khớ khớ”: - Cứ chỗ nào thấy loằng ngoằng như hàng rào dây thép gai thì đó là chữ ký của chủ tịch. Xem làm gì mất công. “Rách việc!”. Có người đùa: - Cứ như đười ươi giữ ống, ngửa mặt lên mà cười, dấu chẳng chộp, lại chộp nhầm ngực các cô gái đến xin dấu rồi nhè vào chỗ ấy mà chụp thì “rách việc” thật đấy. – Khớ khớ! Không đâu! Có nhầm thì nhầm chỗn khác. Chỗn công đường chẳng dám nhầm đâu. Khớ khớ!
Nam nhăn mặt lẩm bẩm:
- Cứ ký đại như ông chủ tịch, có khi ký bán cả trụ sở ủy ban mà không biết. Cứ tếu táo như ông văn phòng “Khớ khớ” thì còn gì uy nghiêm cần thiết nơi công sở. Làm việc kiểu ấy mụ Thoa mới lợi dụng khai man lý lịch, giấy tờ, mưu lợi bất chính cho con được. Chẳng biết ông này còn chứng nhận sai, ký đại cho bao nhiêu người, bao nhiêu lần nữa đây?
Rồi anh kéo chị lại gần nói:
- Nhưng mình ạ! Làm người phải có lương tâm. Đừng lợi dụng sự xuê xoa đại khái như ông chủ tịch để giả mạo giấy tờ như mụ Thoa sẽ gây họa cho người. Đến một lúc nào đó sẽ chuốc họa vào thân. Trong hai cuộc kháng chiến, vì hàng triệu người đã chiến đấu chống giặc mà dũng cảm, hy sinh hoặc tàn phế suốt đời. Họ là những liệt sĩ, thương binh, có công với đất nước. Con em họ - kể cả con nuôi được hưởng chính sách ưu đãi là đúng. Nhưng con nuôi phải ở với họ từ nhỏ hoặc phải trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng họ như cha mẹ đẻ của mình thì mới xứng đáng được hưởng chế độ ưu đãi. Làm như bác Thoa là giả dối, xấu xa, ích kỉ. Việc này bbị phanh phui, chị Hoa sẽ bị cắt mợi quyền lợi, bị đuổi học. Còn bác Thoa bị truy tố. Ông chủ tịch kí đại cũng phải chịu trách nhiệm. Làm điều giả dối nhất định sẽ bị trả giá. Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Thực thà là cha quỷ quái. Làm người phải sống trung thực.
Chị Thanh thở dài:
- Anh ạ! Thực thà ăn cháo, láo nháo ăn cơm. Ngày xưa anh học giỏi thế. Con át chủ bài của đội tuyển học sinh giỏi tỉnh. Tốt nghiệp đại học anh trở về nông thôn. Thuở ấy ngườ như anh hiếm lắm. Vậy mà chỉ là kỹ thuật viên Hợp tác xã nông nghiệp. Còn mấy bố cùng trà tuổi anh, học dốt, lêu lổng, bỏ học từ khi chưa hết cấp II. Vậy mà họ làm lãnh đạo xã. Có người làm ở huyện.
- Các bố ấy học không bằng anh nhưng hoạt động chính trị giỏi.
Chị Thanh chép miệng:
- Chẳng qua là anh quá thật thà còn họ thì quá ranh mãnh, đủ mánh khóe, ô dù. Anh lúc nào cũng như ở trên giời ấy. Mỗi lần bầu cử họ chia người nhà, người thân đi vận động bỏ phiếu cho mình. Có người còn mua chuộc cấp trên. Có người dùng tiền mua từng lá phiếu, mua chức trưởng ngành của xã đấy.
- Đừng vì một số kẻ xấu mà vơ đũa cả nắm.
- Em có mấy người bạn thân buôn bán ở phố huyện. Cũng do ganh ghét nhau, họ nói xấu nhau trước mặt vợ con hoặc nơi hàng quán. Cứ như họ nói thì không ít người không từ một thủ đoạn độc ác, đê tiện nào để leo thang, giữ ghế, bòn rút của công.
Ghé tai anh, khuôn miệng lửa lựu thì thầm:
- Họ đồn là cô Mộng Huyên dùng cả vốn tự có để tiến thân. Con trai tuổi đang lớn thấy bố bồ bịch lại bắt quả tang mẹ bịch bồ. Tức quá! Nó bỏ học, cũng gu gu gái gú. Lại chuyện một ông chưa học hết lớp bảy, cũng chẳng học thêm khóa dài hạn nào mà có bằng đại học kinh tế, cử nhân luật.
- Ông ta học tại chức.
- Em biết tỏng rồi. Ông ta thuê học và mua bằng. Cứ suy từ làng mình thì biết. Trước bầu cử Hội đồng nhân dân ba cấp ( xã – huyện – tỉnh ) đài phát thanh xã giới thiệu lý lịch trích ngang các ứng cử viên hầu hết là trung cấp chính trị hoặc đại học này nọ, trong khi họ chưa hết cấp II phổ thông. Thế đấy! Ai biết hỏi, chỗ thân tình thì họ trả lời cứ khai thế rồi đi học sau. Muốn có bằng ư? Thì ghi tên học một khóa. Học ít hôm rồi xin chứng chỉ học lực . Cần thi ư? Thì thi! Và thi là đỗ. Bằng thật hẳn hoi. Còn chuyện ly kì này nữa. Thời mở cửa, Tây, Tàu, Hàn, Nhật… vào đầu tư. Khách tỉnh, khách huyện bạn đến thăm thú làm ăn nhiều. Chơi sang, họ điều một co xã viên trẻ, mười sáu, mười bảy tuổi lên nhà khách. Cô là hoa khôi đồng nội hấp dẫn. Việc của cô là khách đến hoặc đi thì ôm hoa tặng và lo ăn ngủ cho khách. Tất nhiên là cô được học mấy tiếng nước ngoài giao tiếp và cách ăn mặc, đi đứng kiều diễm lịch sự, duyên dáng. Thực ra họ có cần nói đâu, chỉ cần cô cười, cần để ôm và hôn khi tặng hoa. Cô phải diện mốt đầm hơn cả đầm. Váy áo phải siêu mỏng. Đã mỏng còn phải trong và thưa. Đã thưa còn phải mát. Sờ vào phải mát như da gái Á Đông. À! Còn phải hở nữa: Hở ngực! Hở eo! Hở đùi! Cũng có khi mặc áo dài nhưng lấp ló đùi, hông. Khi tặng hoa phải để khách ôm thật chặt và hôn thật sâu. Có khi đau cả ngực. Khi khách ngủ lại phải dẫn khách vào phòng ngủ, nhà tắm, nhà vệ sinh. Việc này khách thừa biết nhưng cô vẫn phải làm. Hiếu khách mà! Còn phải trải ga, đệm, buông màn, kê gối hoặc ngồi tiếp khách. Khi ngồi phải xếp cặp đùi ngà voi thật bắt mắt. Khi khách cần gì phải phục vụ chu đáo, không được để mất lòng khách. Chẳng biết sao, chỉ tặng hoa, cho ôm và hôn mà cô có bầu. Lạ! Sợ gia đình cô kiện thì rách việc. Họ bí mật đưa cô đi nạo thai rồi dí cho một chức. Nghiễm nhiên một cô gái quê, chân lấm tay bùn, chẳng được học hành, đào tạo gì trở thành cán bộ. Nghe đâu còn thăng tiến nữa. – Chị chép miệng – Cô ấy thật tốt số.
Anh Nam nhắm mắt, rung mình kêu lên:
- Sợ em quá!
- Sao lại sợ em?
- Cứ như ma só ấy. Chuyện gì cũng biết.
- Biết nhiều chuyện thì sao phải sợ.
- Vì em biết quá nhiều về cái xấu, không biết về cái tốt. Sợ rằng sẽ mất niềm tin vào con người và xã hội. Em ạ! Đừng tin là lũ quỷ quái sẽ làm mưa làm gió được mãi. Còn nhiều người tốt, người trung thực, có tài năng. Lũ ma tà kia nhất định sẽ bị quét sạch trước ánh bình minh.
- Đến bao giờ anh?
- Sẽ đến! Đừng mất niềm tin. Bản chất xã hội sẽ sàng lọc, giữ lại những con người biết tự cải tạo mình và loại trừ những kẻ thoái hóa, biến chất. Hãy dồn sức nuôi con nên người. Phải cho nó học – học thật giỏi.
- Anh nói cứ như thơ ấy.
- Vì chỉ có học giỏi mới làm việc giỏi. Quyền hành mà rơi vào tay kẻ dốt nát là mẹ đẻ ra mọi tai họa. Quyền cộng với ngu thành đại phá hoại. Khởi nguồn của mọi sự ma mãnh, giả dối, độc ác, đê tiện… đều do: Ngu và Tham. Những thủ đoạn mà bác Thoa và một số người mà em kể đều từ đó cả. Bọn này sẽ bị đào thải như những thứ cặn bã.
Chỉ ngón tay vệ nữ vào trán chồng, chị Thanh cười khanh khách. Đôi lúm đồng tiền cũng cười theo:
- Lúc nào anh cũng triết lý. Ông Láu, ông Giỏ, ông Tõ chỉ học bình dân, biết đọc biết viết thôi. Ông nào cũng dính dáng đến biển lận công điểm, bát cơm manh áo của xã viên. Họ có vợ con đề huề, trai gái đủ cả. Vậy mà vẫn ngủ với gái, có con. Đứa con hoang ấy giờ đã lấy vợ, lấy chồng. Thời ấy, dân làng um lên rồi lại đâu vào đấy. Họ vẫn làm cán bộ chưa một ngày nghỉ. Cứ như họ sinh ra để làm cán bộ. Làm đến già! Làm suốt đời! Còn anh – ông kỹ sư nông nghiệp thì suốt ngày phơi nắng ngoài đồng, thử độ chua phèn, xem lúa bắt sâu, nhân giống, làm thí điểm… vv…. Để làm cái chức kỹ thuật viên nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của họ. Ấy chết! Em nhầm! Anh làm chủ tịch xã một khóa. Khóa sau bị bật bãi. Suýt nữa thì em quên.
- Em xúc phạm anh rồi đó.
- Em chỉ nói sự thật. Chẳng phải riêng anh đâu. Mấy ông cán bộ thoát ly nghỉ hưu. Anh Khuê – đại úy, trợ lý cho đại tá, sư đoàn trưởng Hồ Khanh về tham gia một vài năm cũng phải bỏ cuộc. Bị đẩy ra tuốt. Ở đây họ có cần người tài đâu!
- Ở nơi khác, vừa mới về đây mà cái gì cũng biết.
- Biết chứ! Các bà, các chị, cô bác chú dì kể cho em nghe đấy.
- Em có giải thích được vì sao như vậy không? Hay là chỉ biết châm chọc anh?
- Em chịu.
- Vậy thì vành lỗ tai ra mà nghe anh giảng cho.
- Vâng! Em xin vành tai để anh nhồi niềm tin vào.
Vừa nói chị vừa kéo tai rộng ra, rất ngộ nghĩnh, cười xuê xoa để chồng bớt giận.
- Gớm! Người đâu mà như hổ lửa ấy. Mới thế mà đã nổi cáu.
- Chẳng nói nữa! Phí lời.
- Thôi mà! Cưng! Tối nay em thưởng.
- Thưởng ngay bây giờ cơ – “Con đại bàng xòe cánh quắp công chúa vào hang”.
- Thôi mà! Thôi mà! Con nó về, bắt được thì chết.
- Anh đang muốn chết vì em đây!
Nam nói trong hơi thở phì phò.
- Anh còn vớ được lão Tõ làm việc tày đình này với gái non chẳng sao. Mình là vợ chồng mà. Chuyện vặt!
- Ợ ợ! Khiếp… khiếp! Háu đói thế. Chưa đến bữa mà đã đòi ăn. Ợ…ợ! Cứ như chưa được bao giờ ấy. Ợ… ợ!
*
* *

Cả hai từ buồng đi ra. Má Thanh đỏ lựng vầng vậng sáng. Vừa đi chị vừa vuốt mái tóc cho suôn. Xinh quá! Nam ném mông xuống ghế sảng khoái. Ra vẻ nghiêm trang, Thanh ra lệnh:
- Lĩnh thưởng rồi thì giải thích đi.
Nam ra vẻ cung kính:
- Thưa nữ hoàng! Kẻ bầy tôi trót đắc tội xin lấy công chuộc tội ạ!
- Nói đí…íhí…
- Dạ! Dưới chế độ cũ, ba ông đó bị áp bức bóc lột nhất nên trong cải cách ruộng đất được bồi dưỡng làm cốt cán rồi làm cán bộ. Kháng chiến chống Mỹ, trai tráng khỏe mạnh, thông minh đều ra trận đánh giặc. Đương nhiên họ lại làm cán bộ xã. Gái trẻ xa chồng, nạ đòng hồi xuân. Các ông này lợi dụng sự khát khao tình cảm chăn gối lứa đôi đêm hôm đến tán tỉnh. Mấy bà, mấy chị cả nể, trót lỡ mang bầu đành chịu để đẻ rồi nuôi con một mình. Ai đến hỏi thì họ đổ cho thằng đánh lưới, đốt than, kéo thuyền nó “chấm chấm” nơi bãi ngô, rừng vắng là xong. Chỉ người nhà hoặc bạn thân họ mới thổ lộ bố đứa con hoang đó là ai. Hóa ra đều là sản phẩm vụng trộm của các lão cả. Thế là người này qua tai người khác thành ra cả làng đều biết. Nhưng biết để mà biết. Tố cáo làm gì? Mà tố sao được. Họ đã “xong việc” rồi thì còn gì chứng cứ nữa. Làm ra thêm thù oán. Em biết không? Đại úy Tộ xã Phú Hưng một đêm vớ được ông chủ tịch xã ngủ với cô nhân viên HTX mua bán tại cửa hàng. Cả hai lạy như tế sao xin vị sĩ quan nọ tha thứ, đừng tố cáo. Thương người, ông ta bỏ qua. Hai năm sau trong cuộc vận động xây dựng Đảng vững mạnh, ông Tộ đưa ra trong hội nghị chi bộ để rút kinh nghiệm. Chẳng ngờ, ông bị quy tội vu cáo, gây rối nội bộ, nói xấu – làm mất uy tín lãnh đạo. Cay! Cay hơn ớt mà ông Tộ phải chịu xin lỗi. Thế đấy! Sĩ quan còn thế huống hồ người dân. Nói ra mang vạ vào thân, còn miếng cơm manh áo nữa chứ. Vì những tên “trộm” này đều là “Kễnh” ở làng quê lúc ấy. Vậy nên có khi đau như gái ngồi phải cọc mà phải nín nhịn. Vợ con họ cũng biết nhưng đành chịu. Ghen! Tức chết đi được mà phải yên. Ghen quá! Lồng lên thì mất cả chì lẫn chài. Dẫu sao, chồng còn quyền chức thì còn sung sướng hơn người. Thế là, họ ngủ với gái, có con hẳn hoi, chẳng phải nuôi, vẫn làm cán bộ. vẫn lớn tiếng giao giảng chính sách hậu phương quân đội. Công bằng mà nói, họ cũng có nhiều công lãnh đạo xã viên cầy cấy, đóng góp nghĩa vụ lương thực, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… vân vân… Anh hỏi em, lúc đó ngoài họ ra, ai làm? Thanh niên thì đi bộ đội đánh giặc, đi thanh niên xung phong làm đường. Người học hành đỗ đạt thì cứ hết cấp II, cấp III là tìm cách đi chuyên nghiệp, đại học, thoát ly ra ngoài. Có ai chịu ở lại nông thôn chân lấm tay bùn đâu. Ngay cả anh cũng muốn thoát ly… Có bằng đại học mà phải ở nhà là trường hợp đặc biệt. Vì cha mẹ già, bệnh tật kéo dài, bản thân đôi chân bị tật nguyền. Nhà nghèo, các em đông và nhỏ, anh phải dằn lòng ở lại chăm sóc mẹ cha, nuôi các em ăn học. Lúc đầu anh tiếc lắm chứ. Tuổi trẻ, thích bay nhảy mà. Dân trí thức nửa mùa, chuộng sách vở, ngu ngơ ngoài đời, lại thiểu số, tranh chức tước với họ sao được. Họ có chức quyền, nắm tiền gạo của Hợp tác xã, hầu bao của xã viên. Để nhử các nàng sập bẫy và giữ kín chuyện trăng hoa, thi thoảng họ giấu vuốt cho ít công điểm hoặc thúng lúa ở kho hoặc sân Hợp tác xã lúc đêm hôm vắng vẻ. Xúc động quá! Nể lòng quá! Lại vắng vẻ quá! Có bà có chị phải chiều. Cá treo mèo ăn vụng. Vụng được một lần thì vụng nữa. Đã cho một lần thì cho nữa.
Cái miệng dịu dàng, xinh đẹp của Thanh nổi cáu:
- Đến là đểu! Đến là tồi! Mà mấy bà, mấy chị ấy cũng thật tầm thường.
- Tầm thường ư? Em đừng giận nhé. Kể cả em ở vào cảnh đói khổ, xa chồng, con cái ốm đau, đêm hôm nhà vắng, họ đến an ủi động viên, giúp đỡ tí chút công điểm, gạo thóc rồi (..!..) chắc cũng ngã lòng.
- Anh cho rằng em cũng như họ ư?
- Đã vậy thì anh kể em nghe một câu chuyện thật là đểu, cũng thật nực cười để em tự đánh giá.
- Được! Anh nói đi.
- Hôm ấy, Trời mưa! Anh sang nhà lão Tõ – trưởng thôn, kiêm đội trưởng sản xuất. Nhà đóng cửa, anh ra đầu trái ngó vào buồng xem lão có nhiều lúa như người ta đồn không? Đập chát vào mắt anh là một cây lúa đứng sừng sững như kho của HTX. Cả làng đói mà lão lắm thóc thế. Lại đập chát một cái nữa là lão đang “ngựa” một con bé. Anh gọi là ngựa vì nó chơi gái theo kiểu chó ngựa. Con bé chổng mông, xoạng hai chân, đầu chúi xuống. Một tay chống đất, tay kia đang với chiếc bánh mì luộc to hơn khuyết trâu để trên một chiếc đĩa phía trước. Lão đứng thúc đằng mông.
Chị Thanh nhắm mắt, xua tay:
- Đừng nói nữa.
- Không! Anh phải nói để em thấy hết sự man rợ của nó. Mỗi lần hứng tình, lão rún mạnh, người con bé lại rung lên. Hai quả bòng lúc lắc. Con bé phốp pháp, nở căng, nần nẫn. Anh chưa bao giờ thấy và không thể ngờ một kẻ thuở nhỏ đã từng đi ăn, đi ở, có lúc ăn mày ăn xin, ăn cắp ở ngoài chợ mà khi có chút quyền hành của cải lại chơi gái kiểu trác táng, dã man như thú vật vậy. Nhìn kỹ mới biết con bé là Giông còn có biệt hiệu là “Rá Sồng” vì cặp vú nó to như Rá sồng.
- Giời ơi là giời! Dán mắt vào đấy à! Thèm lắm phải không?
- Chẳng thèm!
- Chẳng thèm mà nhìn kỹ thế. Sao không tố cáo? Hay là để tội, sau này bắt nó cho tý. Em nói cho mà biết! Xí xớn là em cắt đấy.
- Ghen à! Anh không thiết. Gái làng này ai bằng em mà… Còn tố cáo ư? Tố thế nào? Kêu lên hay đưa ra đội sản xuất. Vô ích! Mà thương nó lắm cơ. Nó đã nhịn đói mấy ngày rồi. Chắc là chịu vậy để lão cho ít bột mì Liên Xô viện trợ hoặc đấu gạo. Năm ấy nhiều nhà đứt bữa. Đói! Đói lắm!
- Đói cũng không thể mất nhân cách được.
- Đói khổ quá đôi khi có người cũng tầm thường đi
Chi Thanh ứa nước mắt!...
Trớ trêu thay! Hai năm sau Tõ và lão Phó chủ nhiệm già lại ì ạch khiêng Rá Sồng đi cấp cứu. Ả to lắm. To như cánh phản nằm ngửa trên cáng. Mọi thứ của ả đều đồ sộ, nung núc. Khốn nạn cho lão Tõ! Khổ thân cho lão Tõ khiêng đằng sau cứ phải rụt cổ rùa mà nhìn vào cái chỗ ngã ba phủ mảnh vải trắng đẫm máu. Dân làng ai cũng khen hai cán bộ già đích thân khiêng cô gái trẻ to lớn, nặng nề đi viện. Có bà nói rõ thật to:
- Thế mới là cán bộ hết lòng vì dân chứ. Con bé thật có phúc. Có muốn làm nữa chúng em cho.
Rồi họ chí chóe đùa với nhau: “Sướng nhé! Bà thử rách như thế xem có được cán bộ khiêng không. Tốt nái vậy mà điếc. May đấy! Nó mà không điếc thì có thằng đeo mo vào mặt”. Tõ nghe thấy cả. Biết họ cạnh khóe, ám chỉ mình. Tức! Nhưng kệ! Dư luận vẫn chỉ là dư luận.
Chuyện là thế này. Hôm ấy, ả đang nhổ mạ thì máy bay Mỹ đến ném bom xuống làng. “Một thằng Mỹ” ( Bom ) lạc ra đồng rồi nhè cái răng ma mãnh vào chỗ ấy của nó mà cắn. Tõ vội lên ủy ban xin giấy giới thiệu là: “… Nguyễn Thị Mộng Giông… bị thương chỗ phạm do phục vụ chiến đấu…”. Lần này thì ông chủ tịch “ Ký Đại” trố mắt: “Rộng Mông nào? À! Mộng Giông! Tôi đọc nhịu. Tôi nghe nói nó nhổ mạ cho gia đình sao giấy giới thiệu lại ghi: Phục vụ chiến đấu”. Nhe cái miệng hầu ( khỉ ) lổng chổng răng, Tõ nhăn nhở cười, tay gãi đầu:
- Vâng! Thưa chủ tịch. Đúng là thế nhưng nhà nó nghèo quá nên viết vậy để bệnh viện quan tâm hơn và miễn tiền viện phí. Khệch khệch! – Lão có cái cười lợn hạch – Cũng là giúp người nghèo lúc hoạn nạn thôi mà.
- Ừ thì ký.
“Roẹt!” Rồi tờ giấy được “Trát” ngay tức khắc. Dấu đỏ như son. Với giấy giới thiệu này Giông được điều trị miễn phí. Cái tên Mộng Giông mà người ta hay nói nhịu hoặc cố ý là … Rộng Mông ấy có lịch sử của nó. Chẳng là, một hôm mẹ ả đang làm đồng bỗng cơn going nổi lên. Bà vội vàng chạy về nhưng vừa tới cổng thì “ục” một cái, con bé đã oe oe khóc trong đũng quần mẹ. Bố ả lấy ngay cơn giông đặt tên con: cái Giông. Sau mày chả biết ai xui ả đệm từ “Mộng” vào. Cái tên Mộng Giông là như vậy.
Rồi ả lấy chồng ở huyện bạn cách nhà hơn hai chục cây số, nhưng không có con. Bẵng đi một thời mới có tiếng xì xào đồn đại: Ả là thương binh loại 1, hưởng chế độ phụ cấp thương tật cao nhất, lại được thêm một suất lương cho người chăm sóc trong khi ả vẫn khỏe như trâu mộng. Không ra mặt trận mà trở thành người có công. Nhổ mạ cho gia đình bị thương mà trở thành thương binh nặng nhất. Kỳ lạ! Thì ra từ giấy giới thiệu của Tõ khi ả bị thương, anh em nhà chồng ả có người làm ở bệnh viện, thương binh xã hội huyện mô-ni-phê đạt hiệu quả cao như vậy. Việc này, tất nhiên là ả giữ kín, dân làng không ai biết. Mãi sau này, do thân tình, người em dâu của Mộng Giông kể lại cho chị Thanh cái bí mật giả dối ghê gớm kia. Kể xong chuyện này với chồng, chị Thanh thở dài:
- Toàn những kẻ giả dối thì sung sướng. Người trung thực, giỏi giang thì khổ. Vậy mà lúc nào anh cũng khuyên con: Phải trung thực! Phải học giỏi! Phải làm người tốt! Phải vươn lên! Lúc nào anh cũng nói: kẻ xấu, kẻ giả dối, kẻ gian tham, ngu dốt sẽ bị đào thải như những thứ cặn bã.
Lặng yên một lúc, chị giật tay chồng:
- Anh à! Hay là cứ xin chú Lâm làm bố nuôi của Tâm Lan đi. Chị Hoa, Rá Sồng và những kẻ như mình biết đấy, họ đều sung sướng cả, có ai bị đào thải đâu.
- Không! Tôi không làm.
Chị Thanh vùng vằng:
- Thì em làm vậy. Ngày mai em sang nói với chú ấy.
- Tôi cấm cô! Tôi không ngờ cô cũng tầm thường như họ. Chắc rằng vì chút lợi lộc nhỏ nào đó cô cũng làm cái việc như Rá Sồng để cho thằng Tõ già nó chơi à? Loại to mông rộng háng. Vậy mà tôi cứ tưởng cô có lòng tự trọng.
Bị xúc phạm nặng nề và bất ngờ, chi Thanh ôm mặt khóc. Khóc tu tu! Khóc hưng hức! Khóc thút thít! Nam đứng dậy quẳng chân bình bịch đi về phía bàn nước ném mông phịch xuống ghế. Anh rít một điếu thốc lào, nhả khói um, ho sặc sụa. Ngồi thừ một lúc anh lẩm bẩm:
- Đúng là hạng đàn bà! Thương kiểu ấy chỉ làm hại con. Giá tôi là thương binh thì vẫn bắt nó phải học, phải phát huy truyền thống của cha, tự vượt lên chứ không lấy cái danh của bố làm cái cầu để tiến thân. Đó mới là thương con đúng đắn. Cô cần thì coi như tôi đã chết và làm như bác Thoa ấy. Chắc chắn hơn thì sang lấy ngay chú ấy đi. Tôi bằng lòng.
Chị Thanh òa lên khóc vì bị sỉ nhục quá đáng:
- Thôi đi! Em lậy anh! Em sợ anh lắm rồi. Đừng nhiếc mắng em nữa. Hu hu! Sao mà tôi ngu thế.
Chiến tranh lạnh kéo dài hàng tuần. Nam giận mà không nói với vợ. Chị Thanh sợ chẳng dám nói với chồng. Đêm đêm họ vẫn nằm bên nhau nhưng không nói. Chị tấm tức khóc. Anh trằn trọc thở dài, thỉnh thoảng quăng mình trên giường thình thịch khiến chị sợ thót tim. Tâm Lan buồn nhưng cũng sợ, chẳng dám nói với cha mẹ. Nhìn mẹ buồn khổ, nó muốn khóc quá. Chiến tranh kéo dài thì nguy hiểm lắm. Chị quyết định vãn hồi hòa bình. Giả vờ mê ngủ, chị quờ quạng, ôm lấy chồng. Hơi ấm từ ngực chị lan tỏa trên lưng anh như làn nhân điện rung động trái tim . Có là gỗ lim cũng cháy. Có là sắt đá cũng chảy bởi lò lửa này. “Không được mềm lòng! Phải gan lì tướng quân! Kệ!” Anh tự nhủ bao giờ chị phải chủ động cầu xin mới thôi. Chị vẫn tấm tức khóc. Lúc này thì thương thật. Thằng đàn ông trong anh muốn quay lại ôm ấp, an ủi vợ. Nhưng thằng trí thức nông thôn kiêu hãnh lại thi gan. Cuộc chiến giữa cảm xúc mãnh liệt và ý chí cực đoan giằng co. Bỗng chị òa lên khóc. Khóc tu tu! Khóc cho hết lòng mình. Chị ôm riết lấy anh, chồm lên người anh mà hôn, vừa hôn vừa khóc. Nước mắt đầm đìa nóng hổi cả má và miệng – và ngực – và vai anh.
- Thôi mà! Em sai rồi! Em biết lỗi rồi! Em xin anh tha cho em đi. Đừng “tra tấn” em khốn khổ mãi.
Chị Thanh vừa nói vừa ghì chặt lấy anh. Ngực anh như bén lửa.: Lửa xuân giần giật cháy.
- Anh ơi! Anh nói đi. Đừng im lặng! Em sợ sự im lặng của anh lắm. Đừng giận em nữa. Con nó cũng khổ lắm rồi đấy. Hãy thương con! Yêu em đi!...
Tiếng khóc và nước mắt người vợ đã chảy được vào tim anh. Bỗng nhiên Nam thấy mình ác quá. Bấy giờ anh mới ôm chị vào lòng, vỗ nhẹ trên lưng:
- Ừ thì thương! Nhưng mà vẫn giận! Giận lắm! Bởi vì em đã xúc phạm tới tận cùng cái đạo lý ở đời. Chú Lâm ít hơn anh mấy tuổi, là người cùng xóm, không họ hàng gì nhưng anh em coi nhau như ruột thịt. Không một niềm vui nỗi buồn nào mà Lâm không cho anh biết đầu tiên. Nó đẹp trai, học giỏi. năm 1964 Lâm thi vào đại học y Hà Nội. Bao nhiêu thấp thỏm mong chờ. Bỗng một hôm, nó chạy sang, reo lên từ ngõ.
- Anh ơi! Trúng rồi! Em trúng rồi!
Anh ngơ ngác hỏi:
- Trúng sổ số à?
- Không! – Mừng quýnh lên, nó hớt hải – Không! Trúng rồi!
- Rõ khỉ! Trúng cái gì nói tao nghe.
Bấy giờ nó mới ngẩn tò te hỏi lại:
- Anh không biết à!
- Nỡm! Biết thì tao còn hỏi làm gì?
Lâm ngớ ra:
- À! Em trúng vào đại học y. Giấy báo đây này. Tháng nữa là nhập trường. Khao em đi!
Nó reo lên như con nít. Ngày hôm sau nó mượn xe anh đến nhà chào thày hiệu trưởng, cô giáo chủ nhiệm, các thày cô giáo khác và bạn bè. Đùng một cái, xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Giặc Mỹ tạo cớ leo thang bắn phá miền Bắc. Lâm sang nhà ta, vẻ mặt quan trọng, nó thì thào:
- Anh ơi! Em đi bộ đội. Anh giữ hộ giấy tờ nhập học này cho em nhé. Để ở nhà, sợ mẹ em sẽ đánh mất. Em trốn mẹ đi nhập ngũ. Anh không được nói với mẹ em đấy. Tới đơn vị em sẽ biên thư về báo cho mẹ em biết.
Buột miệng anh mắng Lâm:
- Dở hơi! Mày nghĩ kỹ chưa. Hay chỉ bồng bột nhất thời. Chiến trường đầy bom đạn, chết chóc chứ không phải chỗ dạo chơi cho tài tử đâu. Với lại ai thèm tuyển mày! Trói gà chẳng nổi. Nhóc con!
- Em nghĩ kỹ rồi! Nước có giặc, đánh giặc đã. Hết giặc về đi học chưa muộn. Em đánh giặc thay anh. Anh chăm sóc mẹ thay em. - Ngoắc tay, nó khoe – Gần đây có một đơn vị tân binh luyện tập cấp tốc để ra chiến trường. Em xin đi. Họ đồng ý rồi.
Say lên, nó còn nói như hát:
- Phù Đổng lên ba đã… Em đây thập lục, nhóc con sao?
Tự nhiên anh thấy ngượng với mình. Nếu không có chiến tranh, một thằng Lâm như thế sẽ là một bác sĩ tài ba, cứu chữa biết bao người thoát bệnh hiểm nghèo, đem lại hạnh phúc, nụ cười cho bao gia đình.
Giặc Mỹ! Chính giặc Mỹ! Chính những người từ đất nước có nữ thần tự do, đất nước của bản tuyên ngôn nhân quyền nổi tiếng, đất nước mà nhiều vị tổng thống từng lớn tiếng: Bảo vệ nhân quyền, chống bom hạt nhân, vũ khí giết người hàng loạt. Nhưng miệng nói hòa bình, tay vung binh lửa… Chính Mỹ đã ném bom nguyên tử lên đất Nhật, xua nửa triệu quân xâm lược Việt Nam và rải chất độc da cam giết hại hàng triệu người, để lại di hại lâu dài cho nhiều thế hệ con người và và môi trường sống. Trong đó có chú Lâm. Anh muốn băm vằm những tên tổng thống, tướng tá và lính Mỹ khát máu đó. Có lúc anh nghĩ: “Giá như chính bọn chúng què cụt chân tay, tàn phế suốt đời hoặc chết dần chết mòn như chú Lâm có lẽ chúng mới mở mắt ra tỉnh ngộ”. Trùm phát xít, chúa Nguyên Mông cũng không tàn bạo bằng những tên tổng thống Mỹ đó.
Giờ đây chú Lâm chỉ còn một dúm xương da, khô đét, lở loét. Đôi chân để đi. Đôi mắt để nhìn. Đôi tay để làm việc và yêu thương. Mỗi thứ mất một chiếc ngoài chiến trường. Có cách nào tìm được phần xương thịt đã mất để khi chết đi thu được nguyên dạng hình hài, xương cốt một con người. Không thể được! Ngàn đời dưới mộ sâu chú không được nguyên vẹn. Giặc Mỹ đã cướp mất sự sống, cướp luôn cả nòi giống, nối đời của chú. Xót xa lắm chứ! Đau đớn lắm chứ! Vậy mà những kẻ như chú Quảng, bác Thoa lại lợi dụng sự hi sinh to lớn của chú Lâm mưu lợi cho con mình. Họ là quỷ, không phải là người. Và em cũng định theo họ. Có hiểu tới tận cùng cái lẽ đời đó, em mới hiểu: Vì sao anh nổi nóng đùng đùng. Vì trong cõi sâu xa anh thấy em cũng giống họ, cũng ích kỷ. Anh nổi nóng như vậy để kéo em lại con người của chính mình.
Chị Thanh tức tưởi khóc:
- Anh ơi! Chồng của em ơi! Anh không phân tích kỹ, làm sao em hiểu được tận cùng nỗi khổ đau, sự cao cả của chú Lâm và lẽ sống làm người. Cảm ơn anh – người chồng – người thày đã cho em bài học làm người.
- Ừ! Vậy thì đừng bao giờ để con dựa dẫm, ỷ lại vào cha mẹ, ô dù hoặc làm điều giả dối để tiến thân nhé. Phải giáo dục con sống trung thực, có nghị lực, tự vươn lên và sống có ích cho đời.
*
* *

Được cha mẹ giáo dục chu chuẩn, Tâm Lan học giỏi. Tốt nghiệp cấp III loại ưu, Lan được sang Liên Xô học tập. Là sinh viên xuất sắc, Tâm Lan yêu rồi kết hôn với thày giáo trẻ người Nga. Sau này họ là giáo sư, viện sĩ công tác ở viện triết học Mác – Lênin. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Một số học giả phủ định Chủ nghĩa Mác, phủ định Chủ nghĩa xã hội. Vợ chồng viện sĩ cộng sản cho rằng: Đó chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do sai lầm của một số nhà lãnh đạo trong việc chuyển đổi chứ không phải là một tất yếu lịch sử. Nước Nga giờ đây như một con sư tử bị thương. Lũ sói, cáo cầy lợi dụng quấy rối nhằm hạ gục. Không! Con sư tử sẽ lành vết thương, trở lại dũng mãnh. Nước Nga vĩ đại về lãnh thổ sẽ hùng mạnh và vĩ đại về chính trị xã hội…
Hơn ba mươi năm xa tổ quốc, vợ chồng Tâm Lan quyết định về thăm gia đình, bè bạn, quê hương, kết hợp tìm hiểu thực tiễn sinh động của cuộc chuyển đổi thành công của đất nước để chứng minh cho quan điểm của mình. Cô gặp gỡ một số học giả, bạn bè, thăm một số làng quê, thành phố, trang trại, khu công nghiệp, các mô hình doanh nghiệp nhà nước, tư nhân trong chuyến đi xuyên Việt kỳ thú. Đó đây, còn dấu vết chiến tranh do giặc Mỹ để lại. Kinh khủng nhất! Đau thương nhất là những nạn nhân chất độc da cam. Nhưng đất nước đang trên đường thiên lý mã. Quê hương! Nơi đồng chua nước đọng, sáu tháng đi chân, sáu tháng đi tay, thường xuyên đói kém đang vươn lên thành một tỉnh công nông – lâm nghiệp hiện đại, dịch vụ và du lịch sôi động hấp dẫn. Tất nhiên cũng mất đi một số núi đẹp, dòng sông thơ mộng trong lành bị ô nhiễm và còn nhiều tệ nạn xã hội đau lòng. Sự thay đổi đó bắt đầu từ cuộc vận động xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phong trào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lớp cán bộ trẻ, năng động, nhiệt huyết, có học vấn cao, có trình độ khoa học kỹ thuật đang hình thành và phát triển. Họ đã và đang thay thế lớp cán bộ cha anh gánh vác mọi lĩnh vực của quê hương, đất nước. Cái xấu, cái giả dối đang bị tan rã. Lớp cán bộ cũ đã nghỉ do già yếu, không đủ năng lực hoặc thoái hóa biến chất bị kỷ luật.
Buồn thay! Mà cũng giận thay. Chị Hoa phải đi tù vì tham ô hàng tỷ đồng và bị lật tẩy về lý lịch giả mạo kéo theo bác Thoa cũng bị cách chức. Ông chủ tịch “Ký Đại” về vườn. Vì ký đại vào nhiều lý lịch, giấy tờ giả mạo như kiểu lý lịch chị Hoa. Vậy nên có người chỉ làm an ninh thôn một năm, khai là trưởng công an xã nhiều năm vào lý lịch đi thoát ly. Vậy nên chỉ đi coi kho mười một năm cũng được nghỉ hưu, lương cao. Rồi còn một số liệt sĩ giả, thương binh giả, huân chương giả gây nên sự suy bì, mất lòng tin trong dân. Ông ân hận lắm nhưng tác hại đã xảy ra và muộn rồi. Dân không căm ghét ông nhưng vừa giận vừa thương. Bây giờ ông mới nhận ra cách làm việc xuê xoa, đại khái, ký đại vào giấy tờ đã tác hại ghê gớm. Một số cán bộ xã, huyện do tham ô, lợi dụng làm sai chính sách cũng bị kỷ luật nghiêm khắc. Ông Láu, ông Giỏ bị cảnh cáo Đảng. Riêng ông Tõ đã chết ở trong tù vì ông nhiều tội lắm. Hồi làm phó chủ nhiệm đã lợi dụng cho mỗi đứa con rể một thổ đất rộng hơn cả nhà địa chủ ngày xưa. Phụ trách lò ngói đã tổ chức chặt trộm cây của Hợp tác xã lấy tiền nhậu nhẹt tập thể. Lò bị thua lỗ, xã viên làm ngói chán chường bỏ về tay không. Đặc biệt là hồi làm trưởng thôn đã thu hết tiền dân công ba quỹ nhưng lập danh sách là dân không nộp gửi về xã. Ồng chủ tịch ký đại tưởng thật cho vào hồ sơ lưu coi là thất thu. Khi bà chủ tịch mới lên, giao bản danh sách đó cho trưởng thôn mới yêu cầu phải thu. Hộ nào không nộp sẽ không được hưởng các quyền lợi của công dân. Trưởng thôn mời ông Tõ cùng các gia đình nợ đọng đối chứng. Tất cả các hộ khai là đã nộp cho ông Tõ. Kết quả, lão Tõ phải công nhận là biển thủ số tiền này khoảng 20 cây vàng. Sự việc vỡ lở. Ông bị kiểm điểm, xử lý nội bộ và phải nộp đủ số tiền đã biển thủ. Sẵn thói côn đồ, ngông cuồng, Tõ mạt sát Phó chủ tịch xã:
- Chúng bay đểu! Chúng bay tồi! Ngựa non háu đá. Lúc tao làm cán bộ mày còn trong háng mẹ. Không có chúng tao, mày có được như ngày hôm nay phỏng. Cạn tàu ráo máng! Không có tình người. Đã kỷ luật tao thì đừng hòng bắt tao nộp một đồng nữa.
Bực quá! Phó chủ tịch lên tiếng:
- Ông vội quên thế. Không có Đảng, cách mạng thì ông còn đi ăn, đi ở. Đảng cứu vớt ông, đưa ông làm cán bộ. Ngờ đâu ông lại biển lận của công. Ông không tự thấy xấu hổ à?
- À mày là bọn cường hào mới, nhiếc tao à! Chúng tao thuộc thành phần cơ bản, trong sạch. Mày mất lập trường giai cấp.
Rồi “đốp” một cái, Phó chủ tịch kêu rú lên. Thì ra vừa nói Tõ vừa vơ phích nước ném vào anh gây bỏng nặng ở cổ, ngực và vai. Sự việc kinh thiên động địa. Các ngành chức năng vào cuộc. Lão phải ra tòa, vào tù và chết trong trại giam.
Ngồi dưới trăng khuya nghe cha kể chuyện làng xóm, quê hương, Tâm Lan ngộ ra được nhiều điều. Thuở ấy! nghe mẹ nói: “họ làm cán bộ suốt đời”, Lan tưởng là sẽ như vậy. Không ngờ bây giờ mới thấy cha nói đúng: “Kẻ gian tà quỷ quái, ngu dốt sẽ bị quét sạch trước ánh bình minh”. Niềm tin là cái trừu tượng, triết lý khô cứng mà cha nói như thơ ấy.
Bây giờ cô giải thích được vì sao cha có niềm tin ấy. Và niền tin có sức mạnh thế nào. Cuộc đời có quy luật. Nắm được quy luật sẽ giải thích được bản chất của hiện tượng và sự vận động, phát triển của nó để thấy được sự tất yếu mà có niềm tin. Quãng thời gian qua quê cô như có “ vụ nổ hạt nhân” tạo nên phản ứng dây chuyền làm nên cơn bão chính trị xã hội quét sạch mây mù, rác rưởi trên đường đi của nó. Những cái xấu, cái gian tà tưởng rối rắm, phức tạp, cố kết vững chắc không thể gỡ bỗng bung ra. Chỉ cần bắn vào nút chính cho bật ra. Nút này lôi nút khác, cứ thế bung ra.
*
* *

Trên máy bay trở về quê hương chồng – nước Nga xa xôi, Tâm Lan nhớ tớ lời Bác Hồ dạy từ thời còn học ở phổ thông: “Muốn có Chủ nghĩa xã hội phải có con người Xã hội chủ nghĩa”. Cô thầm cảm phục, biết ơn cha mẹ, quê hương , đất nước đã để lại cho mình một bài học quý báu: Niềm Tin!


Đầu trang
  
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 19 bài viết ] 


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Chuyển đến:  
News News Site map Site map SitemapIndex SitemapIndex RSS Feed RSS Feed Channel list Channel list
Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ
Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
[ Time : 2.016s | 77 Queries | GZIP : Off ]